TÂY TIẾN (424)

Bl(424)TTTB@ No115

Đăng tải tại Uncategorized | Để lại phản hồi

TÂY TIẾN (423)

Bl(423) TTTB@ No114

 

Đăng tải tại Uncategorized | Để lại phản hồi

CÁ VỊ LA HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG

Bl(422) TTTB@ No113

DẠO ĐẦU TTTB@ No113
                      TMCS


LAN MAN : NGỮ VÀ TỪ TIẾNG VIỆT TRONG THƠ.

Đây là cả một v/đ cực kì phức tạp. Chỉ riêng về chủ ngữ và chủ ngữ ẩn  (Sujet et sujet sous-entendu) , Hoài Thanh đã phải viết hẳn một cuốn chuyên đề : Đi tìm chủ ngữ trong truyện Kiều. Huống hồ còn bao nhiêu “ngữ” khác, cộng với đặc điểm tự dạng các loại từ trong tiếng Việt không thay đổi, như “buồn” là danh từ hay “buồn” là tính từ, trạng từ cũng viết như nhau cả …( Td : Buồn trông cửa bể chiều hôm…ta nhận ra “buồn “ không phải là danh từ, tính từ  mà là trạng từ (adv) vì ngữ nghĩa của nó để  “phục vụ” cho động từ “trông”, nhưng với người nước ngoài thì không đơn giản như vậy, họ cứ phải căn cứ tự dạng .Với họ phải viết / nói rõ ràng : She sadly watched estuary at the nightfall…(Nàng buồn rầu nhìn cửa biển lúc chiều hôm). Chỉ có sadly mới dùng ở đây được: một cách buồn rầu + verb, còn sadness: nỗi buồn ( danh từ) , hay sad (adj) là để cho các trường hợp khác… Giữa các từ cũng không chịu sự chi phối lẫn nhau về số ít số nhiều và giống đực giống cái… như một số ngôn ngữ khác, khiến việc nhận định chức năng của từ  trong mệnh đề (gọi là ngữ của từ) đôi khi rất khó. Đặc biệt là đại từ nhân xưng thì người nước ngoài mới học tiếng Việt thường phải “siêu hồn bạt vía”…ngay trong văn nói, văn xuôi chứ đừng nói trong thơ !

Chỉ riêng bài Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính, ngay người đọc VN cũng có những cảm nhận khác nhau về các từ chị, em…khi nào ở ngôi thứ nhất ( tự xưng), khi nào  là từ đối thoại ở ngôi thứ hai hoặc thứ ba…

Ấy là chưa nói đến các thanh của tiếng Việt….có dùng hết bảy nốt nhạc, cả “dièse” (thăng) , “bémol” (giáng)… cũng chẳng ghi đúng được…các nhà VN học người nước ngoài sau bao năm  học Việt ngữ  vẫn còn thất kinh ! Nhưng khi nắm vững ngôn ngữ Việt rồi (  posséder la langue Vietnamienne) thì lại rất thích thú, Một vị cha cố  Portugais (Bồ đào nha) có năng khiếu về ngôn ngữ , sau khi học tiếng Việt khá sõi ,đến mức soạn được từ điển  Việt- Bồ – La đã viết trong Lời mở đầu : Khi nói tiếng Việt, ta cảm thấy như có mật ong trong miệng ! TMCS rất thú vị và tự hào khi đọc câu đó bằng tiếng Bồ chập choeng buổi đầu của mình !!!  Với TMCS, những câu Kiều, câu ca dao, cả thơ cũ (Thanh Quan, Nguyễn Khuyến…) cả thơ mới (Nguyễn Bính, Quang Dũng…), đều hàm chứa  chất mật ong siêu hạng ấy, nó vừa ngọt vừa bổ thượng hạng… đã nuôi dưỡng tâm hồn Việt suốt bao đời, từ thế hệ này sang thế hệ khác…Ai đó có học thêm bao nhiêu thứ ngoại ngữ cũng không  thể bao giờ được nếm  thứ mật ngọt giống như của tiếng mẹ đẻ VN !!!  Thiếu độ nhạy với vị ngọt ấy thì thiệt thòi, mất mát nhiều lắm lắm khi đọc những câu thơ Việt !

Tất cả những thứ linh tinh lang tang…TMCS vừa kể lể trên – chắc chắn là chưa  kể hết – đã ùa vào tạo nên những độc đáo của ngôn ngữ Việt, chính những nét độc đáo, tinh vi, tế nhị này  của ngôn ngữ Việt đã  làm cho câu thơ Việt mờ mờ ảo ảo, chập chờn bay bổng, lung linh… đôi khi khó hiểu với cả người đọc VN, nhưng cũng  làm cho câu thơ Việt được thi vị hoá…lên rất rất nhiều ! 

Đọc và thưởng thức thơ Việt, xin đừng tưởng tách bạch rạch ròi , chẻ hoe trần trụi …là chính xác , là khoa học, đấy là cách loại bỏ thi vị của thơ Việt trắng trợn nhất ! 

Mất đi mấy đặc điểm ngôn ngữ kể trên thì thơ Việt chẳng còn là thơ Việt nữa !


TMCS còn nhớ hồi dạy thêm tiếng Việt cho sinh viên nước ngoài. Có hôm một học viên đã kể : Kí túc xá bọn em nhiều chuột quá, đêm nào “họ” cũng chạy, nhảy ầm ầm trên cầu thang…Thoạt nghe chỉ buồn cười, ngẫm nghĩ kĩ, TMCS thấy phục tổ tiên minh quá ! các cụ sáng tạo ra hệ thống “đại từ nhân xưng “ (pronom personnel) tuyệt vời “ông mặt trời “, chắc là có một không hai trên quả đất này ! 

…Mà đâu chỉ có những sinh viên , cả những ông Tây , bà Đầm nghiên cứu tiếng Việt già nửa đời người vẫn hoang mang khi …đọc thơ Việt. Họ băn khoăn: không biết còn phải học bao năm nữa mới hiêu thấu đáo những câu thơ Việt…

Có chuyện  rằng:
Một chuyên gia VN học  người phương Tây đã dịch hai câu :

Đường mây cười tớ ham rong ruổi
Trướng liễu thương ai chịu lạnh lùng

ra  tiếng bản ngữ của mình, đại ý câu dịch  là :
 
Con đường công danh cười tớ mải mê đi
Cái  rèm che phòng ngủ cười ai đó nằm cô đơn

Một Việt kiều đã góp ý: dịch thế là hiểu chưa đúng , vì tác giả muốn nói rằng:

Đằng ấy ( chủ ngữ ẩn : chỉ người vợ ở nhà ) cười tớ rong ruổi trên con đường công danh.
Tớ (chủ ngữ ẩn: chỉ người chồng) thương đằng ấy nằm cô đơn trong phòng ngủ ở nhà.

(Hai câu này  nằm trong bài “Kí nội” (Gửi vợ) của Phan Thanh Giản -1796-1867- vị tiến sĩ đầu tiên của đất Bến Tre mà cuộc đời là một bi kịch 

“Từ thuở vương xe mối chỉ hồng,
Lòng này ghi tạc có non sông.
Đường mây cười tớ ham giong ruổi,
Trướng liễu thương ai chịu lạnh lùng.
Ân nước nợ trai đành nỗi bận
Cha già nhà khó cậy nhau cùng.
Mấy lời dặn bảo cơn lâm biệt,
Rằng nhớ rằng quên lòng hỡi lòng!” ) .


Sau này, trong một dịp đến Vn dự hội thảo, nhà VN học nọ gặp một G/s VN, vị này đã giải thích:

Trường hợp này không có đúng, sai. Tác giả viết như thế cũng đã ngầm cho phép chúng ta hiểu theo nhiều cách. Đó là đặc điểm của ngôn ngữ thơ Việt: Dịch theo cách  ông đã dịch là theo kiểu nhân hoá (personnifier), còn hiểu theo cách sau như người bạn Việt kiều của ông góp ý, ấy là hiểu theo cách chủ ngữ ẩn (sujet sous-entendu). Thơ Việt cũng rộng mở như tâm hồn Việt : không hạn chế cách hiểu nào cả…Nhưng hiểu thế nào cho hay, cho nghệ thuật là chuyện rất mênh mông , trừu tượng. Vì thưởng thức thơ cũng là một nghệ thuật…

Theo TMCS, nếu ý kiến vị G/s là xác đáng, thế thì DỊCH thơ phải là Nghệ thuật của Nghệ thuật !!!

Đấy là nghệ thuật chơi ” chủ ngữ “ của bậc thượng lưu, chữ nghĩa bề bề, dân gian cũng đâu  kém cạnh :

Ai ơi, chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải , ăn no lại nằm .

Thật tài tình, tế nhị. Đố “ai” dám thay bằng chủ ngữ khác, td: Em ơi, Nàng ơi.. sẽ chả cô gái nào đọc, hoặc nghe thấy là “chạm nọc” bỏ ngoài tai ngay !… Còn dịch ra Ăng-lê, Frăng- xe thì coi chừng, nếu dùng WHO, QUI…thì hỏng bét cả !

TMCS đã gọi đây là các cách “CẢM” khác nhau, thiên hình vạn trạng, khó nói chuyện đúng sai….Ai quả quyết thế này đúng, thế nọ sai, đều là chủ quan và có phần  vì chưa hiểu thấu đáo ngôn ngữ thơ Việt…


Xin điểm qua ít thí dụ và vài  “ca” tồn đọng về từ và ngữ trong thơ Việt của TMCS để quý vị tham khảo và giúp đỡ :…



TMCS chợt nhớ lại các cách dịch khác nhau câu:
 
TÂY TIẾN (thơ Quang Dũng)
 
Sông Mã xa rồi, Tây tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
….

“Nhớ về rừng núi , nhớ chơi vơi” là câu thứ hai trong bài thơ Tây tiến của Quang Dũng. Từ “chơi vơi” bàn nhiều rồi, gác lại, chỉ đặt v//d : chủ thể của NHỚ ?  Ở đây có thể xét dưới các góc độ :

Ai nhớ ? hoặc  Nỗi nhớ của ai ?…
 Vấn đề hiểu dưới góc độ nào thì thực chất vẫn là  tác giả nhớ hay  nỗi nhớ của tác giả.

 AI NHỚ…? – Đây cũng lại là một trường hợp “sous-entendu”– Ai cũng biết là tác giả nhớ, nhưng chỉ khi chủ ngữ / chủ thể phải được viết ra mới  công khai chẻ hoe là ai  nhớ. Đằng này, tác giả nguyên là một tú tài trường Bưởi, có thừa hiểu biết về cấu trúc cơ bản của một mệnh đề, đã cố tình dấu cái Tôi đi, cho thi vị  hoá và nhường cho độc giả cái quyền được nghĩ là  AI NHỚ …Nếu ai đó khi dịch mà “khờ khạo” chưng cái TÔI NHỚ ra thì ôi thôi, công dấu diếm của tác giả là CÔNG CỐC ! Trong ngôn ngữ nhiều nước, viết như trên bị coi là “phrase boiteuse” câu què, câu cụt, câu khập khiễng, câu tập tễnh… ! Nhưng câu thơ Việt  phải viết như QD mới HAY, mới có THI VỊ, chứ lồ lộ cái TÔI ra thì có mà thành  … thơ Tẩy, thơ Tây, không mảy may hấp dẫn ! nghe nhạt phèo…

Khi dịch thơ ta ra thơ Tây có hai thủ pháp: viết “chẻ hoe” như Tây, người Tây sẽ không có cảm giác thú vị như được thưởng thức món ăn lạ, dấu đi cái Tôi mà vẫn nói được cái Tôi- theo đúng ngữ pháp của tây- mới đem lại cho bạn đọc Tây cái thú đọc thơ Việt  
Tất nhiên, khi dịch thơ ta ra thơ Tây, ta phải dấu chủ ngữ /chủ thể theo kiểu tây chứ không thể viết câu què, câu khập khiễng được…

Chả thế mà đã có ba cách dịch :

Dịch giả TPN :  En moi….: gián tiếp  nêu ra là TÔI nhớ. Dấu
                                             được  cái Tôi chủ ngữ – vẫn hơi lộ.
Dịch giả PHM :  On *….       :  nghĩa chung là người ta, nhưng ở             
                                              trong câu trên phải ngầm hiểu là Tôi 
                                               hoặc Chúng tôi. Rất ý nhị !!!
TMCS:    bản Anh, Pháp :   Nous, We   Chúng tôi (dấu cái Tôi đi)
                                              Trong tiếng Anh, tương đương với    
                                              “On” là “They”, nhưng “They”  ko
                                              hàm ý Tôi, nên chỉ dùng được We .

                     bản Hán         : chủ ngữ ẩn (đúng như nguyên tác)

(* On: Pronom indéfini : đại từ bất định.
Trường hợp “lấp lửng “ này , theo TMCS nếu là bản dịch Pháp ngữ  thì dùng “On” như  dịch giả PHM   là “ĐẮT” nhất, vì đã dấu được cái Tôi, đúng như  “CẢM” của đa số công chúng Thơ VN…mà ai cũng vẫn hiểu là có Tôi! ( trong câu của PHM, có thể hiểu: On = Nous = mes compagnons d’arme + moi—-> nous… thậm chí —-> Je… ! – xem trích dẫn giáo trình Pháp ngữ bên dưới)
 
Chỉ có ông Tây  bà Đầm mới dịch lồ lộ là  Je pense à hoặc I think of…đành rằng thực tế là QD nhớ, nhưng dùng CHỦ NGỮ ẨN là cách “cảm” VN nhất, rất thuần Việt, không bị lai căng theo ngữ pháp và tư duy kiểu Tây ! PHM và TMCS có cái lí cho sự CẢM của mình, TPN đưa ra En moi… cũng còn “kín đáo “ hơn dùng lồ lộ Je me souvienne…Ở đây không hề có chuyện thế này SAI , thế kia ĐÚNG… Trong THƠ – bao gồm cả thơ dịch- thì CẢM là quan trọng nhất, thiếu CẢM thì mất hết sạch cả THI VỊ…Thành thử nhiều khi dịch ĐÚNG mà thiếu CẢM thì cũng gần như vô tích sự !!!

Nhân gặp từ “ON” trong bản dịch của dịch giả PHM, TMCS đã “cất công” xem lại giáo trình hồi còn dạy  Pháp ngữ đương đại- về từ “ON”- cho các cháu đi du học . Có cả một chương dài, nhưng để đáp ứng y/c của một lò “luyện thi” khi ấy, “nguyên chủ lò” TMCSchỉ tóm tắt như bên dưới . Nay điểm lại cũng chỉ để thấy rõ thêm rằng : không chỉ  trong thơ Quang Dũng nói riêng hay trong ngôn ngữ Việt nói chung mà  ngôn ngữ nước khác cũng có nhu cầu và khả năng DẤU chủ ngữ “thực” bằng cách dùng một “chủ ngữ hình thức” thay thế kín đáo và tế nhị hơn. Đó là một nhu cầu có thật trong giao tiếp thực tế cũng như trong văn chương, thơ phú. Đối với Pháp ngữ , đó là đại từ bất định “ON” mà dịch giả PHM đã vận dụng rất hay khi dịch chủ ngữ của Nhớ chơi vơi. Xin tóm lược mấy nét cơ bản về từ “ON” như sau:

Différents emplois du pronom indéfini ON. (NHỮNG ỨNG DỤNG KHÁC NHAU CỦA ĐẠI TỪ BẤT ĐỊNH ON)

Aspects à considérer:
ON : pronom indéfini, est toujours sujet de la phrase.

Il a 4 significations principales. Từ ON có bốn nghĩa chính.
Attention! ce pronom peut avoir d’autres significations* (Những nghĩa KHÁC của ON : xem dưới) mais, cette unité présente exclusivement les principales. Ở đây chỉ nêu bốn nghĩa chính như sau :

Les significations de “on” (Bốn nghĩa cơ bản của ON)
Exemples
1.- On= Une ou plusieurs personnes indéterminées.
On frappe à la porte.
= quelqu’un ou plusieurs personnes non connues du locuteur.
2.- On= Nous (langue familière).
Lui et moi, on va chanter en duo.
3.- On= Les gens.
Dans son village, on croit encore aux légendes.
4.- On= Tout le monde.
C’est l’effet de généralisation que l’on trouve dans les maximes, les dictons, les proverbes et toute la phraséologie à valeur de vérité générale.
On doit respecter ses parents.

* On est toujours sujet de la phrase.
* Le verbe se conjugue à la 3ème personne du singulier.
* Lorsqu’il est facile de déterminer de façon précise que l’on parle d’une femme ou de plusieurs personnes, on est alors suivi du féminin ou du pluriel.
Exemples:
On devient patiente, quand on devient maman.
On est prêtes, mesdemoiselles?
On est allés tous les quatre au cinéma.
* Étymologiquement on signifie homme (du latin homo), ce mot latin “homo” a évolué de la façon suivante: hom, om, on. Ce pronom existe aussi en catalan, c’est le pronom “hom” dont il est facile de voir sa racine latine “homo”.
  • Et comme le nom “homme” (son origine), le pronom on peut aussi prendre l’article l’ (l’homme, l’on) après certains mots : et, ou, où, qui, que, si.

Exemple:
Où l’on va?
À qui l’on va donner ces documents?
Si l’on part ce soir, on arrivera demain à 7 heures.
NHỮNG NGHĨA KHÁC CỦA ON ( LES AUTRES SIGNIFICATIONS)
*Trong  Pháp ngữ , cả xưa và nay, đều có thể tìm ra nhiều thí dụ về ON  có thể ẩn ý “Je”, “nous”,”tu”,”vous”,”ngôi 3 xác định”
(…Parfoir la génération évoquée par l’énoncé s’opère à partir de cas particuliers qui peuvent transparaitre si nettement que l’on reconnait derrière ON un ”je”, un ”nous”, un “tu” ou un ”vous”, une 3e personne déterminée.

Quả là PHM đã rất tế nhị khi dùng ON để Q.DŨNG khỏi phải trực tiếp lộ diện TÔI NHỚ CHƠI VƠI ! hoặc nỗi nhớ chơi vơi của TÔI.
 
Thực tình TMCS không dám múa rìu dưới mắt chư sư huynh sư phụ, mà chỉ muốn chứng minh, ngôn ngữ thơ nước nào cũng có những cách dùng chủ ngữ rất tế nhị. Trong vệc dịch câu thơ trên của QD, PHM  đã đưa ra một thí dụ khá điển hình ! TTTB@ không đề cao riêng cách dịch của vị nào cả, CHỦ YẾU là TMCS muốn chư vị độc giả nước ngoài khi đọc đến đây thấy rõ sự tinh tế riêng của PHM khi dịch câu thơ trên của QD chỉ là một phản ảnh về sự tinh tế chung của ngôn ngữ thơ Việt, trong đó có thơ QD. Mong muốn người năm châu bốn biển thấy được cái HAY cái ĐẸP của thơ Việt và Ngôn ngữ Việt vốn là chả có gì khác ngoài sở nguyện chính của TMCS gửi gắm trên TTTB@…

Xin nhắc lại : đây chỉ là “tủ” giúp các em h/s luyện thi trong thời gian ngắn, nên TMCS chỉ nêu vắn tắt, chi tiết  đã có trong giáo trình đầy đủ hơn nhiều…

Nhiều giáo  trình mới hơn vẫn nhắc lại những nội dung trên, nhưng thí dụ thường mới mẻ và sát với cuộc sống đương đại hơn

Bây giờ xem lại cẩm nang, bảo bối “luyện thi” truyền đạt cho môn sinh ngày ấy , liên hệ mấy bản dịch của các vị dịch giả cao niên TMCS mới thấm thía rằng: quả là các vị dịch giả cao niên ở nhà có KUNG-FU Pháp ngữ CƠ BẢN quá ư thâm hậu ! 
Hèn nào, TTTB@ nhận được rất nhiều “LIKE” (bình luận gọn : Thich) của bạn đọc từ khối cộng đồng Pháp ngữ rải rác các châu lục Âu Mỹ, Phi…

Trong số môn sinh của TMCS có mấy em đã xây dựng gia đinh ( có em lấy vợ, có em lấy chồng) ở Pháp với người bản địa, hàng ngày con cái các em đã cắp sách đến trường học các môn toàn bằng tiếng Pháp, Pháp ngữ của các em h/s ngày ấy giờ đây trong sinh hoạt thường ngày  đã “liến thoắng” hơn cả TMCS- cảm nhận qua các cuộc đàm thoại bằng phone giữa thày với các trò – nhưng chắc chắn cũng như thày TMCS của các em, chả bao giờ các em vươn được tới trình độ thâm hậu như các bậc cao niên ở nhà (tầm cỡ TPN, NC, PHM…) vì các em đều bận túi bụi  vào KHCN hiện đại, Pháp ngữ của các em ngoài lãnh vực chuyên môn ra, cũng chỉ là”bẻm mép” giao tiếp để xách giỏ khua khoắng chợ búa, siêu thị như “thày đồ” TMCS, chứ ko viết lách, thơ thẩn được. Hơn nữa, cuộc mưu sinh của các em nơi xứ người không hề đơn giản, làm việc lơ mơ là các em “thất nghiệp” ngay, nên có lẽ cũng phải về hưu các em mới có đ/k  rảnh rang “ôn lại” sự đời gắn với  văn chương như thày TMCS Khốt-ta-bít…( đến nay vẫn thường “mít tịt” về  lãnh vực ngôn ngữ “kinh viện” (académique) nhưng khá “xạo” và “thiện chiến” về ngôn ngữ “nhí nhố  phố phường”, kiểu “dân dã, bã đậu”…để tồn tại được trong môi trường khắc nghiệt,  bèo giạt mây trôi giữa nơi quê người đất khách…)

Chính do những đặc điểm “lắt léo” trên mà đến nay có nhiều bài thơ Việt rất hay nhưng chỉ vì “tắc” ở một từ, một ngữ nào đó trong khi dịch mà TMCS đành phải “om” lại để suy nghĩ thêm trước khi post  lên mạng i-tờ-nét !

Ngoài trường hợp từ “chơi vơi”, “đêm hơi” trong bài Tây tiến, đã tạm được ”manh bạo” g/q , TMCS còn đọng lại khá nhiều tình huống “éo le”  vẫn đang “ngắc ngoải”…  Thí dụ :

Trong bài : Đôi mắt người Sơn Tây” (cũng của Quang Dũng) :

Từ độ thu về hoang bóng giặc 
Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn 
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ 
Em có bao giờ lệ chứa chan 

Cả tám khổ thơ “lừng danh” của QD đươc TMCS dịch ào ào, nhưng đành khoanh tay trước một từ “hoang” – Thế nào là “hoang” bóng giặc ? TMCS đã nghĩ đến hoang dại, hoang vu… cả chó hoang, mèo hoang… đi hoang (chi kẻ sống không nghiêm túc…)…nhưng cứ đắn đo mãi với cụm từ “hoang bóng giặc”.

Phải chăng ý QD là : từ mùa thu ấy, quân giặc kéo đến một cách hoang dại, dã man ( ? ), nói cách khác: Mùa thu ấy, lũ giặc man rợ đã tràn đến…

Tiếp đó là bài “Đôi bờ” cũng là tác phẩm lừng danh trong ba bài “tủ” của QD – TMCS tắc tịt ở câu :
….
Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
Bên này em có nhớ bên kia
Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến
Hiu hắt chiều sông lạnh bến Tề

….
Xa quá rồi em người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào ?

Ở khổ trên , câu cuối ngụ ý gì, có sự tích nào về cái bến tận nước Tề từ thuở xa xưa mà QD vận dụng vào đây trong cuộc chiến chống thực dân Pháp . Tất nhiên, cứ dịch ào ào máy móc thì cũng chả ai bắt bẻ được, nhưng không rõ ngọn ngành thì TMCS vẫn không “thoải mái” tẹo nào, nên chưa post !

Ở khổ dưới cũng có chuyện “rất rắc rối”:

Bên này đất nước nhớ thương nhau. Hiểu thế nào cho đúng ý tác giả và để cho câu thơ dịch có hồn, không phải chuyện đơn giản …

Liệu có phải: Ở bên này bờ sông, đất và nước nhớ thương nhau ! nghe chả logich tẹo nào ! Sông có hai bờ, bờ nào chả có đất và nước, sao lại chỉ bờ này đất nước nhớ thương nhau!Ở khổ trên, ta đã thấy mỗi người ở một bờ khác nhau rồi.
Ờ, sao đất và nước lại biết nhớ thương nhau, cùng vô tri cả mà !

Bóp trán nghĩ mãi , lại ra một cách hiểu khác:

Ở bờ sông bên này của đât nước, người nọ nhớ thương người bên kia. 

Thừ người một hồi, lại thấy ngớ ngẩn: Bờ nào mà chả là của cùng một đất nước…Chẳng hạn,  sao không viết  Ở hai bờ  cùng một dòng sông mà chỉ nhớ nhau,  không gặp được nhau…Càng nghĩ càng quẩn, cứ rối tinh rối mù, ù ù cạc cạc,  linh tinh xoè, dịch xong đọc lên nghe vô lí đùng đùng,  cuối cùng đành xếp lại nghĩ sau…

TMCS đã đoán mò có lẽ đành gượng hiểu là:

Ở bên này sông, ta nhớ đến nhau ở bờ kia như đất và  nước nhớ nhau  (?) 

Một mình mở băng, nghe Bùi Phương Thảo con gái Quang Dũng đọc thơ cha, thấy hay quá, nhất là khi cô ấy hát bài Đôi mắt người Sơn Tây của người cha mình được phổ nhạc, cảm động quá… thấy lòng nao nao…nhưng tất cả chưa giúp TMCS gỡ nổi mấy chỗ tắc tị trên ! Làm sao mà hỏi xem cô ấy nghĩ thế nào về mấy chỗ khúc mắc trên…

Chợt TMCS lại lan man: Đọc thơ thì cái CẢM là chính ! TMCS được nghe trong cuộc hội thảo thơ QD : “Thơ QD lay động cả sĩ quan và binh lính VN cộng hoà ! Thông thường thì những người phía bên kia khó chấp nhận thơ CM. Nhưng thơ QD – đặc biệt là bài Tây tiến – là một lệ ngoại. Các chiến sĩ Giải phóng đã thu đuợc “Tây tiến” trong hành trang của sĩ quan và lính VNCH !…Mấy tờ báo đa ngữ ở Mỹ và Pháp đã đăng bài Tây tiến dịch sang thơ Ăng-lê của ĐTP và được rất nhiều lời tán thưởng… Hoá ra thơ đã hay, đã vào đáy lòng người thì hồi xưa, người bên kia chiến tuyến cũng “mê’, quên cả chuyện cảnh giác với Thơ của… Vi xi (VC)… và ngày nay,  người năm châu bốn biển xa xôi mấy, cũng đem lòng ngưỡng mộ…

Hôm trước nghe tin Việt Phương từ trần, TMCS trong lòng cảm thương vô hạn, một mình trong thư phòng ê a ngâm bài “Ơi, cuộc đời yêu như vợ của ta ơi !”, và nổi hứng dịch ào ào như thác lũ… nhưng rồi khựng lại…cuối cùng đành nhảy cóc một chỗ , mặc dù đã vừa băng qua một đoạn đầy hào hứng :

Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa
Trong hàng ngũ ta chỉ có chỗ của yêu thương
Đã chọn đường đi, chẳng ai dừng ở giữa
Mạc Tư Khoa còn hơn cả thiên đường.
Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ
Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ
Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao
Một phần tư thế kỷ đã qua đi và có lẽ bây giờ ta đã biết
Thế nào là yêu thương, thế nào là chém giết,
 
nhưng đến đoạn sau :

Ta đã trả giá đau và ta đã học nhìn.
Ta đã gặp những điều không hề chờ gặp
Nào đâu phải chỉ là rắn phục giữa vườn hoa
Những kẻ tốt đến yếu mềm chỉ là đồ giẻ rách
Rắn còn nằm cuộn khúc giữa lòng ta
Ta suy nghĩ 8000 đêm đánh giặc
Nghiền tâm tư cùng những hạt ngô bung
Giữa đạn bom ta lọc ra hạnh phúc

Câu : “Nghiền tâm tư cùng những hạt ngô bung” phải được hiểu như thế nào mới dám dịch. Phải nhớ lại những ngay ta ăn độn ngô, khoai…vì không đủ gạo…nhưng trước hết “ngô bung” là  gì. Xin mời quý vị xem ảnh và đọc mấy câu sau, để thấy TMCS tôn trọng từ “ngô bung” của VP trong câu thơ như thế nào?
ngô bung
“…Nhiều người thắc mắc ngô bung thì có gì thú vị, chỉ bỏ ngô vào nồi và đun. Nhưng thật ra bung ngô cả là một quá trình. Ngô được bung phải chọn ngô nếp vừa thơm vừa trắng muốt. Đầu tiên bóc những hạt ngô căng tròn từ quả ra, sau đó cho vào luộc chín với một ít nước vôi trong để hạt ngô tự bong vảy và giòn hơn…”…
 
Ta cần hiểu ngô bung hồi “bao cấp” tem phiếu ko phải để ăn chơi kiểu cách như trên mà để ăn thay phần gạo thiếu là chính.

Nhưng câu thơ trên phải hiểu thế nào?

-Đem tâm tư của mình làm cho chín nhừ cùng với ngô bung ư? Tiếng Việt chả có từ “nghĩ cho chín” đấy ư!
Dịch thế là máy móc “mot à mot”, anh Tây chị Đầm làm sao hiểu được ! Bí quá, xoay xở ngang dọc mãi TMCS cũng chỉ mới dám sơ sơ tạm dịch để đấy rồi nhảy cóc, sau này quay lại “nghiền “ thêm may ra mới dám lên i-tờ-nét…Khổ thế đấy, khó hơn trói con voi to bỏ cái  rọ nhỏ !

Chúng ta nghiền (ngẫm) những vấn đề to lớn cùng lúc  với ( phải ăn) những hạt ngô bung (hầm chín), Thật là vất vả cho  đầu óc, tâm chí chúng ta.

( We crush the big problems at the same time
With the stewed corn grains,
It’s so hard to our mind and brains )

Có vần có nhịp hẳn hoi, nhưng ý  và tứ chắc chưa đâu vào đâu , nhưng tạm đành vậy, vẫn chẳng biết cụ cựa thế nào…Đại ý là nói trong lúc cuộc sống còn vô cùng  thiếu thốn gian khổ về vật chất ( đến cơm gạo còn chưa đủ ăn), nhưng về tinh thần ta vẫn phải vắt óc suy ngẫm, giải quyết nhiều v/đ lớn của thời đại !Dù sao anh Tây chị Đầm đọc thế này MAY RA còn dễ đoán hơn dịch “mot à mot”, chẳng ra ngô ra khoai…gì. TMCS có nỗi lo lắng đến khổ tâm là dịch ra mà bạn đọc tây đầm không hiểu thì sao mà họ CẢM được chỗ hay của thơ Việt (bạn đọc Vn thì chả mấy quan tâm đến hay dở trong bản dịch của TMCS, họ “ xài” nguyên tác  “ nhoằng cái là xong béng “)-Chợt TMCS loé ra ý: đi hỏi anh tây chị đầm…trước hết là nhờ đứa cháu ngoại đem bản dịch vào “Lab” hỏi các bạn NCSinh và giáo sư…của nó…Họ toàn là tây đầm, Ăng-lê – khỏi phải nói – hẳn là như vũ như bão…Đem mấy câu dịch “ấm ớ” trên của TMCS đến hỏi họ, có khác nào quăng vào chính giữa “tâm bão, mắt bão” !

Vừa vặn lúc ấy… chợt có tiếng còi ô tô quen thuộc của cháu ngoại “bip bip…” dài ngắn tạch tè theo tín hiệu morse là “chữ  O” (open : mở) dục ông mở cửa, TMCS ra đón cháu từ “Lebờ” ( Lab = laboratory) (Phòng thí nghiệm) về, đưa cháu xem bài Ăng-lê dịch thơ của Việt Phương và nói sơ sơ về VP cho cháu mình nghe…Ôi ! hoá ra cháu tôi cơ bản hiểu hết từ đầu đến cuối bản dịch Ăng-lê của ông, dù chưa sửa sang chi cả, nó  “cười” ngặt nghẽo về chuyện đồng hồ LXô và TSĩ, cũng như chuyện trăng nước Tàu và trăng nước Mỹ…TMCS bèn đưa cho nó xem nguyên tác tiếng Việt , nó hỏi sao “ ngô bung” ông không dịch là “popcorn”, vì những hạt ngô rang ấy, cháu thấy  bán ở Hà nội, cũng nở bung ra… TMCS liền cho nó xem cái ảnh đĩa ngô bung và cách làm món ngô bung (như bên trên)… Nó học thêm một nghĩa nữa  của từ “bung” trong tiếng Việt… Nhưng “Nghiền tâm tư cùng với hạt ngô bung “ thì cháu tôi vẫn  thấy khó mường tượng, và không biết cách dịch của ông liệu đã “trúng phóc” ý nguyên tác tiếng Việt chưa ?…Con bé chủ động bảo : cháu sẽ hỏi thêm Thày và các bạn ở Lab…xem họ hiểu thế nào.

Trân trọng mong chờ sự chỉ dẫn ân cần của quý vị để đưa TMCS ra khỏi “đường hầm” chưa lối thoát “đặng”  có ngày sớm cho ra mắt bạn đọc cả lô mấy bài dịch trên…

Lan man mãi, TMCS xin tạm tóm lại :

Đối với thơ – nhất là thơ dịch – thì ngôn ngữ nguyên tác và ngôn ngữ mẹ đẻ đều cực kì quan trọng, nhưng CẢM mới là yếu tố quyết định. Nếu yếu về mặt Cảm thì “Kung fu” ngôn ngữ thâm hậu mấy cũng bị hạn chế ! Tất nhiên ngôn ngữ yếu thì sao mà Cảm và diễn đạt tốt được Cảm  !!!

Trước khi dịch từ tiếng Việt (mẹ đẻ) ra tiếng nước ngoài, điều đầu tiên là phải làm sao Cảm  càng sát với nội dung tác giả nguyên tác gửi gắm càng có cơ dịch tốt. Nếu Cảm hời hợt thì không thể nào dịch tốt. Muốn Cảm tốt thơ Việt , phải có sự tu dưỡng tốt về tiếng Việt trong thơ, chớ chủ quan, mình là người Việt là dễ dàng hiểu thấu đáo tiếng mẹ đẻ của mình, nhất là trong Thơ !!! Tiếng Việt trong thơ Việt mình sâu sắc lắm đó, hàm nghĩa vừa sâu thăm thẳm vừa rộng mênh mông, có lúc chập chờn, lung linh… rất khó nắm bắt… 

Cuối cùng kính mong chư độc giả vui lòng giúp TMCS tháo gỡ mấy chỗ bế tắc nêu trên.

Chân thành cám ơn,

                                                         X
                                                     X     X

TTTB@ No113 giới thiệu nốt các khổ còn lại của bài thơ Các vị La Hán chùa Tây Phương kèm các bản dịch.
Các phần khác như thường lệ. 

Kính thỉnh nhã giám.
  TTTB@-TMCS 
  
VT :
 
TMCS cực kì áy náy về cái tội: lan man thế này thì rất mệt với các vị cao niên- nhất là các vị đang ở VN, vốn quá quen những  nội dung TMCS vừa gõ ra- chỉ có chư độc giả “ngoại quấc” là “mê” cái khoản này vì nó hợp nhu cầu tìm hiểu VN – còn các bô lão VN “quốc nội” bỏ không đọc thì thương,  mà “vương” thì quá mệt, cũng là rất khó cho các cháu sinh VN hải ngoại là “tình nguyện dịch thuật viên” sinh trưởng ở nơi đất khách quê người, phải loay hoay tìm các từ  tiếng Mỹ ứng với những từ  “lờ tờ mờ” TMCS vi vu hứng chí gõ ào ào ra, lại kéo dài lê thê như bất tận, để dịch bài Dạo đầu hầu như” chỉ đầu không  đuôi” này !
 
Có lẽ đây đã là cái Nghiệp của TMCS – hiểu theo nghĩa Nhà Chùa – đã là Nghiệp thì theo luật Nhân Quả, ko thoát được – tuần nào cũng phải gõ, gõ liên miên và liên miên…như một cô đồng chợt  bừng bừng lên cơn “bốc” theo một khúc chầu văn phừng phưng “đàn ngọt hát hay”… !
 
Xin khoanh tay chân thành nhận lỗi.
                      TMCS 
 
Đăng tải tại Uncategorized | Để lại phản hồi

CÁ VỊ LA HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG (khổ 9-10)

Bl(421)TTTB@ No111

DẠO ĐẦU TTTB@ No111
                       TMCS
LAN MAN VỀ CẢM NHẬN QUANH BÀI THƠ CÁC VỊ LA HÁN…
TTTB@ hân hạnh được  bạn đọc VN hải ngoại và độc giả người nước ngoài đề nghị cho biết một số nét cơ bản về các vị La Hán và cảm nhận của công chúng thơ VN trong nước trước đây và hiện nay về nội dung và giá trị nghệ thuật đích thực của bài thơ Các vị La Hán chùa Tây Phương của Huy Cận.
Để đáp ứng yêu cầu của bạn đọc, trước hết TMCS xin được trích dẫn lời giải thích sự tích 18 vị La Hán của thiền viện VC và bài thơ của Tường Như đối hoạ bằng thơ với bài của HC sau đó sẽ nêu chút cảm thụ sơ bộ của mình.
Bạn đọc hỏi về sự khác biệt giữa La Hán và Bồ tát. Có rất nhiều khác biệt. TTTB@ chỉ nêu ở đây một sô khái niệm cơ bản dựa theo tư liệu của một số tu viện Phật học . Trong giáo lí  Phật học , các khái niệm về Nhân quả, luân hồi, trầm luân… hiện nay cũng còn nhiều chùa chiền không hiểu đúng. (TD : Đã là nhân nào quả nấy, cớ sao còn làm lễ dâng sao giải hạn, điều đó là ngược lại giáo lí cơ bản…Mọi người đều mang nghiệp do chính mình tạo ra, sao lại còn cầu xin cứu độ ? v.v…Nhiều vị tu hành trong ngoài nước đều thấy cách suy nghĩ của TMCS là đúng đắn, phù hợp với nhận định của các vị cao tăng…)
Khác nhau danh xưng: A la Hán, tiếng Phạn gọi là Arahat. Bồ tát, tiếng Phạn gọi là Bodhisatva, phiên âm là Bồ đề tát đỏa. Nói gọn là Bồ tát.

Khác nhau về ý nghĩa: A la hán chỉ là phiên âm từ tiếng Phạn Arahat. Chữ Arahat hay A la hán có 3 nghĩa: Sát tặc, Vô sanh và Ứng cúng. 

a) Sát tặc là giết sạch hết giặc phiền não trong tâm. Bọn giặc phiền não chúng nó hung tợn dữ dằn lắm. Những thứ phiền não gốc ngọn gì, các Ngài cũng đều giết sạch hết, nên gọi là sát tặc.

b) Vô sanh đồng nghĩa với Niết bàn. Nghĩa là các Ngài đã đạt được một trạng thái tâm lý yên tịnh không còn sanh diệt nữa. Nói rõ, là các Ngài không còn sanh tử luân hồi.

c) Ứng cúng là các Ngài thật xứng đáng cho trời người cúng dường. 

Còn nghĩa của Bồ tát thì sao?

Bồ tát có  nghĩa về  giác ngộ :  Bồ tát cũng là một con người như chúng ta, nhưng là một con người giác ngộ và sau khi giác ngộ, các Ngài đem sự giác ngộ đó giáo hóa cho mọi người cũng đều được giác ngộ như các Ngài, thì gọi các Ngài là Bồ tát.

Như vậy, ai cũng có thể làm Bồ tát được cả. Nếu chúng ta chịu khó tu học và có tấm lòng vị tha nhân ái làm lợi ích cho mọi người, cũng đều gọi là Bồ tát. Tóm lại, Bồ tát chỉ là một con người, nhưng là người giác ngộ, làm lợi mình và lợi người, đó là Bồ tát.

Khác trên hình thức : Bồ tát không nhất thiết phải là người tu xuất gia mà người tại gia vẫn làm Bồ tát. Như vậy, Bồ tát có hai hạng: xuất gia và tại gia. Ngược lại, A la hán, thì phải là người xuất gia, vì các Ngài thọ đại giới Tỳ kheo, hay Sa môn .
 
Ngoài ra còn có một số khác biệt nữa : về tâm niệm, phép tu, quả vị, giới luật, độ sanh, v.v…
SỰ TÍCH THẬP BÁT LA HÁN

Lời Nói Đầu

blankThập Bát La Hán tượng trưng cho tín ngưỡng đặc thù dân gian. Cuộc đờicủa các Ngài siêu nhiên kỳ bí nhưng rất mực gần gũi chúng sanh.
Tranh tượng Bồ-tát trình bày một thế giới trang nghiêm hương hoa nhã nhạc. Tranh tượng La-hán trình bày những nét sống động của các bậc Thánh hết sức hồn nhiên phụng hiến năng lực của mình.
Tập tiểu truyện về 18 vị La-hán được thực hiện nhân dịp thiền việnThường Chiếu khánh thành La Hán Đường vào tháng chạp năm Ất Dậu (01-2006), để giúp các huynh đệ hiểu thêm về các vị La-hán, tăng trưởngniềm tin của mình đối với Phật pháp. Đó là ước vọng của chúng tôi.
TV. Viên Chiếu cuối năm Ất Dậu
Như Đức
Tài liệu tham khảo:
 Tài liệu của Thường Chiếu
– Từ điển Phật học huệ Quang
– Từ điển Phật học Đoàn Trung Còn
– Từ điển La-hán – Đạo Luận dịch
– Trưởng Lão Tăng Kệ – HT. Minh châu dịch

1. La-hán Thác Tháp
lahan-1Tên của Ngài là Tô-tần-đà (Subinda). Thường ngày, Ngài tu tập rất tinh nghiêm, giúp người nhiệt tình nhưng ít thích nói chuyện. Tôn giả ít khi đi theođức Phật ra ngoài, Ngài chỉ ở yên nơi tịnh xá đọc sách hoặc quét sân. Có người phê bình cách nói chuyện của Ngài không hay, đức Phật biết được an ủi:
– Này Tô-tần-đà! Nói chuyện hay hoặc dở không liên quan gì đến vấn đề giác ngộMọi người chỉ cần y theo lời ta dạy mà thực hành, dù không nói câu nào cũng thành tựu sự giải thoát.
Đúng thật là Tôn giả hiếm khi lãng phí thời gian vào việc tán gẫu, chỉ dành trọn thời gian tọa thiền nên chứng quả A-la-hán rất sớm.
Đương thời vua nước Án-đạt-la muốn xây dựng một tịnh xá u tịch tại núi Hắc Phong, nhưng tìm không ra những tảng đá lớn. Tôn giả chỉ cần vận thần thông trong một đêm, mang đến vô số đá rất lớn từ bên kia sông HằngQuốc vương lại muốn tạo một pho tượng thật lớn bằng vàng tôn trí trong tịnh xá nhưng kho lẫm quốc gia không đủ cung ứngTôn giả chỉ cần nhỏ vài giọt nước xuống mấy phiến đá, chúng đều biến thành vàng. Quốc vương vui mừng gọi thợ giỏi nhất, đến lấy vàng đúc tượng để nhân dânchiêm lễ.
Năm trăm năm sau Phật diệt độ, Tôn giả nhiều lần hiện thân tại nước Kiện-đà-la để giáo hóaHình tượng Ngài được tạo với bảo tháp thu nhỏ trên tay, tháp là nơi thờ xá-lợi Phật, giữ tháp bên mình là giữ mạng mạch Phật pháp, vì thế Ngài được gọi là La-hán Nâng Tháp.
Theo Pháp Trụ Ký, ngài Tô-tần-đà là vị La-hán thứ tư, thường cùng 700 vị A-la-hán phần nhiều trụ ở Bắc Câu Lô châu.
2. La-hán Thám Thủ
lahan-2Hình tượng đưa hai tay lên rất sảng khoái của một vị La-hán sau cơn thiền định. Ngài tên là Bán-thác-ca (Panthaka), Trung Hoa dịch: Đại lộ biên sanh. Ngài là anh của Châu-lợi-bàn-đặc. Tương truyền hai anh em đều sanh ở bên đường, khi mẫu thân trở về quê ngoại sinh nở theo phong tục Ấn Độ.
Bán-thác-ca lớn lên là một thanh niên trí thức, nhân mỗi khi theo ông ngoại đi nghe Phật thuyết pháp, bèn có ý địnhxuất gia. Được gia đình chấp thuận, Ngài gia nhập Tăng đoàntrở thành một vị Tỳ-kheo tinh tấn dõng mãnh, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Nhớ đến em mình là Châu-lợi-bàn-đặc. Ngài trở về hướng dẫn em xuất gia. Rất tiếc, thời gian đầu thấy em mình quá dốt nên Ngài khuyên em hoàn tục. Đó cũng là vì tình thương và trách nhiệm nên Tôn giả đối xử như thế, hoàn toàn không phải giận ghét.
Về sau, khi Châu-lợi-bàn-đặc chứng Thánh quả, chính Tôn giả Bán-thác-ca là người mừng hơn ai hết. Cả hai anh em dẫn nhau về pháp đườngđại chúng cảm động tán thán ngợi khenĐức Phật dạy:
– Này Bán-thác-ca và Châu-lợi-bàn-đặc, khó ai được như hai anh em các ông, vừa cùng xuất gia học đạo, vừa tận trừ phiền não lậu hoặcchứng quả A-la-hán. Sau này hai ông nên đồng tâm hiệp lực lưu lại nhân gian để hoằng dương Phật pháp.
Hai tôn giả vâng lời Phật nên thường tùy hỷ hóa độ chúng sanh.
Theo Pháp Trụ KýTôn giả Bán-thác-ca là vị La-hán thứ mười, Ngài thường cùng 1.100 vị A-la-hán trụ ở Tất-lợi-dương-cù-châu.
3. La-hán Khai Tâm
lahan-3Hình tượng vạch áo bày ngực để hiển lộtâm Phật. Ngài tên là Thú-bác-ca (Jivaka). Thú-bác-ca vốn là một Bà-la-môn nổi danh, nghe nói thân Phật cao một trượng sáu, Thú-bác-ca không tin nên chặt một cây trúc dài đúng một trượng sáu để đích thân đo Phật. Lạ thay, dù đo bất cứ cách nào, thân Phật vẫn cao hơn một chút. Thú-bác-ca tìm một cây thang dài rồi leo lên thang đo lại, kết quả cũng vậy. Đo đến mười mấy lần, không còn cây thang nào dài hơn mà thân Phật vẫn cao hơn. Lúc này ông thiệt tình khâm phục và xin quy y làm đệ tử.
Sau khi xuất giatrải qua bảy năm khổ hạnh, Ngài chứng quả A-la-hán, vì muốn kỷ niệm nhân duyên đo Phật mà xuất gia ngộ đạo. Ngài lấy cây sào lúc trước, đi đến chỗ cũ nói:
– Nếu Phật pháp là chân lý ngàn đời thì xin cây sào này mọc lại và sinh trưởng ở đây.
Nói xong, Ngài cắm cây sào xuống đất. Cây sào bỗng nẩy chồi ra lá. Thời gian sau từ chỗ đó mọc lên một rừng trúc tốt tươi lan rộng cả vùng, người ta gọi nơi ấy là Trượng LâmQuần chúng Phật tử kéo đến chiêm bái chứng tích mầu nhiệm cây gậy đo Phật. Nơi đây rừng núi khô cằn hoang dã, thiếu nước uống nghiêm trọngtôn giả Thú-bác-ca liền vận thần thông biến ra hai suối nước một nóng, một lạnh để mọi người tha hồ sử dụng. Hai suối này nằm cách mười dặm về phía Tây Nam của Trượng Lâm. Dân chúng vùng này mãi nhớ ơn đức của Tôn giả.
Theo Pháp Trụ Ký, Ngài Thú-bác-ca là vị La-hán thứ chín, thường cùng 900 vị La-hán trụ trong núi Hương Túy.
4. La-hán Hỷ Khánh
lahan-4Ngài tên là Ca-nặc-ca-phạt-tha (Kanakavatsa), còn gọi là Yết-nặc-ca-phược-sa. Đức Phật thường khen Ngài là vị La-hán phân biệt thị phi rõ ràng nhất. Khi chưa xuất gia Ngài là người rất tuân thủ khuôn phép, giữ gìn từ lời nói đến hành động, một ý nghĩ xấu cũng không cho phát khởi. Sau khi xuất gia, Ngài càng nỗ lực tinh tấn tu tập, nhờ thiện cănsâu dày Ngài chứng quả A-la-hán rất mau.
Ngài thường đi du hóa khắp nơi với gương mặt tươi vui và dùng biện tàithuyết pháp để chiêu phục chúng sanh. Thấy mọi người thường vô ý tạo nhiều nghiệp ác hằng ngày, tương lai bị quả khổ địa ngục nên khi thuyết pháp Ngài thường xiển hình giáo lý nhân quả thiện ác, giúp chúng sanh phân biệt rõ ràng để sửa đổiMột lần nọ đi ngang qua thôn trang, thấy một gia đình đang giết vô số trâu dê gà vịt để làm lễ mừng thọ. Ngài ghé lại, thuyết giảng một hồi về phương pháp chúc thọ, về cách mừng sinh nhật là ngày khó khăn khổ nhọc của mẹ, nên phận làm con không được ăn uống vui chơitrái lại nên tịnh tâm suy niệm ân đức cha mẹquyết chí tu tập thành tựu đạo nghiệp.
Bằng cách giảng dạy chân thậtTôn giả suốt đời như ngọn hải đăng đem ánh sáng Phật pháp soi rọi nhân sinh.
Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ hai, thường cùng 500 vị La-hán trụ tại nước Ca-thấp-di-la (Kashmir).
5. La-hán Tĩnh Tọa
lahan-5Tên của Ngài là Nặc-cù-la (Nakula). Trên vách hang thứ 76 của động Đôn Hoàngcó vẽ hình tượng Ngài ngồi kiết già trên phiến đá. Theo truyền thuyết, Ngài thuộc gia cấp Sát-đế-lợi sức mạnh vô songđời sống chỉ biết có chiến tranh chém giết. Khi theo Phật xuất gia, Ngài đạt quả A-la-hán trong tư thế tĩnh tọa.
Đương thời của Tôn giả, có ngoại đạoUất-đầu-lam-tử, công phu thiền định cao, từng biện bác với hy vọng chinh phụcTôn giả theo pháp thuật của mình. Nhưng với niềm tin chân chánh, Tôn giảkhẳng định rằng chỉ có công phu tọa thiềnquán chiếu bằng trí tuệ, sức nhẫn nhục bền bỉ, nghiêm trì tịnh giới mới đạt được định lực không thối chuyển. Pháp tu luyện ngoại đạo chỉ được định lực tạm thời, không thể an trú vĩnh viễn trong pháp giải thoát, khi gặp cảnh bên ngoài quấy nhiễu sẽ bị hủy hoại.
Sau này quả nhiên Uất-đầu-lam-tử thọ hưởng sự cúng dường nồng hậu vua nước Ma-kiệt-đà, vì khởi vọng tâm mà toàn bộ công phu tiêu tánsau khi chết lại rơi vào địa ngụcTôn giả Nặc-cù-la dùng thiên nhãn thấy rõ điều ấy, một lần nữa cảnh giác với vua Ma-kiệt-đà:
– Đó chính là pháp tu không rốt ráo của ngoại đạo, những phiền não căn bản của con người chưa được diệt trừ hết.
Vua nghe Tôn giả giải thích mới hiểu được Phật pháp chân chánh đáng quý, phát khởi niềm tin nơi Tôn giả.
Theo Pháp Trụ KýTôn giả Nặc-cù-la được xếp vào vị trí La-hán thứ năm, Ngài thường cùng 800 vị A-la-hán trụ ở Nam Thiệm Bộ Châu.
6. La-hán Ba Tiêu
lahan-6Tên của Ngài là Phạt-na-bà-tư (Vanavàsin). Theo truyền thuyết khi mẹ Ngài vào rừng viếng cảnh, mưa to dữ dộivà bà hạ sanh Ngài trong lúc ấy. Sau khi xuất gia với Phật, Ngài thích tu tập trong núi rừng, thường đứng dưới các cây chuối nên còn được gọi là La-hán Ba Tiêu.
Có lần, đức Phật hàng phục con yêu trong một cái đầm sâu. Cảm phục ân đứccủa Phật, yêu long xin Ngài lưu lại chỗ của mình để được gần gũi cúng dường. Phật dạy Ngài không thể ở một nơi lâu, nên cử năm vị Đại A-la-hán đến, đó là các vị Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Nhân-kiệt-đà, Tô-tần-đà và Phạt-na-bà-tư. Khi tôn giả Phạt-na-bà-tư đến tiếp nhận lễ vật cúng dường, Ngài thường thích tọa thiền trên phiến đá lớn bên cạnh đầm, khi thì ngồi suốt tuần, lúc ngồi cả nửa tháng.
Theo lời phó chúc của đức PhậtTôn giả lưu tâm hóa độ vua Ca-nị-sắc-ca. Nhân dịp nhà vua đi săn, Tôn giả hóa làm con thỏ trắng dẫn đường cho vua đến gặp một mục đồng đang lấy bùn đất nặn tháp Phật. Mục đồng nói rằng Phật thọ ký 400 năm sau vua Ca-nị-sắc-ca sẽ xây tháp thờ Phật tại đây. Mục đồng ấy cũng chính là Phạt-na-bà-tư hóa hiện. Từ đó, vua trở nên bậc đại quân vương hoằng dương Phật pháp, xây chùa tháp tự việnủng hộ cúng dường Tăng chúng, tổ chức kiết lập kinh điển Phật giáolần thứ tư tại thủ đô Ca-thấp-di-la. Tất cả những thành tựu này đều nhờ thâm ân giáo hóa của tôn giảPhạt-na-bà-tư.
Theo Pháp Trụ Kýtôn giả Phạt-na-bà-tư là vị La-hán thứ mười bốn, ngài và 1.400 vị La-hán thường ở trong núi Khả Trụ.
7. La-hán Tiếu Sư
lahan-7Tên của Ngài là Phạt-xà-la-phất-đa-la (Vajraputra). Tương truyền khi còn ở thế tục, Ngài làm nghề thợ săn, thể lực rất tráng kiện, một tay có thể nâng một con voi, hoặc nắm một con sư tử ném xa hơn10 mét. Mỗi khi muông thú chạm mặtNgài, chúng đều hoảng sợ lánh xa. Sau khi xuất gia, Ngài nỗ lực tu tậpchứng quả La-hán. Lại có một con sư tử thường quấn quít bên Ngài, do đó Ngài biệt hiệuLa-hán Đùa Sư Tử.
Về phía Bắc tịnh xá Trúc Lâm có ao Ca-lan-đà, nước trong mát có thể trị lành được nhiều bịnh, đức Phật vẫn thường đến đó thuyết pháp. Sau khi Phật diệt độ, nước ao bỗng khô cạn, ngoại đạo bèn phao tin rằng Phật pháp đã suy viTôn giả Phạt-xà-la-phất-đa-la từ châu Bát-thích-noa bay đến, lấy tay chỉ xuống ao, lập tức nước đầy trở lạiTôn giả bảo mọi người rằng:
– Nước ao cạn khô vì mọi người không có niềm tin kiên cố nơi Phật pháp. Nếu tất cả đều vâng lời Phật dạy, một lòng tin thọ phụng hành như khi Phật còn tại thế thì tôi bảo đảm nước trong ao sẽ không bao giờ cạn khô.
Mọi người nghe Tôn giả nói, ngưỡng vọng uy thần và nhiệt tâm hộ trì Phật pháp của Tôn giả nên phát khởi lòng tin Tam bảo. Từ đó nước ao luôn trong xanh và tràn đầy.
Qua câu chuyện trên chúng ta có thể thấy các bậc La-hán luôn ở tại nhân gian để xiển dương pháp Phật.
Theo Pháp Trụ Ký. Ngài là vị La-hán thứ tám, thường cùng 1.100 vị La-hán trụ ở châu Bát-thích-noa.
8. La-hán Tọa Lộc
lahan-8Ngài tên là Tân-đầu-lô-phả-đọa (Pindolabharadvaja), xuất thân dòng Bà-la-môn, là một đại thần danh tiếng của vua Ưu Điền. Ngài thích xuất gia nên rời bỏ triều đình vào rừng núi nỗ lực tu tập, sau khi chứng Thánh quả cỡi hươu về triều khuyến hóa vua, nhân đó được tặng danh hiệu La-hán Cỡi Hươu.
Nhân một hôm Tôn giả dùng thần thônglấy cái bát quý treo trên cây trụ cao của một trưởng giả, bị Phật quở trách việc biễu diễn thần thông làm mọi người ngộ nhận mục đích tu học Phật pháp. Phật dạy Tôn giả phải vĩnh viễn lưu lại nhân gian để làm phước điền cho chúng sanh, vì thế trong các pháp hội Tôn giả thường làm bậc ứng cúngMột lần ở thời Ngũ Đại, triều vua Ngô Việt thiết trai, có một Hòa thượng lạ, tướng mạo gầy ốm, lông mày dài bạc trắng bay đến ngồi vào chỗ dành cho khách quý mà ăn uống vui vẻ. Ăn xong Ngài tuyên bốNgài là Tân-đầu-lô. Dưới thời vua A-dục và vua Lương Võ Đế, Ngài đích thân hiện đến giáo hóa, làm tăng trưởng lòng tin. Thời Đông Tấn ngài Đạo An là bậc cao tăng phiên dịch kinh điển thường lo buồn vì sợ chỗ dịch của mình sai sót. Ngài khấn nguyện xin chư Hiền Thánh hiển lộ thần tích để chứng minh. Tối hôm đó Ngài nằm mộng thấy một vị Hòa thượng lông mày trằng nói:
– Ta là Tân-đầu-lô ở Ấn Độ, lấy tư cách là một đại A-la-hán, ta bảo chứng những kinh điển ông dịch đều rất chính xác.
Tôn giả Tân-đầu-lô là một vị La-hán rất gần gũi nhân gianPháp Trụ Ký xếp Ngài là vị La-hán thứ nhất, thường cùng 1.000 vị La-hán trụ ở Tây Ngưu Hóa Châu.
9. La-hán Trường Mi
lahan-9Tên của Ngài là A-thị-đa (Ajita) thuộc dòng Bà-la-môn nước Xá-vệ. Theo truyền thuyết khi Ngài mới sanh ra đã có lông mày dài rủ xuống, điều báo hiệu kiếp trước Ngài là một nhà sư. Sau khi theo Phật xuất gia, Ngài phát triển thiền quánvà chứng A-la-hán.
Ngài cũng là một trong những thị giảPhật, khi chứng quả xong vẫn thường du hóa trong dân gian. Một hôm đến nước Đạt-ma-tất-thiết-đế, nhân dân nước này không tin Phật pháp, chỉ thờ quỷ thầnsông núi. Thái tử nước này bệnh nặng, vua cho mời danh y trị bệnh và thỉnh giáocác nhà tu ngoại đạo. Các vị ấy bảo: “Đại vương chớ lo, bệnh của Thái tử không cần uống thuốc cũng khỏi.” Khi gặp Tôn giả A-thị-đa, vua hỏi thử thì Tôn giả bảo rằng bệnh không qua khỏi. Vua rất tức giận bỏ đi. Một tuần sauThái tử chết thật, vua tạm thời không tổ chức tang lễ, ngày hôm sau vua đi gặp tôn giả A-thị-đa, Ngài chia buồn với vua, còn vua khi gặp các ngoại đạo thì lại nghe chúc mừng Thái tử hết bệnh. Điều này chứng tỏ các ngoại đạo không có dự kiến đúng đắn. Nhà vua từ đó quy ngưỡng Phật pháp. Nhờ sự hoằng dương của Tôn giả mà Phật pháp hưng thịnh ở nước này.
Đã hơn 2.000 năm, nhưng tại Ấn Độ vẫn còn tin rằng tôn giả A-thị-đa còn đang trị bệnh cho người hay tọa thiền trên núi.
Pháp Trụ Ký xếp Ngài là vị La-hán thứ mười lăm, thường cùng 1.500 A-la-hán trụ trong Linh Thứu Sơn.
10. La-hán Hàng Long
lahan-10Ngài tên là Nan-đề-mật-đa-la (Nandimitra), Trung hoa dịch Khánh Hữu, ra đời sau Phật diệt độ 800 năm, cư trú tại nước Sư Tử.
Ngài là vị Đại La-hán thần thông quảng đạiđạo hạnh trang nghiêm. Tương truyền có một lần cả đảo Sư Tử bị Long Vương dâng nước nhận chìmTôn giả ra tay hàng phục rồng nọ và được tặng hiệu La-hán Hàng Long. Khi Ngài sắp thị tịchmọi người buồn thương lo sợ vì thế gian sẽ không còn bậc La-hán. Ngài cho biết có 16 vị La-hán vâng lệnh Phật lưu trụ cõi Ta-bà để ủng hộ Phật pháp. Lời dạy của Ngài được ghi chép thành bộ “Pháp Trụ Ký”. Nói “Pháp Trụ Ký” xong, tôn giả Khánh Hữu bay lên không trung hóa hiện vô số thần biến, rồi dùng chơn hỏa tam-muội thiêu thân. Xá-lợi ngũ sắcrơi xuống như mưa, mọi người tranh nhau lượm mang về tôn thờ cúng dường.
Tuy đã thiêu thân, nhưng Tôn giả không rời nước Sư Tử, Ngài bay về động đá trên núi để tọa thiềnThời gian thoáng chốc đã hơn 400 năm, khi Tôn giả xuất định, Ngài ôm bát xuống núi khất thực thì thấy phong cảnh đã đổi khác. Ngài nhẫm tính lại và khám phá ra mình đã toạ thiền hơn 400 năm bèn bật cười ha hả. Sau đó Ngài thường xuất hiện khắp nơi, khi thì trì bát, lúc thì giảng kinh… Mọi người vẫn còn tin rằng Ngài vĩnh viễn không rời thế gian mà luôn luôn cùng 16 vị La-hán kia tiếp tục hoằng hóa.
*Dị Bản: Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la là vị La-hán thứ 17, do mọi người tưởng nhớ công ơn ngài nói ra Pháp Trụ Ký.
11. La-hán Bố Đại
lahan-11Tên của Ngài là Nhân-yết-đà – Nhân-kiệt-đà (Angada). Theo truyền thuyết Ngài là người bắt rắn ở Ấn Độ, xứ này nhiều rắn độc hay cắn chết người. Ngài bắt chúng, bẻ hết những răng nanh độc rồi phóng thích lên núi. Hành động ấy phát xuất bởi lòng từ cao độ, nên Ngài được xem như biểu trưng của từ bi. Sau khi đắc đạo, Ngài thường mang một túi vải bên mình để đựng rắn, cũng trùng hợp như Hòa thượng Bố Đại ở Trung Hoa.
Nhân có một người nước Ô-trượng-na muốn tạc tượng Bồ-tát Di-lặc, nhưng chưa được thấy diện mạo Bồ-tát nên không dám làm. Ông lập hương án trong vườn hoa chí thành khấn nguyện, cung thỉnh một vị Hiền Thánh đến để giúp ông. Khấn xong thì có một vị La-hán xuất hiện xưng tên là Nhân-yết-đà, đến đưa ông lên cung trời Đâu-xuất để gặp Bồ-tát Di-lặc. Tôn giả đã đưa người này lên cung trời trước sau cả thảy ba lần để chiêm ngưỡng chân tướng trang nghiêm của Bồ-tát. Tượng Bồ-tát tạo xong được bảo tồn tại thủ đô nước Ô-trượng-na, đó là nhớ công ơn của Tôn giả.
La-hán là một bậc bất sanh bất diệt, đến đi tự tại, các Ngài du hóa nhân gian dưới mọi hình thức. La-hán Bố Đại có hình tướng mập mạp, bụng to, túi vải lớn bên mình như là hiện thân của Bồ-tát Di-lặc, trong câu chuyện trên đã có ít nhiều liên hệ.
Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ mười ba, thường cùng 1.300 vị A-la-hán trụ trong núi Quảng Hiếp.
12. La-hán Khoái Nhĩ
lahan-12Ngài tên là Na-già-tê-na (Nagasena) hay còn gọi là Na Tiên. Nagasena theo tiếng phạn nghĩa là đội quân của rồng và tượng trưng sức mạnh thiên nhiên. Ngài Na Tiên sinh trưởng ở miền Bắc Ấn là bậc La-hán nổi tiếng về tài biện luận. Đương thời của Ngài gặp lúc vua Di-lan-đà cai trị, nhà vua là người Hy Lạp vốn chuộng biện thuyết. Nghe tiếng tôn giảNa Tiên là bậc bác học đa văn nên nhà vua đích thân phỏng vấn. Cuộc vấn đạo giữa bậc đế vương và bậc Tỳ-kheo thoát tục đã để lại cho chúng ta một tác phẩmbất hủ “Kinh Na Tiên tỳ Kheo”, mà cả hai tạng Nam truyền và Bắc truyền đều lưu giữ đến nay. Nhờ sự chỉ dạy của tôn giả Na Tiên mà cuối cùng vua Di-lan-đà trở thành vị quốc vươnganh minh hết lòng ủng hộ Phật pháp.
Có chỗ nói ngài Na Tiên chuyên tu về nhĩ căn, tranh tượng của Ngài mô tả vị La-hán đang ngoáy tay một cách thú vị. Mọi âm thanh vào tai đều giúp cho tánh nghe hiển lộ, rất thường trụ và rất lợi ích. Từ nhĩ căn viên thông phát triển thiệt căn viên thôngtrở lại dùng âm thanh thuyết pháp đưa người vào đạo, đó là ý nghĩa hình tượng của tôn giả Na Tiên.
Theo Pháp Trụ Ký, Ngài cũng là vị La-hán thứ mười hai, thường cùng 1.200 vị La-hán trụ trong núi Bán-độ-ba.
13. La-hán Trầm Tư
lahan-13Ngài chính là La-hầu-la (Rahula). Sau khi theo Phật xuất gia, nhờ sự giáo dưỡng của Thế Tôn, Ngài bỏ dần tập khí vương giả và thói xấu trêu ghẹo người, nỗ lực tu tập để chứng Thánh quả. Ngài luôn khiêm cung nhẫn nhục, không thích tranh cãi hơn thua, phòng của mình bị người chiếm ở, Ngài lẳng lặng dời vào nhà xí ngủ qua đêm. Đi khất thực bị bọn côn đồ ném đá trúng đầu chảy máu. Ngài lặng lẽđến bờ suối rửa sạch rồi tự tay băng bó. Tín chủ cúng cho Ngài một tịnh thất, ít lâu sau đòi lại đem cúng người khác, Ngài cũng bình thản dọn ra khỏi phòng.
Sau khi chứng quả A-la-hán, Ngài lặng lẽ tu tậpĐức Phật khen tặng Ngài là Mật hạnh đệ nhất và chọn Ngài vào trong số 16 La-hán lưu lại nhân gian. Với đức tánh lặng lẽ, Ngài được tặng danh hiệu La-hán Trầm Tư.
Sau Phật diệt độ, vua nước Câu-thi-na không tin Phật pháp, đập phá chùa viện, thiêu hủy kinh tượng, số người xuất gia giảm sút. Có một Hòa thượng ôm bát vào thành khất thực, nhưng cả thành chẳng ai để ý tới, khó khăn lắm Ngài mới gặp một gia đình tin Phật cúng cho bát cháo nóng. Hòa thượng hớp xong miếng cháo thở dàithí chủ hỏi thăm thì được Hòa thượng kể lại thời Phật còn tại thế, Ngài cũng từng theo Phật đến đây khất thựclúc ấy nhà nhà tranh nhau cúng dường, khác hẳn ngày nay. Hòa thượng tiết lộ thân thế mình chính là La-hầu-la, mấy trăm năm nay dốc lòng hoằng dương Phật pháp.
Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ mười một, thường cùng 1.100 vị A-la-hán trụ ở Tất-lợi-dương-cù-châu.
14. La-hán Kháng Môn
lahan-14Tên của Ngài là Chú-trà-bán-thác-ca, hay Châu-lợi-bàn-đặc (Cullapatka). Truyền thuyết Phật giáo nhắc đến Ngài như một tấm gương cần cù nhẫn nại. Vì không thông minh như anh nên khi xuất gia Ngài không tiếp thu được Phật pháp, kể cả xếp chân ngồi thiền cũng không xong. Về sau được sự chỉ dạy lân mẫn của Thế Tôn, Ngài thực hành pháp môn quét rác với cây chổi trên tay. Nhờ sự kiên trì, dốc tâm thực hành lời dạy của Phật, quét sạch mọi cấu uế bên trong lẫn bên ngoài, Ngài đã chứng Thánh quả.
Một hôm đại thần Kỳ-bà thành Vương Xá thỉnh Phật và các vị A-la-hán đến nhà thọ trai. Tôn giả Bán-thác-ca không biết em mình đã chứng quả nên không phát thẻ tham dự. Đến khi chuẩn bị thọ trai, Phật bảo Bán-thác-ca về tịnh xá xem có sót người nào. Tôn giả về Trúc Lâm thì thấy cả ngàn vị Hòa thượng đang tọa thiền rải rác trong vườn. Ngạc nhiên và dùng thiên nhãn quán sát, mới vỡ lẽ ra đó là trò đùa của em mình, Tôn giả mừng rỡ xúc độngtán thán công phu của Châu-lợi-bàn-đặc.
Theo truyền thuyết, khi đi khất thực Tôn giả gõ cửa một nhà nọ và làm ngã cánh cửa cũ hư. Điều này cũng gây bối rối! Về sau, Phật trao cho Tôn giả một cây gậy có treo những chiếc chuông nhỏ để khỏi phải gõ cửa nhà người. Nếu chủ nhân muốn bố thí thì sẽ bước ra khi nghe tiếng chuông rung. Cây gậy gõ cửa trở thành biểu tượng của Tôn giả, và là hình ảnh quen thuộc trong sinh hoạt Phật giáo.
Theo Pháp Trụ KýTôn giả là vị La-hán thứ mười sáu, cùng với 1.600 vị A-la-hán thưòng trụ tại núi Trì Trục.
15. La-hán Kỵ Tượng
lahan-15Tên của Ngài là Ca-lý-ca (Kalica), trước khi xuất gia làm nghề huấn luyện voi. Khi Tôn giả chứng quả A-la-hán, đức Phậtbảo Ngài nên ở tại quê hương mình (Tích Lan) để ủng hộ Phật pháp.
Phật đến Tích Lan thuyết kinh Lăng GiàTôn giả cũng là một trong số đệ tử đi theoĐức Phật sắp rời đảo, vua Dạ-xoa cung thỉnh đức Phật để lại một kỷ niệm tại đảo để làm niềm tin cho hậu thếThế Tôn ấn dấu chân của mình trên một ngọn núi, nơi đó trở thánh Phật Túc Sơn, và bảo tôn giả Ca-lý-ca gìn giữ thánh tíchnày. Phật Túc Sơn nổi tiếng khắp nơi, mọi người đua nhau chiêm lễ. Trải qua thời gian nó bị chìm vào quên lãngcon đường dẫn lên núi bị cỏ hoang phủ kín. Trong dịp vua Tích Lan là Đạt-mà-ni-a-ba-á bị kẻ địch rượt đuổi nên chạy trốn vào hang núiTôn giả hóa thành một con nai hoa rất đẹp dụ dẫn nhà vua lên núi để hiển lộ lại dấu chân Phật. Sau nhiều triều đại kế tiếp, Phật Túc Sơn lại không người viếng thăm. Tôn giả một phen nữa hóa thành thiếu nữ bẻ trộm hoa trong vườn của vua. Khi bị bắtthiếu nữ chỉ tay lên ngọn núi phủ sương mờ, bảo rằng mình hái hoa cúng Phật ở trên ấy. Phật Túc Sơn từ đó khắc sâu hình ảnh trong lòng người, mỗi năm đến ngày 15 tháng 3 âm lịchquần chúng kéo nhau đi lễ bái thành tích rằm rộ không ngớt.
Theo Pháp Trụ KýTôn giả Ca-lý-ca là vị La-hán thứ bảy, cùng với 1.000 vị A-la-hán luôn thường trụ tại Tăng Già Trà Châu (Tích Lan).
16. La-hán Quá Giang
lahan-16Tên của Ngài là Bạt-đà-la (Bhadra). Bạt-đà-la còn gọi là Hiền, vì mẹ Ngài hạ sanh Ngài dưới cây Bạt-đà, tức là cây Hiền.
Theo truyền thuyếtTôn giả rất thích tắm rửa, mỗi ngày tắm từ một lần đến mười lần, và như vậy rất mất thời gian đồng thời trễ nải công việc. Chẳng hạn khi mọi người thọ trai, Ngài lại đi tắm, khi lên ăn thì cơm rau đã hết. Nhiều buổi tối, Ngài lén đi tắm khi mọi đang tọa thiền. Thậm chí ngủ giữa đêm cũng thức dậy đi tắm, có khi một đêm tắm năm, sáu lần ! Việc này đến tai đức PhậtThế Tôn kêu Tôn giả đến bên, chỉ dạy cách tắm rửa thiết thực, nghĩa là ngoài việc tẩy rửa thân thể còn phải tẩy rửa cấu uế trong tâm, gột sạch các tham sân phiền não để cả thân tâm đều thanh tịnh.
Tiếp nhận lời Phật dạyTôn giả hành trì theo ý nghĩa đích thực của việc tắm rửa, siêng năng gột rửa tâm nên chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Từ đó tắm rửa là một pháp tu hữu dụng thiết thực mà Tôn giả thường khuyên dạy mọi người. Các tự viện Trung Hoa thường thờ hình tượng Ngài trong nhà tắm để nhắc nhở ý nghĩa phản tỉnh tư duy.
Tôn giả cũng thường dong thuyền đi hoằng hóa các quần đảo của miền đông Ấn Độ như Java, Jakarta… nên được mang tên La-hán Quá Giang.
Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ sáu, thường cùng 900 vị A-la-hán trụ tại Đam-một-la-châu.
17. La-hán Phục Hổ
lahan-17Tên của Ngài là Đạt-ma-đa-la (Dharmatrata), người ở núi Hạ Lan tỉnh Cam Túc. Thuở nhỏ Đạt-ma-đa-la đến chùa, rất thích chiêm ngưỡng hình tượng16 vị La-hán thờ trong điện. Sư phụ cũng hay kể cho cậu bé nghe những chuyện thần kỳ của các vị La-hán, dần dần trong tánh linh trẻ thơ in đậm hình ảnh các Ngài, thậm chí khi ngủ cũng mơ thấy.
Một hôm trong khi chiêm lễ, Đạt-ma-đa-la bỗng thấy các hình tượng La-hán cử động, vị thì quơ tay, vị thì chớp mắt như người thật. Ngỡ mình hoa mắt, Đạt-ma-đa-la định thần nhìn kỹ lại, lần này thấy rõ hơn, một số vị còn cười tươi tắn. Từ đó Đạt-ma-đa-la càng thêm siêng năng lễ kỉnh, và ngày nào cũng được chứng kiến các kỳ tích cảm ứng. Đạt-ma-đa-la theo hỏi một vị La-hán cách tu tập để được trở thành La-hán. Ngài chỉ dạy cậu nên siêng năng tọa thiền, xem kinh, làm các việc thiện. Đạt-ma-đa-la phát tâm tu hànhthực hiện lời dạy của bậc La-hán nên chẳng bao lâu chứng quả.
Thành một A-la-hán thần thông tự tại. Ngài thường du hóa trong nhân giangiảng kinh thuyết pháp, gặp tai nạn liền ra tay cứu giúp. Tôn giả ba lần thu phục một con hổ dữ đem nó về núi cho tu, đi đâu thì dẫn theo. Bên cạnh hình tượng Ngài người ta vẽ thêm một con hổ, Ngài thành danh La-hán Phục Hổ.
La-hán Hàng Long và La-hán Phục Hổ là hai vị được đưa thêm vào danh sách Thập Lục La-hán, để trở thành một truyền thuyết vĩnh viễn được tôn thờ.
18. La-hán Cử Bát
lahan-18Tên của Ngài là Ca-nặc-ca-bạt-ly-đọa-xà (Kanakabharadvaja). Ngài là vị Đại đệ tửđược đức Phật giao phó giáo hóa vùng Đông Thắng Thần Châu.
Quốc vương nước Tăng-già-la ở Nam Hải không tin Phật phápTôn giả Ca-nặc-ca tìm cách hóa độ. Một sớm mai, khi đang cầm gương soi mặt, quốc vươnggiật mình kinh sợ vì trong gương không có mặt mình mà có hình dàng vị đại sĩBạch Y. Đây là do phép thần biến của Tôn giả. Theo lời khuyên của quần thần, nhà vua cho tạc tượng Bồ-tát Quan Thế Âm để thờ phụng và từ đó hết lòng tin Phật.
Ngài Huyền Trang khi sang Ấn Độ, trụ tại chùa Na-lan-đà nghe kể câu chuyện sau: Sau khi đức PhậtNiết-bàn vài trăm năm sau, quốc vương nước Ma-kiệt-đà làm lễ lạc thành ngôi chùa Đại Phật, thỉnh mấy ngàn vị Hòa thượng đến cúng dường. Khi mọi người bắt đầu thọ trai, bỗng nhiên có hai vị Hòa thượngtừ không trung bay xuống. Cả hội chúng kinh ngạc, vua hỏi lai lịch thì một vị xưng là Tân-đầu-lô ở Tây-cù-đa-ni châu, một vị xưng là Ca-nặc-ca ở Đông Thắng Thần Châu. Vua vui mừng thỉnh hai Tôn giảchứng minh trai phạn. Thọ trai xong, hai vị cười nói:
– Này các vị, 16 La-hán chúng tôi sẽ mãi mãi lưu lại thế gian, cùng tu tập với tất cả Phật tử chí thành đời sau.
Tôn giả Ca-nặc-ca thường mang một cái bát sắt bên mình khi du hành khất thực, nên được gọi là La-hán Cử Bát.
Theo Pháp Trụ Ký ngài là vị La-hán thứ ba, thường cùng 600 vị A-la-hán trú tại Đông Thắng Thần Châu.

(Thiền Viện Viên Chi
CÔNG CHÚNG THƠ VỚI BÀI THƠ CÁC VỊ LA  HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG
KHI MỚI XUẤT HIỆN VÀ GẦN ĐÂY_ CẢM NHẬN VỀ NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ BÀI THƠ:
 
Ngay khi mới ra đời, bài thơ đã được báo chí thời đó hoan nghênh và được đưa vào SGK. Tất nhiên chủ yếu nhờ bài thơ có nội dung tư tưởng đề cao thành quả xây dựng xã hội thanh bình, hứa hẹn tương lai hạnh phúc tươi đẹp cho nhân dân… phù hợp với nhận định chính thống và yêu cầu công tác chính trị tư tưởng của giới lãnh đạo vào thời điểm đó. Bài thơ có ngụ ý : lòng từ bi, nhân ái của các vị La Hán – tiêu biểu cho đạo lí Phật giáo dù tốt đẹp, cao cả đến mấy nhưng bao đời nay vẫn bất lực trước sự đau khổ của con người…chỉ có đi theo đường lối xây dựng xã hội mới thì mới có hạnh phúc cho người dân…
 
Đến nay, qua hơn nửa thế kỉ…tư tưởng, cảm nhận của công chúng đã thay đổi khá nhiều.  Bài thơ đối hoạ của Thường Như đã nói lên khá đậm nét sự thay đổi đó. Sự đồng tình của dư luận với quan điểm của TN đã thể hiện rõ tính đa dạng hơn trong cảm nhận Thơ ở VN…
… Tác giả Thường Như là một Phật tử từ miến Nam ra thăm chùa Tây phương đã viết bài thơ đối hoạ bài thơ Huy Cận với những cảm xúc chân thực, rất nghiêm túc và khách quan trên cơ sở giáo lí nhân văn của tín ngưỡng Phật giáo. Bài thơ đối hoạ với từng khổ thơ và từng câu thơ, có chỗ từng từ của Huy Cận, nhưng không hề có ý “đối lập” hoặc “công kích” Huy Cận mà còn thông cảm với bối cảnh xã hội và cương vị  của Huy Cận khi làm bài thơ này. Sau khi đọc bài đối hoạ của TN , độc giả đã thấy rõ cái nhìn của HC có phần phiến diện và dẫn đến sự miêu tả ngoại hình, tư thế và nội tâm các vị La Hán một cách méo mó với khá nhiều từ ngữ không nghiêm túc : giương mày, nhíu xệch, co quắp, thai non v.v… Dù là người vô thần, ngoại đạo cũng nên tránh sự miêu tả vô lễ và bất kính như vậy…
 
TMCS không phải là Phật tử, cũng chẳng theo một tín ngưỡng nào nhưng thừa nhận  đạo Phật là tôn giáo có nhiều ảnh hưởng sâu rộng  trong đời sống tinh thần và văn hoá của dân tộc VN. Bài THƠ của Thường Như theo TMCS là đã đạt được giá trị tư tưởng và nghệ thuật rất đáng trân trọng, thể hiện một quan điểm nhân sinh rất mạch lạc, trong sáng và có cái nhìn rất khách quan và thông cảm với tác giả Huy Cận. Chính bài thơ của Thường Như đã giúp TMCS nhận diện rõ hơn quan điểm và lí do sáng tác bài thơ Các La Hán chùa Tây phương của Huy Cận. TN đã  tránh lời lẽ phê phán gay gắt với HC về sự phủ nhận vai trò vốn có của Phật giáo và quan điểm nhất thời “cuộc đời dân chúng chỉ tươi đẹp lên nhờ  chế độ  mới đem lại…” Quả như TN đã viết, bài thơ ngày càng chìm vào lãng quên và TMCS đã cố gắng giới thiệu và truyền đạt để bạn đọc trong ngoài nước thấy rõ quả có một thời “định kiến ” kiểu HC   đã tồn tại khá phổ biến trong xã hội VN…
 
Xin mời quý vị đọc và so sánh nguyên tác của Huy Cận và bài thơ đối hoạ của Thường Như và tự rút ra “Cảm nhận” Thơ của mình, như vậy chắc  vô tư hơn:
 
Đối họa bài “Các vị La Hán chùa Tây Phương”
 
 
Theo Tác giả TN :
 
Bài thơ của HC ra đời vào  năm 1960, dựa theo nền tảng nhận định chính thống khi đó là “miền Bắc đang xây dựng , tiến lên Xã hội chủ nghĩa, làm hậu phương vững chắc cho miền Nam đánh Mỹ”. Việc HC khắc họa những pho tượng La-hán chùa Tây Phương theo cách nhìn chủ quan của mình đã thể hiện suy tư của tác giả về cha ông thời phong kiến và nêu lên niềm tin của mình vào chế độ mới, thời đại mới.
 
Tác giả TN viết :
 
Đến nay, chẳng ai còn nhớ ý nghĩa bài thơ là gì mà chỉ nhớ rằng khuôn mặt của các vị La-hán chùa này sao bi thương, sầu thảm đến thế. Đọc bài thơ của HC, tôi cũng đau buồn tang tóc theo tâm trạng các Ngài.
 
Nay có dịp ra  Bắc, về viếng chùa Tây Phương để một lần được nhìn ngắm những pho tượng cổ, tôi thấy tất  cả khác hẳn như mô tả phiến diện của HC.
 
TN thấy:  Rõ ràng không hẳn như mô tả của nhà thơ. Các vị ngồi đó, vẫn an nhiên tự tại. Tuy mỗi người một vẻ mặt khác nhau nhưng thần sắc tạc trong pho tượng vẫn toát lên cốt cách của những bậc siêu thế, xuất trần. Khá khen thay bác thợ tạc tượng tài hoa, thâm ảo. Tôi không có những ý định đối nghịch với bài thơ của Huy Cận, bởi nhân duyên, thời thế và thời cuộc mỗi lúc mỗi khác. Nhưng nay, đất nước đã hòa bình độc lập, nhân dân cơ bản  có đủ cơm ăn, áo mặc, trẻ thơ phần lớn đã được cắp sách đến trường, thanh bình lại ngự trị trên quê hương đất nước. Nên bài thơ của Huy Cận chỉ là tâm tư của tác giả một thời nước lửa đao binh, không phải là bài thơ sống mãi với thời gian. Vả lại, tôi muốn nói rằng cuộc đời dẫu có bi quan hay lạc quan, nhưng đạo Phật không rơi vào hai quan điểm này, đạo Phật là đạo của chân lí, là quy luật của vũ trụ vạn hữu. Những bậc A-la-hán đã vượt qua cảnh giới đối đãi của khổ vui, được mất, dù hoàn cảnh thăng trầm biến dịch, thịnh suy, các Ngài vẫn an nhiên, tự tại giữa dòng đời. Dẫu như thế nào, dẫu gương mặt nào được chạm khắc thì các Ngài vẫn an vị trong cảnh giới siêu xuất của bậc Thánh nhân và tùy duyên hóa độ chúng sanh. Thế nên tôi muốn viết một chút gì đó về các Ngài, theo quan điểm Phật giáo, theo cái nhìn hiện thực nhân sinh.
 
Rõ ràng quan điểm của TN phù hợp với cách nhìn hiện tại của đại đa số công chúng thời nay, nó không mang tính định kiến về hiệu quả hạn chế của tôn giáo như thời kì 1960…Lời Thơ đối hoạ trang nhã, sâu sắc, lịch sự và rất khách quan…Xin mời quý vị đọc và đối chiếu từng khổ, từng ý của hai tác giả:
 
Các vị La Hán chùa Tây Phương CÁC VỊ LA HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG
Tác giả: Huy Cận                   Tác giả: Tường Như
 
Các vị La Hán chùa Tây Phương      Các vị La Hán chùa Tây phương
Tôi đến thăm về lòng vấn vương.    Nay đến thăm về lòng mến thương. 
Há chẳng phải đây là xứ Phật,          Đúng thật nơi đây là xứ Phật,
Mà sao ai nấy mặt đau thương?       Mặt người cảnh hiện nét thanh lương.
 
Đây vị xương trần chân với tay     Nhìn vị xương trần chân với tay
Có chi thiêu đốt tấm thân gầy        Ô hay hư huyễn thấm thân gầy
Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt An huyên trầm lắng nhì thấu thị
Tự bấy ngồi y cho đến nay.            Từ bấy lâu rồi chẳng thị phi
 
Có vị mắt giương, mày nhíu xệch  Có vị mắt giương,nhìn quán triệt
Trán như nổi sóng biển luân hồi    Trán như dội sóng nổi thiên hà
Môi cong chua chát, tâm hồn héo  Tâm tư ôm cả hồn thiên hạ,
Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.    Nguyện độ Ta bà vạn sát na. 
 
Có vị chân tay co xếp lại                  Có vị chân tay ngồi xếp lại
Tròn xoe tựa thể chiếc thai non     Uy nghiêm tĩnh tại chốn non đài
Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối  Đôi tài dài rộng nghe các cõi
Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn.  Khổ luỵ đời như nhịp thoi đưa
 
Các vị ngồi đây trong lặng yên      Có vị ngồi đây trong an nhiên
Mà nghe giông bão nổ trăm miền Nghe cơn cuồng thịnh nổi trăm miền
Như từ vực thẳm đời nhân loại    Nghe hồn  núi đá ngàn năm hiện
Bóng tối đùn ra trận gió đen.       Thuận nghịch nào cũng bởi nhân duyên
 
Mỗi người một vẻ, mặt con người      Mỗi người một vẻ thật tuyệt vời
Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời  Lồng lộng bao dung khắp đất trời
Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã              Từ bi cứu thế tràn ba cõi
Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi. Độ tận chúng sinh chẳng một lời.
 
Mặt cúi nghiêng, mặt ngoảnh sau   Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau.
Quay theo tám hướng hỏi trời sâu  Quy theo tám hướng khắp năm châu.
Một câu hỏi lớn, không lời đáp       Nhìn đàn con dại vào sinh tử,
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.      Ngụp lặn liên hồi chịu khổ đau.
 
Có thực trên đường tu đến Phật   Vẫn biết quay đầu về đất Phật,
Trần gian tìm cởi áo trầm luân       Tràn gian phủi bụi áo trầm luân.
Bấy nhiêu quằn quại run lần chót  Tang thương nhìn thấu cho cùng tận.
Các vị đau theo lòng chúng nhân? Các vị nương, độ lòng chúng nhân.
 
Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu?      Nào đâu bác thợ tạc xưa đâu? 
Sống lại cho tôi hỏi một câu:        Khéo tạc đường mây gieo kinh cầu
Bác tạc bấy nhiêu hình khổ hạnh Bấy nhiêu đường nét ươm đạo vị 
Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau? Nghẹ thuật từ tâm khó so bì
 
Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão  Hay bấy nhiêu tình người thiên cổ
Bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời  Gieo hoa đời trên mỗi khúc gỗ khô.
Là cha ông đó bằng xương máu Như tinh tú dệt vào hồn dân tộc
Đã khổ, không yên cả đứng ngồi.  Vững yên non nước chẳng mơ hồ
 
Cha ông năm tháng đè lưng nặng Theo năm tháng thuyền trôi về bến lặng                                                                             Những bạn đương thời của Nguyễn Du           Gạn nguồn tâm dẫu sóng gió lăng xăng
 Nung nấu tâm can vò võ trán       Gạn lôi mây phù tan vầng trăng hiện   
Đau đời có cứu được đời đâu. Thả thuyền trôi phương độ tuỳ duyên.
 
Đứt ruột cha ông trong cái thuở          Xưa vẫn thế trí-bi muôn thuở
Cuộc sống giậm chân hoài một chỗ  Dấu Phật đồ chỉ rõ nguồn mê
Bao nhiêu hy vọng thúc bên sườn     Bao oan trái xin quay về nương tựa 
Héo tựa mầm non thiếu ánh dương.Phật Pháp Tăng như non tựa bóng trăng kề.
 
Hoàng hôn thế kỷ phủ bao la       Bình minh chiếu rọi hạt sương sa
Sờ soạng, cha ông tìm lối ra      Đá rêu xanh phủ lối quan hà
Có phải thế mà trên mặt tượng   Như nhung như gấm chào khách lạ.
Nửa như khói ám, nửa sương tà.  Nửa khói lam chiều, nửa hương hoa.
 
Các vị La Hán chùa Tây Phương! Tây phương uốn lượn rồng phượng múa
Hôm nay xã hội đã lên đường      Muôn vẻ in vuông ngũ sắc cờ
Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại  Âm dương hoá hiện “không thị sắc”
Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương. Cổ ngư xưa thoai thoải dáng yên bình
 
Cha ông yêu mến thời xưa cũ         AI lên lễ Phật ngàn năm trước  
                                                              
Trần trụi đau thương bỗng hoá gần! Ngàn năm sau cảnh vẫn hoá gần
Những bước mất đi trong thớ gỗ  Phật vẫn hiện thân từ thinh lặng
Về đây, tươi vạn dặm đường xuân. Giáng nhập đời thường giữa muôn xuân.
 27-12-1960                                          13-01-2014
Theo cảm nhận chủ quan của TMCS, ý thức về đạo Phật của Tường Như là đại diện chung cho suy nghĩ của đông đảo của người dân VN bình thường thời nay, còn  lời lẽ trong bài thơ của Huy Cận là nhằm định hướng cho một thiên hướng tư duy hợp với cao trào Cách mạng nhất thời của thời kì 1960, đề cao ý chí chủ quan của con người và sự bất lực của tôn giáo…HC không thể viết khác được trên cương vị của mình khi ấy…
 Cảm nhận về ý thức đã a/h đến sự nhìn nhận về nghệ thuật thơ. Đa số dân chúng chia sẻ quan niệm với TN sẽ cảm nhận dễ dàng giá trị nghệ thuật thơ TN. Ai thực sự tán thành quan niệm như HC sẽ tán thưởng nghệ thuật  trong bài thơ HC.
 
Cảm nhận thơ thực ra không hề biệt lập mà bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nữa- Những người dịch thơ phụ thuộc trước hết vào cảm nhận thơ, dù năng lực ngoại ngữ cao cường đến mấy mà cảm nhận không “thấu”  sẽ không thể dịch tốt được. Tất nhiên năng lực ngoại ngữ non kém thì dù cảm nhận  tốt cũng khó bề diễn đạt đầy đủ sự cảm thụ của mình. Người đọc thơ cũng vậy, nếu thiếu kiến thức cơ bản liên quan đến chủ đề thì khó bề cảm nhận đủ ý đồ và chủ địch của bài thơ. Với bài Các vị La Hán  chùa Tây phương, nếu thực tế chưa hiểu gì về La Hán và các khái niệm cơ bản về Phật giáo … thì cả tác giả lẫn độc giả dễ suy nghĩ chệch choạc, người dịch cũng bị “chơi vơi”  máy móc dịch ra những câu thơ vô hồn, vô nghĩa...về ý tưởng, dù trình độ ngoại ngữ cao cường đến mấy !
 
CHÚT ÍT CẢM NHẬN CỦA TMCS  KHI ĐỌC  VÀ DỊCH THƠ CÁC VỊ LA HÁN…
 
Trước khi giới thiệu và dịch sang Anh-Hán bài Các vị La Hán chùa Tây Phương, TMCS đã n/c trước các nội dung liên quan :
Chùa Tây Phương.
Sự tích các vị La Hán.
Những nét chính về cuộc đời và sáng tác của CH Cận.
Dư luận và sự đánh giá “chính thống” (có định hướng chỉ đạo) khi bài thơ mới ra mắt.
SGK – hướng dẫn giảng dạy – bài văn mẫu của học sinh được điểm cao khi viết về bài thơ này.xuất bản từ các trung tâm văn hoá lớn của thế giới…
So sánh dư luận phản biện khi mới đăng bài thơ này với dư luận hiện nay chung quanh bài thơ.
Các dịch giả đã dịch bài thơ này và sự cảm nhận của họ qua lời dịch…
V.v… và v.v…
Thời nào thì cũng khó tránh trong số các học “giả” thường là các “nhà” lí luận phê bình văn học , có cá biệt vài   vị theo chiều hướng “độc tôn” chỉ biết lí lẽ của mình, chỉ thấy mình đúng… mà xa xưa cụ Phan Khôi từng coi là “học  phiệt”, …TMCS  cảm thấy trong thi ca,  chắc gọi họ là “THI phiệt” có lẽ chính xác hơn …Khi đa số công chúng THƠ đã nhận ra những nội dung hạn chế trong bài thơ của HC, thì vẫn có cá biệt học “giả” khư khư giữ cách nhìn như thời 1960…
Rõ ràng Thơ ca là tấm gương phản ảnh lịch sử và bối cảnh xã hội. Vào năm 1960, khi hầu như mọi người đang háo hức về một tương lai vô cũng hạnh phúc sau “Điên biên chấn động đia cầu” và tưởng như tất cả sẽ thuận lợi và nhanh chóng đổi đời…Huy Cận viết bài Các vị La Hán…cũng trong tâm trạng hưng phấn chung (chứ không hẳn hoàn toàn là “nói dối” như Xuân Sách đã phác hoạ bằng thơ, so với một vài Văn nghệ sĩ “cơ hội chủ nghĩa” thời đó, thì HC  chưa đến mức … quá đáng…). Với tâm trạng quá hưng phấn, lại “vô thần, ngoại đạo” chưa tìm hiểu thấu đáo  về giáo lí cơ bản của đạo Phật, Huy Cận đã có cái nhìn méo mó về hình hài và lệch lac về nội tâm các vị La Hán với các từ ngữ thiếu nghiêm chỉnh như méo xệch, co quắp, thai non…HC hiểu nhầm và coi như các vị La Hán là vô tác dụng với nỗi khổ của chúng sinh, chỉ có xây dựng cuộc sống mới như đường lối đề xuất lúc đó mới đưa nhân dân tới mùa Xuân hạnh phúc… Nếu biết được  hàng chục năm sau dân ta còn điêu đứng về những chuệch choạch khiến đất nước kiệt quệ, kinh tế trì trệ thụt lùi hàng thập kỉ…thì chắc HC ko bốc đồng và”hạ bệ” uy tín các vị La Hán như vậy...Để xảy ra “nguồn cơn ” ấy đâu có phải lỗi hay sự bất lực của các vị La Hán…Các nhà bình thơ và soạn SGK thời đó cũng chỉ là mắc lỗi “té nước theo mưa” và chưa kịp tỉnh táo nhận định rõ thời cuộc…
Còn mãi sau này, sau khi sự việc đã hai năm rõ mười thì có nhiều bài phản biện “đánh trúng từng roi” vào từng khổ thơ, từng câu từng chữ trong bài thơ Các vị La Hán… của HC. Đánh roi nào trúng roi ấy : tội mô tả bôi bác ngoại hình nội tâm các vị LH, tội bốc đồng ra một mùa Xuân tưởng tượng sau khi các vị LH bất lực để chúng sinh khổ mãi… TMCS coi các vị phản biện này “tài giỏi giống  hệt như Khổng Minh sau trận đánh ! Tiếc thay, đất nước và nhân dân lại chỉ cần Khổng Minh trước mỗi trận đánh !!!
Chính Thường Như đã nêu ra bài thơ và đôi lời tâm sự thận trọng đúng mức nhất…và tỏ ra thông cảm với HC hơn ai hết ! Riêng ở khía cạnh này TN rõ ràng có tầm nhìn tốt hơn một số học”giả”…
TMCS đã đọc mấy bản dịch của các dịch giả trong ngoài nước và thấy rằng :
TMCS nhát gan. xin luôn luôn được nhận chân “chiếu dưới” , đặng hưởng hai chữ “thới bình” mà đôi khi khẽ khàng bộc bạch đôi dòng tâm sự, chủ yếu vẫn là “Nhời quê cóp nhặt dông dài” nhằm cung cấp chút tư liệu tham khảo, chắc là đôi chỗ hơi thừa với quý vị……
Có lẽ trong Phụ Trương kì này, TMCS sẽ tạm dẹp món “Truyện dí dủm” mà bàn về chữ “cảm ” trong thơ …chưa biết chừng nội dung này lại dí dủm hơn cả chuyện dí dủm !!!
                                                X
                                              X   X
TTTB@ No111 sẽ giới thiệu tiếp khổ 9-10 và các bản dịch.
Các phần khác như thường lệ. Riêng Phụ trương sẽ không có Truyện dí dủm  mà chỉ có Chuyện về Cảm nhận thơ- có lẽ chả dí dủm tẹo nào !
Kính thỉnh nhã giám
 TTTB@ – TMCS
CÁC VỊ LA HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG (khổ 9-10)
Thơ : HUY CẬN
Dịch
TMCS : Anh , Hán
Trịnh Phúc Nguyên : Pháp
Phan Hoàng Mạnh : Pháp
 Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu? 
Sống lại cho tôi hỏi một câu: 
Bác tạc bấy nhiêu hình khổ hạnh 
Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau? 

Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão 
Bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời 
Là cha ông đó bằng xương máu 
Đã khổ, không yên cả đứng ngồi
 
Anh: TMCS
 
Where are you now, the master of ancient days!
Relive, please – I’d like to ask you
You carved so many ascetic statues,
Did you want to tell us the real stories about Buddha, is it true?

There were so many souls in the tempest
There were so many lives with so complicated confidence.
It’s true that our authentic ancestors
Have always suffered great misery
They never have got a peaceful moment even at their leisure.
 
Hán_ Phiên âm, dịch nghĩa : TMCS
 
Hà phương tố tượng lão sư phụ,  Sư phụ tạc tượng ở nơi nào?
Kính thỉnh tái sinh dục vấn ông    Xin tái sinh, muốn hỏi ông :
Đa thiểu khổ hình ông tố tượng   Ông đã tạc bao hình ảnh đau khổ
Thực ma Phật tích dĩ truyền thông? Thật chăng chuyện Phật đã truyền lại ?

Linh hồn đa thiểu tại phong bạo    Có bao nhiêu linh hồn trong bão tố 
Nhân thế tương đồng, tâm sự đồng Là có  sô đời người cùng tâm sự.
Cốt nhục tổ tiên, thị đích thực     Tổ tiên đích thực cốt nhục
Thống bi, toạ lập bất thong dong. Đau buồn, đứng ngồi chẳng được lúc nào yên.
 
 
Chữ Hán: TMCS
 
何方塑像老师父
敬請再生欲問翁
多少苦形翁塑像
實麼佛跡已傳通
靈魂多少在風暴
人世相同心事同
骨肉祖先是的實
痛悲坐立不從容
Pháp: Trịnh Phúc Nguyên
Ô maitres artisans d’antan,ou êtes –vous?
Revenez au monde,répondez à ma question!
Vous avez sculpté autant d’images des suppliciés,
Est-ce vrai que vous racontez entre vous l’histoire de Bouddha?
Ou est-ce que ces âmes au coeur des vents et des tempêtes,
Sont autant de confidences,autant de vies?
Ce sont nos ancêtres avec leurs os et leur sang,
Voués à des souffrances sans fin,en position debout ou assise.
 
Pháp: Phan Hoàng Mạnh
 
Où donc est le grand Sculpteur de jadis?
Ressuscitez-vous pour que je vous pose une question.
Vous avez sculpté tant d’images d’ascètes,
Est-ce vrai que c’est la vie de Bouddha que vous avez
                                          voulu raconter entre vous?

Ou bien, toutes ces âmes perdues dans la tempête,
Toutes ces aspirations, toutes ces vies…
Sont celles de nos pères avec leurs os et leur sang,
Toujours misérables et sans tranquillité,  qu’ils 
                                               soient debout ou assis?:
PHỤ TRƯƠNG TTTB@ No111
                          TMCS


LỜI XIN LỖI

TTTB@ chân thành xin lỗi quý bạn đọc vì các sơ xuất :

  • Imeo 1 – Email 1 phải là DẠO ĐẦU TTTB@ No 111 nhưng đã “gõ” nhầm là PHỤ TRƯƠNG….
  • Bài thơ của Thường Như đối hoạ với bài Các vị La Hán của HUY CẬN,vì muốn tiện quý vị đối chiếu từng câu giữa hai bài nên gõ chữ nhỏ quá, xin gõ riêng lại bài này để quý vị dễ đọc.
  • Trong câu về SGK:
SGK – hướng dẫn giảng dạy – bài văn mẫu của học sinh được điểm cao khi viết về bài thơ này.xuất bản từ các trung tâm văn hoá lớn của thế giới…
 
thừa “ xuất bản từ các trung tâm văn hoá lớn cả thế giới” bị lạc từ trên mạng vào bài viết”.

Kính mong lượng thứ.

Bài thơ của Thường Như:

CÁC VỊ LA HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG
Thường Như
 
Các vị La Hán Chùa Tây Phương
Nay đến thăm về lòng mến thương
Đúng thật nơi đây là xứ Phật
Mặt người cảnh hiện chốn thanh lương.
 
Nhìn vị xương trần chân với tay
Ô hay, hư huyễn tấm thân gầy
An nhiên trầm lắng nhìn thấu thị
Tự bấy lâu rồi chẳng thị phi.
 
Có vị mắt giương, nhìn quán triệt
Trán như nổi sóng dội thiên hà
Tâm tư ôm cả hồn thiên hạ
Nguyện độ Ta-bà vạn sát-na.
 
Có vị chân tay ngồi xếp lại
Uy nghiêm tĩnh mặc chốn non đài
Đôi tai dài rộng nghe các cõi
Khổ lụy đời như nhịp thoi đưa.
 
Các vị ngồi đây trong an nhiên
Nghe cơn cuồng thịnh nổi trăm miền
Nghe hồn núi đá ngàn năm hiện
Thuận nghịch nào cũng bởi nhân duyên.
 
Mỗi người một vẻ, thật tuyệt vời
Lồng lộng bao dung khắp đất trời
Từ bi cứu thế tràn ba cõi
Độ tận chúng sanh chẳng một lời.
 
Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau
Quay theo tám hướng, khắp năm châu
Nhìn đàn con dại vào sinh tử
Ngụp lặn liên hồi chịu khổ đau.
 
Vẫn biết quay đầu về đất Phật
Trần gian phủi bụi áo trầm luân
Tang thương nhìn thấu cho cùng tận
Các vị nương, độ lòng chúng nhân.
 
Nào đâu, bác thợ tạc xưa đâu?
Khéo tạc đường mây giữa kinh cầu
Bấy nhiêu đường nét ươm đạo vị
Nghệ thuật từ tâm khó so bì.
 
Hay bấy nhiêu tình người thiên cổ
Gieo hoa đời trên mỗi khúc gỗ khô
Như tinh tú dệt vào hồn dân tộc
Vững yên non nước chẳng mơ hồ.
 
Theo năm tháng thuyền trôi về bến lặng
Gạn nguồn tâm dẫu sóng gió lăng xăng
Gạn lối phủ mây tan vầng trăng hiện
Thả thuyền trôi phương độ tùy duyên.
 
Xưa vẫn thế trí-bi muôn thuở
Dấu Phật đồ chỉ rõ nguồn mê
Bao oan trái xin quay về nương tựa
Phật, Pháp, Tăng như non tựa bóng trăng kề.
 
Bình minh chiếu rọi hạt sương sa
Đá rêu xanh phủ lối quan hà
Như nhung, như gấm chào khách lạ
Nửa khói lam chiều, nửa hương hoa.
 
Tây Phương uốn lượn, rồng phượng múa
Mái ngói in vuông ngũ sắc cờ
Âm dương hóa hiện “không thị sắc”
Cổ ngư xưa thoai thoải dáng yên bình.
 
Ai lên lễ Phật ngàn năm trước
Ngàn năm sau cảnh vẫn hóa gần
Phật vẫn hiện thân từ thinh lặng
Giữa nhịp đời thường, giữa muôn xuân.
Hà Nội, 13.01.2014
 
 
 
 
 TRUYỆN DÍ DỦM.


LAN MAN VỀ “CẢM”

Như trong Dạo đầu đã viết : Kì này sẽ không có TRUYỆN dí dủm nào cả, chỉ có  CHUYỆN lan man về CẢM NHẬN, gọi đầy đủ là CẢM NHẬN THƠ (THI CẢM).

Đây là câu chuyện không đơn giản. Bất kể là vua chúa, giầu sang, bình dân, trẻ già, trai gái…đã vào đến cõi Thơ thì bình đẳng tuốt. Học giả đã mấy ai viết được câu nào hay như Ca dao đâu …

Trước cùng một sự việc, một câu thơ… Cảm có thể rất KHÁC NHAU , trừ trường hợp cá biệt, nói chung rất khó kết luận đúng sai…

 Thí dụ –

  Bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây Phương” , năm 1960 Huy Cận “ CẢM” theo cương vị mình ở vào hoàn cảnh xã hội lúc đó, viết nên tác phẩm được khen nức khen nở, chọn vào SGK …nhưng nửa thế kỉ sau, thi sĩ Thường Như viết bài Đối hoạ sâu sắc , tinh tế với cảm nhận khác hẳn… Dân tình đọc quên mất cái Hay thời trước của HUY Cận, vì xuất hiên nét đẹp nổi bật trong cách CẢM mới mẻ của Thường Như !

TMCS có lúc nghĩ :  HC còn đến nay chắc cũng sẽ có khả năng thay đổi cái “Cảm” của mình ! 

Chính Huy Cận lúc sinh thời đã hồi tưởng:

Năm 1940 ông đã đến thăm chùa Tây phương lần đầu, định làm bài thơ về các vj La Hán , nhưng thấy bế tắc trong “Cảm”, tuy trong lòng rất ngưỡng mộ khung cảnh chùa và các pho tượng… Hai mươi năm sau, ông dẫn đoàn khách Trung quốc đi thăm chùa Tây phương. Trong lần đến chùa lần thứ hai này, với sự hưng phấn sau thắng lợi của cuộc KC và những thay đổi trong đời sống của đất nước và dân tộc, ông đã có “Cảm” thoát ra khỏi bế tắc của ông cha và viết  “thành công” bài này…

TMCS thấm thía: 

Cùng một cảnh, chẳng những mỗi người có thể Cảm khác nhau, và ngay chính một người vào những thời điểm khác nhau  cũng có thể “cảm” khác nhau…Từ đó, nếu thật lòng mà viết ra, sẽ có “cơ” hình thành những bài thơ HAY, chỉ sợ nhất là…NÓI DỐI !

Trường hợp này, HC đã không nói dối, nên TMCS mới giới thiệu để quý vị thấy rằng vào năm 1960 ở VN từng có suy nghĩ như vậy thể hiện trong thơ Việt… Đối với TMCS , đây cũng là một bài học về chữ CẢM khi đọc thơ…Đọc thơ mà vô Cảm như nhìn vào bức vách thì vạch đầu gối mà xem cho đỡ mất công !
Còn với việc Làm Thơ và Dịch thơ, CẢM là yếu tố quan trọng bậc nhất !…Ngôn ngữ, thi pháp… chỉ là phương tiện không thể thiếu, nhưng ở chiếu dưới so với CẢM.  Đấy là quan niệm KHÓT TA BÍT của TMCS ! Xin lan man tiếp về chữ “CẢM”…

                                                          X
                                                       X    X

Mấy năm nay, theo đuổi công việc quá sức mình : dịch Thơ “MỚI” Việt để qua TTTB@ đem thơ Việt đến với bà con VN hải ngoại và các bạn nước ngoài…Công việc khá trôi chảy…tuy vấp váp không ít ! TMCS đặc biệt chú ý theo rõi các tạp chí Văn Thơ đa ngữ , chủ yếu là các tạp chí nước ngoài hay đăng tải các bài dịch văn thơ Việt để học tập kinh nghiệm. Đó là những tạp chí đa số  có uy tín toàn cầu với Ban Biên tập và những dịch giả rất chuyên nghiệp, học vấn và đạo đức nghề nghiệp rất cao – không hề sa đà vào chuyện thời cuộc và các xung đột xã hội, tôn giáo, sắc tộc…Đôi khi, các tạp chí đó đã đăng lại các bản dịch  của TMCS…với dụng ý rất tốt : giới thiệu thêm một cách CẢM NHẬN THƠ chủ yếu được  thể hiện qua lời dịch Anh, Hán, đôi khi cả Pháp…của TTTB@.Qua đó TTTB@ cũng đã có được cơ hội “trình làng” với bạn đọc năm châu…

Nhân bàn về chữ CẢM, TMCS xin dẫn chứng mấy câu trong bài Tây tiến  của Quang Dũng (TTTB@ đang dự định cũng sẽ giới thiệu bài này theo cách làm truyền thống của riêng mình ) để quý vị thấy được cách nhìn  KHÁCH QUAN và chịu thương,  chịu khó KHIÊM TỐN  học hỏi của TTTB@ trước các tạp chí bậc Đàn anh .
 
Cổ nhân có câu : Bất sỉ hạ vấn, huống hồ TMCS được học các bậc Thày, cớ sao mà phải “xấu hổ” ? Được cái vào thời đại a còng @ , tầm sư học đạo không phải trèo đèo lội suối, lên thác xuống ghềnh vất vả như xưa…

Số là:

TMCS được hai vị dịch giả kì cựu TPN  và PHM  “ chi viện ” cho TTB@ hai bản dịch Pháp bài Tây tiến của Quang Dũng theo đề xướng của TMCS, TMCS cũng đã dịch “hòm hòm”- chưa hoàn chỉnh bản Hán và Anh, đọc hai bản Pháp thấy có đôi chỗ khó hiểu, phân vân bèn đánh liều dịch mươi câu  Pháp ngữ gửi về xin ý kiến. Hai vị dịch giả đã tận tình chỉ dẫn với tư cách của hai bâc huynh trưởng, lão thành kì cựu , nhưng TMCS vẫn áy náy và phân vân, bứt rứt…bèn leo lên mạng tra cứu tham khảo thêm…

May thay tìm được bản dịch Tây tiến của Đàm Trung Pháp một dịch giả tên tuổi. Đó là bản dịch ra thơ Anh. Khỏi phải bàn : chất lượng ngôn ngữ  Anh thì với trình độ TMCS bản dịch của ĐTP chả khác gì bản viết của người ANH, người MỸ rồi ! Vốn dĩ cả ngày xí xố, lang thang lếch thếch mọi nơi mọi chốn, đụng độ đí đốp với đủ cỡ tây đầm: thày giáo cô giáo, bác sĩ, nhân viên bán hàng từ siêu thị đến cửa hàng tạp hoá, chợ búa, chủ tiệm cà phê, thợ cắt tóc, lại đọc báo, xem phim , bóng đá, thời sự TV…TMCS thấy ngay chất Ăng lê gần như chính hiệu trong lời dịch của ĐTP, không bận tâm gì về ngôn ngữ cả…

V/đ là đi tìm cái CẢM của ĐTP trong lời dịch Anh ngữ.


Xin khoanh lại , vì bài thơ dài nên ở đây TMCS xin phép chi đề cập bốn câu đầu của bài Tây tiến (Quang Dũng). 

TÂY TIẾN  (chỉ trích bốn câu đầu)
Thơ QUANG DŨNG

Tây tiến xa rồi sông Mã ơi,
Nhớ về rừng núi , nhớ chơi vơi.
Sài khuông, sương lấp đoàn quan mỏi
Mường lát hoa về trong đêm hơi.

Thoạt đọc nguyên tác: TMCS ngẩn người vì mấy từ “chơi vơi”, “hoa về”, “đêm hơi”.

Thế nào là nhớ chơi vơi ? Chơi vơi là gì , tại sao lại nhớ chơi vơi ?
 Hoa về ? hoa đi đâu – có đi mới có quay về chứ !
Đêm hơi ? sao không nói đêm sương ? hay đêm mưa…

Phải chăng QD quá lệ thuộc vào gieo   vần : …sông Mã ơi, nhớ chơivơi, trong đêm hơi ?

(Đêm hơi ? đang đọc … bỗng TMCS “phì cười” liên tưởng đến “lợn hơi”, “cân hơi”, “cân móc hàm”… Ôi, tiếng Việt hay quá, thảo nào thơ Việt hay không kém thơ nước nào trên hành tinh này !!!)

Toàn những từ có sẵn trong tiếng Việt nhưng tác giả QD cố tình cố ý  dùng rất khác cách dùng thông thường, để tạo “ấn tượng”, chứ không phải chỉ để “gieo vần “ … Phải chăng đó cũng là một trong những dấu ấn của THI TÀI !

Và TMCS tạm chấp nhận cách hiểu của mình để dịch:

Nhớ chơi vơi : trên đường hành quân, người lính mang trong lòng nỗi nhớ núi, nhớ rừng , đó là nỗi nhớ bấp bênh, lúc nhớ lúc không, lúc nhiều lúc ít, không ổn định về trạng thái và mức độ nhớ…

Hoa về: làng bản đang tươi vui như vườn hoa nở rộ, trở nên điêu tàn rồi đêm nay lại tươi vui như hoa đã quay về … có nghĩa là tái khởi sắc…

Đêm hơi : đêm bao trùm trong làn hơi ẩm của sương hoặc của mưa mù mịt.

Các bản dịch Anh, Hán của TMCS đều dựa theo “cảm nhận” trên. Chả biết đúng sai, vì ít nhiều  chỗ bị vênh với cách dịch của TPN và PHM. TMCS sẵn sàng nhận phần SAI về mình trước, nhưng xin phép bộc bạch cái CẢM của mình.

Đem đối chiếu với các bản dịch của các dịch giả trong nước TPN và PHM thấy vênh nhau “khá nhiều”, bằng linh tính  rất bản năng, TMCS thấy ngay : sự vênh nhau là do  CẢM khác nhau. Trong phạm vi bài này , TMCS chỉ xin XOÁY vào từ CHƠI VƠI và gác lại mọi chuyện đợi dịp khác !!!
Sau khi TMCS dịch sơ sơ ra bản Pháp mấy câu theo Cảm của mình và được hai vị dịch giả trên góp ý chân thành theo CẢM của các vị… Nhưng thực lòng TMCS cảm động về tình cảm, song vẫn áy náy về  cách CẢM của các vị ở một khía cạnh nào đó chưa thực sự hoàn chỉnh, chưa diễn hết ý của QD. 

Td:

Nhớ chơi vơi: theo bản dịch của TPN là khơi dậy  kỉ niệm nhớ quê (nhớ nhung)… (ressurgir le souvenir nostalgique)
Nhớ chơi vơi : theo bản dịch của PHM là một nỗi buồn mơ hồ.(une vague  mélancolie ).

TMCS thành thật nhận xét rằng: “Khơi dậy kỉ niệm nhớ quê/nhớ nhà…” và “Một nỗi buồn mơ hồ” đều chưa phải là “NỖI NHỚ CHƠI VƠI” mà QD đã nêu trong thơ. Càng nghĩ càng thấy các kiểu CẢM đó xa lắc xa lơ cái Cảm” CHƠI VƠI” của QD…

Đành rằng tách khỏi cụm từ “nhớ chơi vơi” thì về ngôn ngữ Pháp , các cụm từ trên của hai vị đưa ra đều tuyệt vời, “chuẩn không cần chỉnh” nhưng “CẢM” như vậy thì chả mấy dính dáng đến NHỚ CHƠI  VƠI. Vì chơi vơi không phải thế, chơi vơi là CHÊNH VÊNH, KHÔNG ỔN ĐỊNH, BẤP BÊNH, MONG MANH, KHÔNG DÍNH BÁM, BẤU VÍU VÀO ĐÂU……chí ít phải có hàm ý dễ thay đổi, có sự chông chênh, bấp bênh về trạng thái, mức độ, sự tồn tại…v.v…

Chính bản dịch Ăng-lê của ĐTP mới thực sự là bản dịch tương đối có tính “sát sàn sạt”, đã tháo gỡ cơ bản cho thắc mắc của TMCS.

Bản Ăng- lê của ĐTP :

Westward March

Way behind us is the Mã River , Westward March troops!
Yet thinking of jungles and mountains is still a staggering nostalgia In Sài Khao  fog concealed the worn-out soldiers
In Mường Lát  on a steamy night the flowers returned

STAGGERING chính là bấp bênh, loạng choạng, chơi vơi chới với, chao đảo, không vững…


Bản dịch của TPN:

Le fleuve Mã ,hélas,est déjà loin;Oh!Marche vers l’Ouest,
En moi,ressurgit le souvenir nostalgique des forêts et des montagnes,
A Sai-khao,le brouillard camoufle la troupe exténuée,
A Muong-lat,les fleurs reviennent dans la nuit vaporeuse.

Bản dịch của PHM:

Le fleuve Mã – Ô Marche vers l’Ouest!-  est déjà bien éloigné.
Dans une vague mélancolie, on pense aux monts et aux forêts.
À Sài Khao, le broullard cache la troupe épuisée
Et des freurs embellissent Mường Lát dans la nuit estompée.

Bản Frăng-xe nháp của TMCS:

Oh! La marche vers l’Ouest
Le fleuve Ma  est déjà bien éloigné
Avec la nostalgie précaire* dans note coeur
Nous pensons à nos monts et nos forêts.
À Sài khao, le brouillard occulte  la troupe exténuée.
Et Mương Lát refleurit dans cette nuit voilée 

Từ điển uy tín, mới nhất en ligne Dict. Lar (2017)  cho ba định nghĩa kèm thí dụ rất minh bạch rõ ràng: Từ précaire có các nghĩa chính:

Qui n’existe ou ne s’exerce que par une autorisation révocable : Poste précaire.
Qui n’offre nulle garantie de durée, de stabilité, qui peut toujours être remis en cause : Santé précaire. Emploi précaire.
Qui est d’une sécurité douteuse : Un abri précaire.



Từ điển này có 92.000 từ đồng nghĩa và 29.000 từ trái nghĩa, đã cho từ đồng nghĩa và trái nghĩa với précaire như sau:

 Qui n’offre nulle garantie de durée, de stabilité, qui peut…
Synonymes :
menacé
Contraires :

Có lẽ  mấy chữ đánh dấu * sát với nghĩa chơi vơi hơn cả.

Với vốn liếng trang bị “còm” như vậy, TMCS phóng  xe đến nhà bà giáo Ăng lê vừa nghỉ hưu sau bốn chục năm dạy văn học English (nghĩa là văn học tiếng Anh của người Anh và  của người nước khác bằng Anh ngữ (td : thơ Tagore). Tình cờ TMCS được vinh dự gặp một vị giáo sư là anh họ bà giáo có nửa thế kỉ giàng dạy và n/c văn học Âu châu ở Anh, Pháp, Thuỵ sĩ, Italia, là cố  vấn Pháp ngữ của cộng đồng Francophone… vừa bay từ London sang đây. Cụ thạo cả Latinh. TMCS liền xuất trình tất cả các bản dịch Anh, Pháp trên – cả bản “cà cộ” nhất của mình ! và khoanh tay nghe lời chỉ dẫn của vị G/s , đồng thời lễ phép xin được ghi âm để về nhà  n/c thêm . Bà giáo cũng lịch sự xin nhường lời cho ông anh họ cả buổi hôm ấy…

ÔI! một buổi “Phùng sư học đạo” ngoài dự kiến !

Sau khi y/c TMCS dịch xuôi, nghĩa đen từng chữ , từng câu của nguyên tác, cụ giành nhiều lời khen cho bản dịch của ĐTP : sát và đủ, đồng thời  rất Ăng-lê. Các bản còn lại (của TPN, PHM, TMCS) cụ cho rằng nói chung là “đạt”, có nhiều chỗ hay và rất hay, tuy đôi chỗ vênh nhau và dịch chưa hết ý nguyên tác  về nghĩa đen (như TMCS đã diễn xuôi), cụ cũng nêu ý kiến rất chân thành: tất nhiên khi dịch thơ người ta có quyền “xê dịch”, ở các mức độ khác nhau, bản nào trong các bản Pháp cũng chấp nhận được và gợi cảm hứng tốt cho người đọc ! Cụ khuyên chớ nên quá băn khoăn về một vài từ cá biệt mà hãy nắm cái tinh thần chung toát ra từ cả bài dịch. Theo cụ rất có thể , không phải trường hợp nào cũng tìm ra từ tương đương giữa hai ngôn ngữ để dịch “sát sàn sạt” vì mỗi thứ ngôn ngữ đều có đặc điểm riêng“ . Tất nhiên còn  v/đ thi pháp, vần và nhịp thơ,…

Về nhịp, vần cụ tự nhận mình  thuộc phái  “cổ”, không ưa thơ không vần chỉ có ý và tứ thơ (dù là thơ dịch !). Do đó cụ có ý đề cao kiểu dịch của dịch giả PHM : không bị ép vần chỗ nào. ĐTP gieo “soldiers” với “nostalgia” cụ cho là ép cho ra vần, vì nostalgia trong Anh ngữ đương đại thường  nặng về nghĩa nhớ quá khứ (hoài cổ), rất ít dùng với nghĩa nhớ nhà , nhớ quê …như  nostalgie của Pháp…

Về ý thì cụ thích cách dịch của TPN, chỉ tiếc là đọc lên nghe như mấy câu văn xuôi, hoàn toàn chả có tí vần nào , cụ không quen với loại hình thơ không vần…Riêng về cụm ressurgit le souvenir nostalgique của TPN và  une vague mélancolie của PHM, cụ thấy  xa nguyên tác nếu so với lời dịch nghĩa đen ra văn xuôi của TMCS và không hàm ý chơi vơi, chới với, bấp bênh như từ staggering của ĐTP. Cụ nói:Trước đây, giới trí thức quý tộc Anh sính latinh thường viết  precarious thay cho staggering là từ thuần Ăng-lê. Thực chất hai từ này tương tự nhau về ý bấp bênh, chao đảo, chới với không vững…nhưng bây giờ thị hiếu khác rồi: người Anh thích quay về từ thuần Ăng-lê!

 Cụ giảng : từ staggering là từ thuần Ăng-lê có hai gốc, nếu là Pres. participle dùng làm tinh động từ thì có nghĩa hẹp : loạng choạng, chới với, chao đảo như một vài nghĩa của từ đa nghĩa  precarious có xuất xứ từ  precarius của tiếng Latinh hàm nhiều nghĩa rộng hơn và nhập vào ngôn ngữ nhiều nước Tây Âu mang theo nhiều nghĩa gốc : bấp bênh, chênh vênh, chơi vơi,chông chênh, chới với, không  vững, mong manh, rủi ro, nhất thời… . Với Pháp : précaire, précairement. précairité. Với Anh : Precarious, precariously, precarity… (Còn từ Staggering là adj. thuần tuý thì chỉ có nghia là kinh ngạc.)  Nhưng người Anh hiện đại thiên về sử dụng tiếng Anh thuần Ăng lê, theo thị hiếu và thói quen thời thượng, đa số người Anh nói và viết “staggering “ với nghiã chơi vơi, loạng choạng, chao đảo- như ĐTP- chứ không  dùng precarious như xưa, còn người Pháp vốn hào hiệp và phóng khoáng, nay vẫn dùng thoải mái hầu như với tất cả các nghĩa của precarius latinh :  la santé précaire, une position précaire, une vie  précaire,une planche précaire , le bonheur précaire, poste précaire   và tất nhiên …cả situation, salaire và … nostalgie précaire  v.v…và v.v. Tất cả đều hàm ý bấp bênh, chông chênh, không bền vững, mong manh, thậm chí rủi ro, nhất thời… TMCS  đã dao động khi nghe góp ý là Précaire chỉ có nghĩa “tạm bợ”,”tạm thời” không đi với nỗi nhớ nhung được, là vì chỉ  học “lỏm” trên “thực tế giao tiếp”,xem phim, xem báo, rồi thấm, khi  gặp ngữ cành na ná thì dùng theo bản năng như người bản ngữ, ít đào sâu về gốc gác, xuất xứ…, của từ này.

 Giờ này đây, hoàn hồn hoàn vía ngồi nghe lại ghi âm lời cụ G/s  và gõ mấy dòng này, TMCS chợt liên tưởng đến từ Hán Việt của ta: Td- Nữ là chỉ phái nữ, con gái, đàn bà…Ta có thể nói nữ sĩ, nữ ca sĩ, nữ chiến sĩ, nữ tướng…nhưng có thời ta muốn thuần Việt để giữ gìn “sự trong sáng của tiếng Việt” đã đi quá đà : gọi nữ dân quân là dân quân gái, gọi nhà văn nữ là nhà văn gái…sau thấy “chướng quá” nên   đã ngưng lại không thì trong tiếng  Việt đã có “ thay vì nữ tướng đã là “tướng gái, tướng bà”… nghe  cứ như quân tam cúc ! 

Xét cho cùng ngôn ngữ  có phần do tập quán. Thí dụ : hồi TMCS vào SG ngay sau 30/4, khi nghe phát thanh viên TNVN nói : “Các bạn nghe đài…”, dân SG thấy là vô lễ, vì trong số “các bạn nghe đài” có nhiều người đáng tuổi ông bà, cha chú của cô phát thanh viên. Sau đó hình như một vị cán bộ Tuyên Huấn  CAO CẤP ở TW  đã giải thích: “không phải cô phát thanh viên xưng hô thế, mà là cái ĐÀI nó gọi các cụ là các BẠN!”. TMCS thấy rằng quả là mấy từ “quý vị thính giả” trên “đài địch” tuy là từ Hán Việt nhưng nghe lễ phép với người già và lịch sự với người trẻ, kể ra nếu không vì “tự ái miền” hoặc “tự ái chế độ ưu việt” thì ta nên học tập  “đài địch”…Nhưng khi đó chả ai dám hé răng nửa lời ! Bây giờ thành quen, quá quen…TMCS đã U90 đôi khi nghe các anh các chị phát thanh viên xướng ngôn “các bạn…” hình như chả quan tâm gì nữa…Thực ra giữa từ thuần Việt và Hán Việt tuy cùng nghĩa , nhưng có chỗ  khác nhau về trường hợp sử dụng, không dùng lẫn được. Thí dụ : bình thường người ta nói “rung”, nhưng trong Vật lí, Cơ học lại dùng từ “dao động” – gồm dao động điều hoà  và dao động ngẫu nhiên”, còn trong lãnh vực chính trị tư tưởng, dao động lại có nghĩa xấu : lập trường chính trị không vững chắc…
Những từ gốc la tinh và từ thuần của mỗi ngôn ngữ chắc cũng như vậy, tuy không phải hoàn toàn giống nhau- nghe lại đoạn ghi âm thấy  ĐTP rất thạo Ăng lê đương đại , thật sự đáng nể…
Ông cụ từng đi các nước trong Cộng đồng Pháp ngữ và từng gặp bà Nguyễn Thị Bình, ông Nguyễn Khánh… và nhận xét: thực tế ở VN so với các nước trong cộng đồng, tiếng Pháp không còn được nói và viết phổ biến, đặc biệt là không bao giờ dùng giữa những người Việt với nhau, với người nước ngoài cũng chỉ là Ăng-lê…Có lẽ chỉ còn lớp người  như bà Bình, ông Khánh hoặc trước nữa  chú ý duy trì khả năng sử dụng Pháp ngữ khi gặp người Pháp và họ quen với tiếng Pháp từ giữa thế kỉ 20 về trước , nên cá biệt từ ngữ, nhất là ngữ điệu, ngữ âm… nhiều khi không còn thích ứng với Pháp ngữ đương đại…nếu phát biểu theo cảm tính thì có lẽ tiếng Pháp ở VN đã bị lạc lõng trên nửa thế kỉ, kể từ khi người Pháp chấm rứt sự hiện diện ở VN. Những người Pháp trẻ tuổi bây giờ nếu nói chuyện hoặc đọc những câu văn nặng về cung cách “kinh viện” ( acdémique) với các cụ già VN chắc sẽ có nhiều lúc ngỡ ngàng, tất nhiên là vẫn hiểu nhau……

( Còn nhớ, dịch giả NC của TTTB@ đã có lần hàn huyên, tâm sự vớiTMCS :
Trong lần trung chuyển – transit – ở một sân bay Pháp, sau thời gian trò chuyện, lúc chia tay, một chàng trai người Pháp  đã nói với NC : “Xin cám ơn, hôm nay tôi được nghe ông nói lại thứ tiếng Pháp mà cụ nội tôi đã nói khi còn tại thế…”) – 

Chắc rằng các bô lão VN đồng trang lứa với NC có nhiều vị cũng dùng Pháp ngữ như NC, rất chuẩn nhưng nên chỉnh  cho hợp thời vẫn tốt hơn…Có được mức vốn như vậy là quá khó với các thế hệ người Việt sau này
 It lâu sau, TMCS đã có dịp thành thực chia sẻ với NC : Tạp chí danh tiếng Firmament vừa đăng bài thơ dịch ra Pháp ngữ của NC kèm bản Anh và Hán của TMCS, đã có nhiều độc giả ở Canada (Quebec) và Tây Âu nhiệt liệt hoan nghênh giọng điệu “académique” trong những câu thơ Pháp ngữ của NC!…Họ phát biểu : lâu rồi mới được đọc thứ Pháp ngữ kinh viện HAY đến vậy ! Họ đã bị cái CẢM trong thơ dịch ra Pháp ngữ của NC hấp dẫn, ngôn ngữ chỉ là phương tiện, dù đôi khi có là “rào cản”, nhưng cái TÂm của người dịch đã chiến thắng tất cả…
 
TMCS càng phục thuyết “tương đối “ của Einstein : Trong ngôn ngữ cũng vây, mọi sự cũng chỉ là “tương đối” !. Các Khốt -ta-bít cỡ TMCS đều chột dạ trước  “nhớ chơi vơi”, “đêm hơi”, “hoa về”… nhưng xấp trung niên thì thấy b/t, xấp thanh niên thì “ngưỡng mộ” sự sáng tạo của QD. Suy ra  “nostalgie précaire” đối với các  “bô lão” Pháp biết đâu chả “giật mình” giống các lão thành Pháp ngữ ở  VN, có lẽ cụ G/s là lệ ngoại vì cụ quá từng trải và uyên bác- nhưng với lớp trẻ Pháp thì “nhớ bấp bênh” kiểu précaire chả khác gì cái thí dụ  “une planche précaire” (một tấm ván bấp bênh ) của cụ g/s …

Nói chung về tất cả các bản dịch TMCS giới thiệu và hỏi ý kiến, cụ nhận định là ĐỀU TỐT, không  bản nào có v/đ gì về ngôn ngữ, cơ bản đúng như lời dịch “nghĩa đen “ của TMCS…Sự vênh nhau cũng không cản trở sự lãnh hội của người Pháp về mấy ý thơ trong bốn câu mở đầu Tây tiến, cụ thấy hình như các bạn VN quan tâm đến sự vênh nhau trong lời dịch hơn cụ…

Sự vênh nhau chút ít đến từ hai nguồn :

– Sự cảm nhận khác nhau của những người dịch: điều này tồn tại ở mọi lúc mọi nơi, không bao giờ hết. Nước nào cũng thế…

– Cách nhận thức về ngữ nghĩa  và ngữ cảnh sử dụng từ vựng Pháp khác nhau. Điều này phụ thuộc vào khả năng cập nhật Pháp ngữ đương đại, nó chỉ có thể giải quyết thông qua quá trình giao lưu  trong khối Pháp ngữ. Theo cụ, v/đ này VN thường nặng về nhu cầu hợp tác kinh tế, xã hội hơn về khía cạnh văn hoá và ngôn ngữ

Cụ tỏ ý e ngại: có lẽ độ mươi năm nữa thì VN không còn thực sự là một nước trong cộng đồng Pháp ngữ, ngay bây giờ cũng chỉ nặng về danh nghĩa…Gần đây , cụ có dịp tiếp xúc với một số vị chức sắc VN đều phải thông qua không phiên dịch viên, hầu như không có ai nói tiếng Pháp nữa…Ngay cả mấy câu chào hỏi xã giao, thời tiết nóng lạnh… trước giờ l/v chính thức về vấn đề Cộng đồng Pháp ngữ hoặc lúc giải lao,  các quan chức VN cũng “đành” nói với cụ bằng …Anh ngữ ! Có lẽ khái niệm Francophone ở VN chỉ còn mang ý nghĩa chính sách ngoại giao !



Tóm lại :

Về Cảm, TMCS còn thấy có nhiều sự vênh nhau ngay cả khi dịch các tác phẩm văn học lớn trên thế giới, nhưng chuyện to lớn quá, Xin tạm dừng ở đây.
Riêng về v/đ từ điển , TMCS thấy đã qua rồi cái thời một nhà học giả, căm cụi làm từ điển như thời cụ Đào Duy Anh (nhà từ điển học VN), cụ Nguyễn Lân…Bây giờ là thời Digital (số hoá), công nghệ tin học có khả năng biên soạn và cập nhật (up date) hàng vạn, hàng triệu dữ liệu trong khoảnh khắc điều mà cả tập thể các nhà từ điển học xưa kia không thể làm nổi, chứ đừng nói đến từng cá thể lẻ loi soạn từ điển bằng cách thủ công lập “phiếu từ” (fiche) như khi hai vợ chồng cụ Đào Duy Anh làm từ điển Truyện Kiều hồi ở khu B tập thể Kim liên mà có lần TMCS được chứng kiến cảnh cụ bà giúp cụ ông chỉnh lí các phiếu trong lúc một cô “ỉn” hai cụ “tăng gia” lững thững “ụt ịt” đi dạo ở phòng bên !… 
Bởi vậy theo kinh nghiệm bản thân, TMCS thấy rằng dùng từ điển số trên mạng là đảm bảo chính xác và cập nhật hơn là ôm cả chồng từ điển giấy, vừa chật nhà vừa dễ lỗi thời… 


Ôi ! sao chỉ có mỗi chữ CẢM mà TMCS “ba hoa chích choè” dữ quá. Xin khẩn cấp  stop ở đây và mong quý vị lượng thứ…


ĐỐ VUI.

Kì trước.

Qui tombe sans se faire mal?

Rép.  :  La nuit.

Kì này :

Qu’est ce qui a deux aiguilles mais qui ne pique pas ?


VÈ & ẢNH.


   Hương chè thơm ngát Trà đình
Câu thơ khúc hát đưa mình lên tiên.
      Mỗi kì hoa nở trăng lên
Quỳnh ơi, lại nhớ những đêm quê nhà
 
Ảnh: Trà đình trong khuôn viên TMCS.
 
                                                     Inline image
 
Đăng tải tại Uncategorized | Để lại phản hồi

CÁC VỊ LA HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG (khổ 7-8)

Bl(420) TTTB@ 110