THUYỀN VÀ BIỂN (437)

Bl($37) TTTB@ No137

 

DẠO ĐẦU TTTB@ No135

              TMCS

LAN MAN : LẠI  TRƯỢNG PHU &  SĨ.

TTTB@ vô cùng hân hạnh nhận được phản hồi ngày một nhiều của quý vị. Trong đó có nhiều ý kiến động viên: TMCS chớ nên nản lòng, cứ lan man mà giải đáp thắc mắc kiểu dân gian về từ ngữ, thơ ca Việt theo cách riêng của mình như mấy kì vừa rồi là dễ hiểu và rất hấp dẫn. Bà con xa xứ lâu năm, các cháu Vn sinh trưởng ở hải ngoại, kể các  bạn nước ngoài đều nhận định chưa chắc giải thích kiểu hàn lâm – học giả đã giúp bà con thích thú và nắm được v/đ dễ dàng như kiểu “cà kê – quê mùa” của TMCS. Kì này TMCS  lại xin được thân tình lan man lề mề với bà con dăm câu ba điều về mấy thắc mắc TTTB@ vừa nhận được.

VỀ CHỮ TRƯỢNG PHU:
 
Xin nói ngay chữ phu trong trượng phu 丈夫  chính là chữ phu 夫   trong câu thơ Hồ Xuân Hương về người phụ nữ “hoảng chưa” (chửa hoang).
 Duyên thiên (天) chưa thấy nhô đầu dọc —-> (夫) phu: chồng
 Phận liễu(了) nay đà nảy nét ngang        —–>( 子) tử :con
Xin nêu rõ là đây là cách chơi chữ của HXH mượn chữ thiên  là trời,  nhô đầu dọc thành chữ phu 夫  là chồng (ngụ ý là chưa có duyên  trời lấy chồng), mượn chữ liễu  (là đã) cho thêm nét ngang thành chữ tử  là con ( ngụ ý là phận con gái mà đã sinh con), thực ra chữ liễu trong bồ liễu   thường dùng chỉ phái nữ mảnh mai, yếu đuối phải là liễu  chỉ cây liễu mềm mại, tha thướt mảnh mai chứ phận liễu không phải viết với chữ liễu là đã.
 
Vì chữ phu có nghĩa là chồng, nên  các từ trượng phu, thất phu, sĩ phu, tiều phu v.v…đều chỉ dùng cho nam giới, nếu dịch sang các ngôn ngữ danh từ có phân biệt về giống thì phải dùng masculin (giống đực).
Nhóm bạn đọc ngoài nước và nhóm bạn Mỹ hỏi:

TMCS đã lí giải câu định nghĩa của Mạnh tử  và câu trả lời của vợ ông Vương người Tàu  rất rõ ràng rành mạch, nhưng chúng tôi thấy trong Kiều có câu :

        Nửa năm hương lửa đang nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

Phải hiểu từ “trượng phu” trong câu Kiều này như thế nào? Có gì “chéo giò” với  cách giải thích của TMCS trong số trước ?

TMCS xin nhắc lại để quý vị phân biệt rõ ràng :

 
Mạnh tử nói về Đại trượng phu.

Bà Vương nói về trượng phu.

TMCS xin phép không nhắc lại định nghĩa mà xin cung cấp từ tương ứng trong tiếng Anh 

Đại trượng phu theo ý Mạnh tử và cách hiểu thông thường  thì Đại trượng phu là người có tài cao, chí lớn, bất khuất, có đạo đức trong sáng…v.v… (Man of talent, of great spirit, of unbending spirit, of pure morality…).

Trượng phu (trong câu nói của bà Vương với TMCS) chỉ đơn giản là chồng (husband ) với hàm ý chính là đàn ông, nên khi mở rộng ứng dụng sang ngữ cảnh khác vẫn chỉ dành riêng cho nam giới ( thí dụ chỉ với héros chứ không héroine – nữ anh hùng )

Còn trong câu Kiều trên, lúc ấy Từ hải còn đang:

“Bằng nay bốn bể không nhà,

Theo càng thêm bận biết là đi đâu” 

tức là Từ Hải và Kiều chưa chính thức thành hôn, chưa thể gọi Từ Hải là chồng Thuý Kiều, chữ trượng phu ở đây không thể hiểu và dịch là husband (chồng) -như trường hợp bà Vương nói trên- được. Từ Hải còn giải thích :

Bao giờ mười vạn tinh binh

Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường.

Làm cho rõ mặt phi thường,

Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.

Tiếp đó Từ Hải còn an ủi Kiều:

Đành lòng chờ đó ít lâu

Chầy ra là một năm sau vội gì !

Vì lẽ đó, các bản dịch  truyện Kiều ra tiếng nước ngoài đều dịch từ “trượng phu” trong câu này là “người anh hùng” hàm ý nam giới (không có bản nào dịch là chồng cả) .

 

Thí dụ bản Pháp của Lê Cao Phan :

Pendant six mois brûlaient  ces feux d’encens tenace

quand le héros fut pris par l’appel de l’espace…

và bản Anh của Nguyễn Văn Qua:

Six months passed the fire of their passion was always burning,

The hero’s heart was suddenly moved by the call of wide open espace.

Đến đây  chắc có vị sẽ nêu vấn đề:

Trong khi dịch từ trượng phu nói trên, các dịch giả dùng từ héros / hero  đặt  Từ Hải vào cương vị một người anh hùng có đi quá xa nguyên tác không ?

Xin thưa quý vị :

Phàm những cao thủ và đại cao thủ của môn “dịch thuật” đều không bị lệ thuộc  vào chính từ mình dịch mà phải soi trước, xét sau, liên hệ với  ngữ cảnh, xác định rõ cách nhìn của tác giả về nhân vật và sự kiện… Đấy là nói về phương pháp luận của các bậc cao thủ, đại cao thủ. “Thấp cờ” như TMCS thì cũng dám dịch như vậy, vì chính tác giả Nguyễn Du trước đó đã “tấn phong” anh hùng cho Từ Hải rồi !

Hãy thưởng thức cách thức giới thiệu sự xuất hiện của Từ Hải dưới bút pháp Nguyễn Du: 

    

Lầu thâu gió mát trăng thanh,

Bỗng đâu có kháck biên đình sang chơi.

Râu hùm hàm én mày ngài,

Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.

Đường đường một đấng anh hào,

Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.

Đội đời đạp đất ở đời,

Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.

Giang hồ quen thú vẫy vùng,

Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo. 

Cả đoạn lục bát trên, từ miêu tả ngoại hình, tầm vóc, đến  tài  năng thao lược, võ nghệ siêu quần, cả đến khí phách vẫy vùng, đội trời đạp đất, gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo …câu nào chữ nào cũng xoáy vào chủ ý của  tác giả : Đường đường một đấng anh hào !

Xem ra chỉ vậy đã đủ lí do để dịch danh từ “trượng phu” ở đây thành anh hùng rồi ! hơn nữa chỉ dịch là “đàn ông” thì chưa hết ý và không đúng với tinh thần câu thơ này của ND.

Huống hồ, chính Từ Hải cũng tự nói ra miệng :

“…Khen cho con mắt tinh đời

Anh hùng đoán giữa trần ai mới già…”

Nguyễn Du thì khỏi phải nói , tác giả đã viết về Từ Hải trước khi từ biệt Thuý Kiều :

                                      Trai anh hùng, gái thuyền quyên,

Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng…

Với bút pháp của tác giả, Từ Hải giây phút lên đường đúng là sự khởi hành của một vị anh hùng mưu nghiệp lớn :

Trông vời trời bể mênh mang,

     Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng rong…

TMCS dám xin khẳng định, các bản  đã dịch từ trượng phu trong câu “Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương” là Hero, Héros với nghĩa Người anh hùng là hoàn toàn đúng đắn, không có gì trái với nguyên tác cả.

Chắc có vị sẽ hỏi : 

Đấy là Từ Hải theo bút pháp Nguyễn Du, còn trong các tác phẩm gốc gác từ bên Tàu thì sao ?

Đó là một câu hỏi rất hay, nhưng không dễ gì trả lời ngắn gọn  và đầy đủ. Quả thực TMCS là người có số lang thang phiêu bạt “tam đảo ngũ hồ”, qua lại nhiều phen trên những miền đất lịch sử của nước Tàu mênh mông và phức tạp, nhiều chốn văn minh, lắm miền hoang dã…Vùng Việt Đông, sông Tiền Đường…TMCS đều đã thăm thú cả, hơn nữa tính la cà còn đã đưa đẩy TMCS vào các hàng quán, ngồi khề khà, đàn đúm có khi chơi cờ thế, lắm lúc uống trà tàu với  bách tính khắp nơi, cùng nhau gọi đĩa hạt dẻ (marron, chestnut) nhâm nhi tí tách nghe các nghệ nhân Tàu kể đủ các thứ tích xưa chuyện cổ bên Tàu…tuyệt đối chưa tịnh  một lần nghe kể về Kiều ! TMCS ăn mặc, nói năng, hành vi, cử chỉ…nhất nhất đặc sệt như một chú ba Tàu, chưa hề lần nào bị bại lộ tung tích con Lạc cháu Hồng ở những tụ điểm tứ chiếng ấy,…, cũng trong các cuộc “vi hành” đó, TMCS chưa từng nghe một người dân Tàu nào đã động đến Kiều cả...  Có thể kết luận : Truyện Kiều bên Tàu đã bị quên tịt từ lâu lắm rồi, không còn tí tẹo tăm hơi nào trong đời sống xã hội Tàu nữa,

 
Té ra bên Tàu truyện Kiều văn xuôi có trước( nay chỉ tồn tại trong kho  lưu trữ của đại thư viện TW Pekin)…vẫn là kiểu chương hồi lằng nhằng… hồi nọ giằng sang hồi kia với cái câu bất hủ … “ xin đợi hồi sau phân giải …”! Ngày nay, mọi người dân Tàu bình thường đã quên  phứt các thứ  truyện đó, kể cả Thanh tâm tài nhân, họ cũng chả nhớ là ai !

Xin tóm gọn lại:

Trong Truyện Kiều nguyên thuỷ thì Từ Hải chỉ là tên giặc cỏ, là tên tướng cướp. Thuý Kiều từ  ca nhi trở thành chủ lầu xanh rồi lấy Từ Hải…Kết quả là cả hai đều tiêu tan dưới sự đàn áp của triều đình nhà Minh.

Thanh Tâm tài nhân là người đã thay  thân đổi phận cho Kiều và Từ Hải, nhưng họ không được rạng rỡ như dưới  bút pháp Nguyễn Du. Theo TTTN, Kiều chỉ là hồng nhan bạc mệnh may gặp Từ Hải, mượn thế Từ Hải báo thù cực kì tàn nhẫn những kẻ đã đầy đoạ mình. Kiều đã cho dùng  các nhục  hình  thời trung cổ : tùng xẻo từng miếng thịt, bỏ vạc dầu…để trả thù, rửa hận. Thanh Tâm tài nhân viết theo ngẫu hứng tầm thường , không gửi gắm tâm sự chi cả…Truyện Kiều ở bên Tàu đã hoàn toàn bị lu mờ và quên lãng… 

 

Nguyễn Du thì khác hoàn toàn, vượt lên cao hẳn, bằng thiên tài văn học thơ ca, Nguyễn Du đã sáng tác nhân vật Thuý Kiều và Từ Hải bằng bút pháp tuyệt vời, rất nhân văn, rất nghệ thuật, qua đó người đời nhìn thấy không chỉ tâm sự Nguyễn Du mà  thấy nhiếu mảnh đời khác, trong đó  hình như có số phận của chính người đọc truyện Kiều bởi vậy nên mới có chuyện người Việt nam bói Kiều, lảy Kiều ! Đó là hiện tượng “độc nhất vô nhị “ trên thế giới !

Tháng 12/1964, tại thành phố Berlin (Đức), Hội đồng Hòa bình thế giới đã ra quyết nghị tổ chức kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Nguyễn Du (1765 – 1965), cùng với 8 danh nhân văn hóa trên toàn thế giới. Ngày 25/10/2013, tại kỳ họp lần thứ 37 của Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) họp tại Paris (Pháp) đã chính thức ban hành Nghị quyết số 37C/15, phê chuẩn Quyết định số 191EX/32 và 192EX/32, nhất trí vinh danh Đại thi hào Nguyễn Du cùng với 107 danh nhân văn hóa toàn thế giới. Theo đó, hoạt động tôn vinh được triển khai tại Việt Nam và các nước trong cộng đồng UNESCO.

 
 Mấy học giả Tàu có một thời đã nhao nhao, ồn ào lên tiếng “ đòi trả lại công bằng cho  Văn học Trung Hoa và Thanh Tâm Tài Nhân”, nhưng mọi “lí sự cùncủa họ đã bị công luận phản bác thẳng thừng, thật bẽ mặt !!! Các bản Kiều họ đưa ra đều bị phủ nhận, và đánh giá là hoàn toàn vô giá trị về văn học nghệ thuật, hơn nữa lại quá đậm nét, tỉ mỉ về các cảnh  bạo lực trả thù man rợ của Kiều và cảnh mua bán đào nương, ca nhi như mua bán nô lệ cùng với sự mô tả  phong cách ăn chơi truỵ lạc của lớp cặn bã xã hội…

Khi có dịp, TMCS sẽ bàn thêm về bói Kiều và lảy Kiều, nay chỉ đề cập đến  cách nhìn nhận dân gian về Từ Hải và Thuý Kiều khi bói Kiều để đem so với danh xưng “trượng phu” trong Truyện Kiều của NDu. Ý TMCS muốn nhắc đến câu khấn mở đầu khi bói Kiều. Có vài câu khấn, trong đó có câu khấn mà TMCS nhớ rất kĩ …

Số là:

TMCS có cô em họ, tuy gọi là em nhưng lại hơn TMCS mấy tuổi, học  lớp trên, sau khi tốt nghiệp tiểu học cũ (hệ 6 năm từ Cours Enfantin đến Cours Supérieur) phải ở nhà trông nom cửa hàng tạp hoá, sau này lên chức “tướng bà“, lấy ông chồng là tướng tư lệnh quân khu, chả biết có phải nhờ giỏi bói Kiều không, nhưng số thì hên hơn TMCS nhiều nhiều … Bà này chúa hay bói Kiều. Lần nào bói cũng khấn : Lạy vua Từ Hải, lạy vãiGiác Duyên, lạy Tiên Thuý Kiều cho …xin một quẻ …về…Hôm nào xin quẻ hệ trọng  bà ấy còn ra  ban-công thắp hương, khấn  vái lầm rầm nhiều nữa… TMCS thấy bà ấy khấn xong, giở cuốn Kiều ra, nhưng không đọc ngay  mà lim dim mắt., theo quy ước trai tay trái, gái tay mặt, bà ấy lấy hai ngón tay trỏ , một ở dòng trên cùng, một ở dòng cuối cùng di chuyển từ  từ hai ngón tay . Đến khi hai ngón tay chạm vào nhau ở dòng nào thì dòng ấy tức là lời quẻ dạy ! Bà ấy còn bảo TMCS: “nếu anh dùng Truyện Kiều bản Nôm để bói , các câu theo cột đứng từ phải sang trái thì hai ngón tay trỏ một ở bên cực trái , một ở bên cực phải của trang ( cũng theo quy ước nam nữ về trang bên phải hay trái) mà di chuyển cho đến khi hai ngón trỏ chạm nhau ở cột nào thì cột đó là quẻ dạy”. Tạm gác lại các chi tiết linh tinh, chỉ nêu ra v/đ liên quan đến chuyện hôm nay :

TMCS lúc ấy hình như mới học Cours Moyen II hay Supérieur gì đó, còn ngây ngô, ngốc nghếch lắm, mới hỏi bà ấy: tại sao em lại gọi Từ Hải là Vua, Thuý Kiều là Tiên  mà không đổi cách gọi Giác Duyên là vãi.

Bà ấy giải thích cặn kẽ :

Vãi Giác Duyên là người tốt, cưu mang Thuý Kiều rất đúng  với tinh thần từ bi  của đạo Phật, xưng hô thế là vừa phải và đúng mức. Người tu hành không màng công danh lợi lộc, nên không cần ta xưng tụng họ.

Gọi là vua Từ Hải, vì cuộc đời của dân chúng thường khổ sở, dân chúng ai cũng mong mỏi có những bậc anh hùng đứng ra đổi đời cho họ. Mọi khát vọng đêu trông chờ vào sự thành công của các bậc anh hùng hào kiệt như Từ Hải, ai cũng mong Từ Hải sẽ làm Vua để đem lại sự yên ổn, no ấm cho dân chúng…

Gọi Thuý Kiều là Tiên, Vì ai cũng coi Tiên là thế giới của sự sung sướng, hạnh phúc, con người ở cõi tiên là tốt đẹp cả về diện mạo lẫn tâm hồn. Mọi người muốn đền bù cho những đau khổ của Thuý Kiều mà ban tặng cho Kiều danh hiệu Tiên. Tiên là vừa tốt, vừa đẹp  lại vừa giỏi, Thuý Kiều cũng rất toàn diện…xứng đáng hưởng phúc cõi Tiên… 

Đấy là lập luận và lí giải của cô em họ chỉ  hơn TMCS vài tuổi nhưng đã già dặn hơn TMCS quá nhiều. TMCS mãi mãi bái phục cô em họ ấy, nhưng bản thân mình thì vẫn đành cam phận… chung thân lẹt đẹt! Ông tướng chồng bà ấy thấy TMCS chăm đọc sách, thường động viên khen là “học giả“, TMCS phải thanh minh : Không, anh đang học THẬT đấy !
 
Đến khi học TH kháng chiến, TMCS được nghe Hoài Thanh thuyết trình về “Quyền sống con người trong truyện Kiều”, khi đó được coi là tác phẩm phê bình Truyện Kiều theo quan điểm Mác-xít hiện đại nhất ! Nội dung này sau đó được bộ GD  đưa vào lồng ghép trong các bài học về Truyện Kiều ở môn học thời đó gọi là Giảng Văn. 

(Sau này có vẻ như thái quá,  nhiều nhân vật trong một số tác phẩm khác cũng đã bị quy vào thành phần giai cấp này khác,  khiến cho việc phân tích văn học ở trường học có phần bị ảnh hưởng – có nơi, có lúc, tiết học văn có phần hao hao tiết học chính trị…Đến nỗi cụ Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng… phải thanh minh: Khi sáng tác  tôi chưa  giác ngộ giai cấp như nội dung giảng dạy ở trường học bây giờ…)

Lúc ấy tuy không dại gì hé răng, nhưng TMCS đã nhận thấy: hoá ra bà em họ TMCS đã học được từ trong lời khấn bói Kiều của dân gian sự đánh giá nhân vật truyện Kiều đi trước các học giả , kể cả nhà phê bình nổi tiếng Hoài Thanh-  bao nhiêu là năm tháng. Dân chúng thời xa xưa đâu có biết Karl Marx là ai ! họ chả biết chủ nghĩa nào với chủ nghĩa nào, chưa hề hiểu biết gì về cách phân chia giai cấp trong xã hội loài người… nhưng đã hoàn toàn đứng về phía Nguyễn Du ! đứng về phía đòi hỏi công bằng xã hội…

( Lại nhân  chuyện học “giả”, học “thật” :
 
TMCS vừa được xem một bức ảnh chụp hội trường Bảo vệ luận án Tiến sĩ Mỹ thuật của Viện VHNT QGVN , tên luận án trưng chính diện hội trường như sau :
“ NGHỆ THUẬT  CHỮ TRONG THIẾT KẾ  BÌA SÁCH GIAI ĐOẠN  2005-2015 Ở VIỆT NAM” 
Luận án tiến sĩ 'nghệ thuật chữ trong thiết kế bìa sách': Rất lạ, khó ứng dụng thực tế?
 
      
            KHỔ THÂN TMCS dụi mắt mãi mới dám tin là mình không đọc          nhầm cái tên đề tài luận án Tiến sĩ ! Đi xa lâu ngày, tội nghiệp thay cho TMCS, lạc lõng quá rồi…bị cuộc sống thực tế ở quê nhà bỏ rơi xa lắc lơ …

Nghe nói NCS Bùi Quang Tiến đạt phiếu thuận rất cao (100%) và đã được công nhận học vị Tiến sĩ Mỹ thuật !

Giời cao đất dày ơi ! bây giờ TMCS mới biết thì ra bất kì chuyện gi gỉ gì gi cũng có thể lấy làm đề tài luận án cho các học vị cao ngất ngưởng
 
(Hôm trước TMCS đã hơi “dị ứng nhẹ” vì cái đề tài luận án tiến sĩ  “Đặc điểm giao tiếp với dân của Chủ tịch UBND xã”  của Viện KHXH, còn chưa hoàn toàn bình phục thì nay đã đến cái này…
 
Có lẽ TMCS sẽ phải tìm hiểu thêm xem Sách kỉ lục Ghin-nét (The Guinness book of records), UNESCO, hay Ban Giải thưởng Nobel… có tiểu ban nào theo rõi các luận án loại này không?)
Đi cùng ảnh trên là bản thông báo:
Tin tức đào tạo

Lễ bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Viện của NCS.Bùi Quang Tiến

29 Tháng Chín 2017          

 
Chiều ngày 25/09/2017, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tổ chức lễ bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Viện cho NCS. Bùi Quang Tiến với đề tài: Nghệ thuật chữ trong thiết kế bìa sách giai đoạn 2005 – 2015 ở Việt Nam, chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, mã số: 62 21 01 01, do PGS. Lê Anh Vân hướng dẫn.

NCS chụp ảnh lưu niệm cùng các thầy cô. (không hồ nghi gì nữa, đúng là người thực việc thực, toàn nam thanh nữ tú, giữa thanh thiên bạch nhật rồi ! )
 
Tóm tắt nội dung và khối lượng luận án :
 

 Mở đầu (15 trang), Kết luận (05 trang), Tài liệu tham khảo (10 trang), Phụ lục và hình ảnh minh họa (75 trang), nội dung luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và những vấn đề chung của Nghệ thuật chữ trong thiết kế bìa sách (32 trang)

Chương 2: Nhận diện Nghệ thuật chữ trong thiết kế bìa sách giai đoạn 2005 – 2015 (39 trang)

Chương 3: Những bàn luận rút ra từ kết quả nghiên cứu (32 trang)

 Kết quả 100% thành viên Hội đồng đã bỏ phiếu tán thành công nhận học vị Tiến sĩ Nghệ thuật học cho NCS. Bùi Quang Tiến.
 
(Nhà văn Nguyễn Quang Lập nhận xét: “Nghĩ được đề tài “Nghệ thuật chữ trong thiết kế bìa sách” để làm luận án tiến sĩ, người này không điên thì cũng thuôc loại thiên tài. Vả, nghệ thuật chữ đó phải ở trong giai đoạn 2005-2015 có những đặc biệt để có thể viết một luận án tiến sĩ 200 trang A4 thì quả thật hoặc quá điên hoặc quá thiên tài“). 
 
Đa số cư dân mạng (loại thường dân 100%) ủng hộ cách nghĩ của nhà văn NQL, TMCS thì bàng hoàng đến … không thốt nên lời …   ngực đập chân run, chỉ mong sao nhà văn NQL và đa số cư dân mạng SAI BE SAI BÉT để nước mình có thêm một THIÊN TÀI...Chỉ lo Tài năng này sẽ bị xếp xó hoặc  phải đem xuẩt khẩu lao động mà thu  ngoại tệ $ vì  khó đắc dụng ở VN ta lắm…Ôi! lo ơi là lo, buồn ơi là buồn !!!…
 
Nếu có điều kiện TMCS sẽ lan man “tí ti”  về chuyện này trong phần Phụ trương .
 

SƠ LƯỢC VỀ NỮ SĨ XUÂN QUỲNH

Nhân giới thiệu bài thơ Thuyền và biển của Xuân Quỳnh, TTTB@ xin cung cấp mấy nét sơ lược chính về Xuân Quỳnh theo BKTT mở rộng, Những  nội dung lí thú liên quan sẽ được nêu trong các kì tiếp.

  nha-tho-xuan-quynh-duoc-trao-giai-thuong-ho-chi-minh

Nhà thơ Xuân Quỳnh.

(Ảnh chân dung “tinh thần” nhất của XQ do TMCS sưu tầm, ưu ái tuyển chọn rất công phu trong loạt ảnh đã công bố để hầu quý vị thẩm lãm- Vốn bản thân cũng đôi khi đứng trước giá cầm cọ/ chì than … “võ vẽ “chân dung bè bạn, học trò…nên TMCS thường rất quan tâm và cảm thụ về thần thái và tinh tướng bức chân dung hơn các khía cạnh khác…)
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Nữ sĩ Xuân Quỳnh

 
Công việc

nhà thơ

Quốc gia

Việt Nam

Dân tộc

Kinh

Giai đoạn sáng tác

1962-1988

Tác phẩm nổi bật

Gió Lào, cát trắng, Tự hát

Giải thưởng nổi bật

Giải thưởng Nhà nước (2001) – Giải thưởng Hồ Chí Minh ( 2017)

Vợ/chồng

Lưu Tuấn (chồng trước)

Lưu Quang Vũ (chồng sau)

Con cái

với Lưu Tuấn: Lưu Tuấn Anh

với Lưu Quang Vũ: Lưu Quỳnh Thơ

Xuân Quỳnh (19421988), là một nhà thơ nữ Việt Nam. Bà được xem là nữ thi sĩ nổi tiếng với nhiều bài thơ được nhiều người biết đến như Thuyền và Biển, Sóng, Thơ tình cuối mùa thu, Tiếng gà trưa

 Bà được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nướcGiải thưởng Hồ Chí Minh vì những thành tựu cho nền văn học nước nhà.

Thân thế

Bà tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10 năm 1942 tại làng La Khê, xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là quận Hà Đông, Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình công chức, mẹ mất sớm, bố thường xuyên công tác xa gia đình, bà được bà nội nuôi dạy từ nhỏ đến khi trưởng thành.

Sự nghiệp

Tháng 2 năm 1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa. Bà đã nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới năm 1959 tại Viena (Áo).

Từ năm 1962 đến 1964, Xuân Quỳnh học Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ (khoá I) của Hội Nhà văn Việt Nam. Sau khi học xong, làm việc tại báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt nam. Xuân Quỳnh là hội viên từ năm 1967, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá III. Năm 1973, Xuân Quỳnh kết hôn với nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ, trước đó, Xuân Quỳnh kết hôn lần đầu tiên với một nhạc công của Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và đã ly hôn. Từ năm 1978 đến lúc mất Xuân Quỳnh làm biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới.

Xuân Quỳnh mất ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương (nay là thành phố), tỉnh Hải Dương, cùng với chồng Lưu Quang Vũ và con trai Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi.

Xuân Quỳnh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.

Ngày 30 tháng 3 năm 2017, Chủ tịch nước Trần Đại Quang ký quyết định số 602 chính thức truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho cố nhà thơ Xuân Quỳnh với hai tập thơ là Lời ru mặt đất và Bầu trời trong quả trứng.

Tác phẩm

Các tác phẩm chính:

• Tơ tằm – chồi biếc (thơ, in chung, Nhà xuất bản Văn học, 1963)

• Hoa dọc chiến hào (thơ, in chung, 1968)

• Gió Lào, cát trắng (thơ, 1974)

• Lời ru trên mặt đất (thơ, 1978)

• Sân ga chiều em đi (thơ, 1984)

• Tự hát (thơ, 1984)

• Hoa cỏ may (thơ, 1989)

• Thơ Xuân Quỳnh (1992, 1994)

• Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ (1994)

• Hát với con tàu

• Cây trong phố – Chờ trăng (thơ, in chung)

Các tác phẩm viết cho thiếu nhi

• Bầu trời trong quả trứng (thơ thiếu nhi, 1982)

• Truyện Lưu Nguyễn (truyện thơ, 1985)

• Mùa xuân trên cánh đồng (truyện thiếu nhi – 1981)

• Bến tàu trong thành phố (truyện thiếu nhi, 1984)

• Vẫn có ông trăng khác (truyện thiếu nhi, 1986)

• Tuyển tập truyện thiếu nhi (1995).

• Chú gấu trong vòng đu quay (tập truyện)

Thành tựu nghệ thuật[

Thơ Xuân Quỳnh giàu cảm xúc với những cung bậc khác nhau như chính tính cách luôn hết mình của Xuân Quỳnh. Những bài thơ khi hạnh phúc đắm say, lúc đau khổ, suy tư của nhà thơ luôn gần gũi vì được viết với sự đằm thắm của một người phụ nữ vừa làm thơ vừa làm vợ, làm mẹ. Nhiều bài thơ của Xuân Quỳnh đã trở nên nổi tiếng như Thuyền và biển, Sóng (viết năm 1967, in trong tập Hoa dọc chiến hào năm 1968), Hoa cỏ may, Tự hát, Nói cùng anh… Các bài thơ Sóng, Truyện cổ tích về loài người (Lời ru trên mặt đất, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1978) được đưa vào sách giáo khoaphổ thông của Việt nam. Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đã phổ nhạc rất thành công các bài thơ: Thuyền và biển (4/1963), Thơ tình cuối mùa thucủa Xuân Quỳnh.
 
                                                                           X
 
TTTB@ kì này sẽ giới thiệu hai khổ đầu kèm bản dịch bài Thuyền và Biển của Xuân Quỳnh.
Các phần khác như thường lệ
Kính thỉnh nhã giám
  TTTB@-TMCS
 

THUYỀN VÀ BIỂN

 Thơ Xuân Quỳnh

Em sẽ kể anh nghe 

Chuyện con thuyền và biển: 

“Từ ngày nào chẳng biết 

Thuyền nghe lời biển khơi 

Cánh hải âu, sóng biếc 

Đưa thuyền đi muôn nơi 

Lòng thuyền nhiều khát vọng 

Và tình biển bao la 

Thuyền đi hoài không mỏi 

Biển vẫn xa… còn xa 
 
Anh: TMCS
 

BOAT AND SEA

(Poem by Xuân Quỳnh- Translation by TMCS – Sept. 2017)

I’ll tell you the story

About the boat and the sea.

Since what time, nobody can remember,

Listening to the sea’s call

And following the blue waves and the seagulls 

In the sea the boat has gone all over.

The boat’s aspiration is so grand.

And its love of sea is so immense !

It goes and goes…

And the sea is more and more immense…

 


 
Hán.   Nghĩa -phiên âm : TMCS
 
 

THUYỀN DỮ HẢI                               THUYỀN VÀ BIỂN

(Xuân Quỳnh thi – TMCS dịch)               (Thơ Xuấn Quỳnh-TMCS dịch)

Ngã tướng cân quân giảng cố sự          Em sẻ kể cho chàng câu chuyện

Quan ư thuyền hải hà tương can          Về thuyền và biển liên quan thế nào

Bất tri khai thuỷ tự hà nhật                     Không biét bắt đầu từ ngày nào

Thính đáo hải dương hiệu triệu  ngôn   Nghe tiếng gọi của biển

Tuỳ hải âu, tòng thương hải lãng               Theo chim hải âu , theo sóng biếc của biển

Thiên phương thiên lí thử thuyền bôn  Thuyền này đã di nghìn dặm muôn nơi

Thuyền bão tâm trung đa khát vọng      Thuyền mang trong lòng nhiều khát vọng

Hải tình như thử khoát mang mang        Tình biển rộng mênh mông như vậy

Thuyền hành liên tục vô đình chỉ           Thuyền đi liên tục không ngưng nghỉ

Vô tận , vô cùng  đại hải dương…          Biện rộng lớn vô cùng tận

 
Chữ Hán: TMCS
 

船與海 (春瓊詩-相梅居士譯

我將跟君講故事
關於船海何相干
不知開始自何日
聽到海洋號召言
隨海鷗從蒼海浪
千方千里此船奔
船抱心中多渴望
海情無盡闊芒芒
船行連續無停止
無盡無窮大海洋


Pháp:    Trịnh Phúc Nguyên
 

 LA BARQUE ET L’OCEAN

Voici je te raconterai

L’histoire sur la barque et l’océan.

On ne sait depuis quand,

La barque obéit à l’ócéan;

L’albatros et l’onde bleue

Emportent la barque aux horizons.

Le coeur de la barque déborde de passion,

Et l’amour de l’océan est tellement profond.

La barque vogue,vogue sans se lasser

Mais l’océan s’étend encore  loin, très éloigné

 


Pháp:  Pháp Hoàng Mạnh
 

 LA BARQUE ET LA MER

Je te raconterai

             L’histoire de la barque et la mer:

             Depuis quand, on ne sait,

             La barque écoutait les conseils de la grande mer.

             Et depuis, les ailes d’albatros et les vagues vertes

             Emmenaient la barque vers mille lieux.

             La barque est assoiffée de grandes aspirations,

             Et l’amour de la mer est immense.

             La barque vogue sans jamais se lasser

             Et la mer est toujours lointaine… encore bien loin.

 


Pháp: Nguyễn Thuận
 

LE SAMPAN ET LA  MER

XUÂN QUỲNH

Je vais te raconter

L’histoire du sampan et de la mer

“On ne sait depuis quand

Le sampan obéit à la mer immense

Les ailes des pétrels et les flots verts

Emmènent le sampan partout,sur la mer”

Est plein d’aspiration ,le coeur du sampan

Et l’amour de la mer est immense

Le sampan inlassable coule sans trêve

La mer est éloignée…encore éloignée

 

 PHỤ TRƯƠNG TTTB@ No135

TMCS

TRUYỆN DÍ DỦM

SLEEPING PLACE

(Gleaned by TMCS)

Teacher: -I think classroom is not the right place to sleep!

Sleeping Student: That is all right sir, however, please just whisper all of you.

TMCS’s comment:

It’s quite frank answer ! 

NƠI  NGỦ

(Lượm và dịch: TTMCS)

Giáo viên:

 – Thày thấy lớp học không phải là nơi thích hợp để em ngủ.

Học sinh vừa ngủ gật trong lớp:

  • Thưa thày đúng, nhưng em chỉ xin thày và cả lớp nói nhỏ thôi ạ .

Chú: Hiện nay trong tiếng Anh, từ student có nghĩa chung để chỉ cả sinh viên và học sinh, chứ không tách bạch rõ ràng như trước:

student (étudiant) ; sinh viên đại học

pupil (élève)     : học sinh các trường phổ thông (gồm nam sinh : school boy – écolier – và nữ sinh  school girl  – écolière) 

TMCS bình:

       Trả lời thẳng thắn đàng hoàng,

Thật thà, bộc  trực – rõ ràng trò “ngoan” !

ĐỐ VUI  (TMCS)

Kì trước

Avec les lettres de mon nom je peux écrire celui de ma maison.

Qui suis-je ?

Ré: Le chien car la niche est sa maison

Kì này:

Au cours de sa cueillette, une paysanne, mère de huit enfants, n’a ramassé que 5 pommes.

Elle parvient pourtant à partager équitablement les fruits entre tout ses enfants.

Mais comment a-t-elle fait ?
 
VÈ & ẢNH (TMCS) 
 
NHÂN CHUYỆN HỌC THẬT HỌC GIẢ:
Hôm nghe tin có  bộ thông sử bị thu hồi vì có sự lệch lạc nghiêm trọng, tự dưng TMCS nhớ tới câu :
Thế sự thăng trầm quân mạc  vấn,
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu
世事升沈君莫問,煙波深處有漁舟

của Cao Bá  Quát ( Ông đừng hỏi chuyện viêc đời lên xuống, Nơi sâu thẳm khói sương như sóng,  có chiếc thuyền câu…), định bụng thôi cứ để qua lúc ồn ào đã…thế nhưng việc này chưa kịp lắng xuống, việc kia đã rộ lên. TMCS bèn bụng bảo dạ : Mình là kẻ tu tâm thôi chứ có phải là tu sĩ chuyên nghiệp đâu, sao đành “mũ ni che tai” trước quốc gia đại sự …Thế là đành miệng thì niệm câu : “Ta cứ yêu đời, rồi ra đời sẽ …”, tay thì chống gậy leo mạng một phen …tò mò, táy máy….ngao du đó đây, đây đó…
 
Quả có điều linh ứng :

Hôm ấy… rất tình cờ TMCS lò dò leo lên mạng xem tin tức, vô tình vớ được bản tin  và xem cả ảnh về LỄ BẢO VỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ  với đề tài :

“ NGHỆ THUẬT  CHỮ TRONG THIẾT KẾ  BÌA SÁCH GIAI ĐOẠN  2005-2015 Ở VIỆT NAM”

Luận án tiến sĩ 'nghệ thuật chữ trong thiết kế bìa sách': Rất lạ, khó ứng dụng thực tế?

Kính mời quý bạn đọc xem thông báo:

Tin tức đào tạo

Lễ bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Viện của NCS.Bùi Quang Tiến

Bản tin ngày 29 Tháng Chín 2017          

“Chiều ngày 25/09/2017, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tổ chức lễ bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Viện cho NCS Bùi Quang Tiến với đề tài: Nghệ thuật chữ trong thiết kế bìa sách giai đoạn 2005 – 2015 ở Việt Nam, chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, mã số: 62 21 01 01, do PGS. Lê Anh Vân hướng dẫn”.

Và đây là lời “chống chế” của PGS Lê Anh Vân người hướng dẫn NCS Bùi Quang Tiến làm luận án này trước “bão tố” dư luận :

 Ở đây, nghệ thuật chữ là nghệ thuật đã có lâu đời và đây cũng là một ngành học, còn điều đặc biệt là chỗ khi KHCN xuất hiện thì có vấn đề phải suy nghĩ hơn

Chả ai hiểu ông (hay bà) PGS Lê Anh Vân giải thích kiểu gì !  Chắc chỉ mấy ông, bà Gs cùng “cỡ” với nhau  mới hiểu nổi – bàn dân thiên hạ đọc cả trăm lần vẫn ngơ ngác, chẳng khác nào nhin vào bức vách !

Khổ thân, TMCS cứ phải dụi mắt mãi  mới dám tin là mình không  đọc nhầm cái tên đề tài luận án tiến sĩ!

Khoan nói về giá trị khoa học của cái luận án này, mà trước hết hãy nghĩ về sự cần thiết và ích lợi của nó. Trên các trang mạng, số ý kiến của quảng đại “thường dân” hoài nghi và phủ nhận hầu như toàn diện và toàn bộ giá trị luận án đã là rất nhiều, quá nhiều, thậm chí như nhà văn Nguyễn Quang Lập đã bình khái quát là : đây là hiện tượng quá điên hoặc quá thiên tài ! Thật là không còn lời bình nào để bình sau NQL nữa !!!
 

TMCS  vẫn còn bàng hoàng, chân run ngực đập…chỉ mong sao nhà văn NQL và đa số dân mạng sai be sai bét…để nước nhà có thêm một THIÊN TÀI… nhưng vẫn canh cánh nỗi lo… Tuy vậy vẫn trước hết đã tự trấn an : Mình già và cỗi rồi, bây giờ chuyện gi gỉ gì gì cũng thành đề tài luận án tiến sĩ, thạc sĩ được, đừng có cạn nghĩ mà tội mình, oan người…

Bây giờ đã có “quy trình” đâu vào đấy hết rồi, người ta biết tự che chắn, bảo vệ bản thân trước khi bảo vệ luận án…Đừng có ở dưới đất lo người trên cây, thiên hạ cười cho…
Khốn nổi, tính lẩn thẩn vẫn cứ cả nghĩ lẩm cẩm ( chả biết sai đúng được mấy  % !):

Chúng ta cần nhiều trí thức cao cấp, có học hàm học vị tương xứng  tài năng, nhưng cũng cần tinh toán nhu cầu và khả năng. Chưa có nhu cầu hoặc nhu cầu ít thì chả nên cố ì ạch “nặn” ra để đào tạo ồ ạt theo kiểu ra lò hàng loạt,…Chúng ta hình như chỉ mới tính số kĩ sư , cử nhân, bác sĩ thất nghiệp mà chưa tính số G/s, P g/s, tiến sĩ, thạc sĩ thất nghiệp hoặc  l/v cầm chừng, chưa hết”công suất”, có khi không ít vị đã phải tung tăng “sáng vác ô đi, tối vác về”… 

Cái Viện quốc gia ở bộ VH nghe đâu còn thua Viện KHXH  về tốc độ ra lò thạc sĩ, tiến sĩ đến nỗi trên mạng gọi là “lò ấp hiện đại”- nghe nói có hàng chục chuyên khoa, ba mươi sáu ngành đào tạo TS, ba mươi sáu ngành đào tạo  Th sĩ  ! Ôi , hèn nào, đề tài còn li kì, “loong coong”…  hơn cả luận án nghệ thuật chữ trên bìa, tdụ: Đề tài luận án tiến sĩ ở Viện KHXH “ Đặc điểm giao tiếp với dân của chủ tịch UBND xã ”… !!! S.O.S !!!

Có lẽ ngay lúc này – kể ra đã là khá muộn – cần nghiên cứu tinh giản bớt cơ sở đào tạo sau đại học nói chung và cho từng ngành, chỉ ngành nào còn thiếu mới đào tạo…Các vị Giáo sư, Phó Gs, Tiến sĩ, Thạc sĩ… nếu thừa, ta nên sẵn sàng điều chuyển làm việc khác  hoặc đừng  “tiếc rẻ” mà xuất khấu sang các nước có nhu cầu ! Như vậy còn hơn là để các vị ấy phải  “bịa” ra việc đi trước đón đầu bằng cách hướng dẫn các đề tài luận án mà có gác lại vài năm,thậm chí vài thập kỉ nữa cũng …chả sao ! 

Ngoài ra trước cơn “bão mạng”, ông Viện trưởng Bùi Hoài Sơn của Viện VHNT đã “dũng cảm” công khai phát biểu:  “Luận án Tiến sĩ chỉ có Hội đồng thẩm định l/v theo quy trình mới thấy hết được giá trị, mọi phát biểu khác chỉ là nhận định cảm tính trước cái tên đề tài…” 
 
Thôi, đến nước này thì đành chịu “thày” mớ chịu…TMCS không dám ti toe nữa…mà chỉ xin có mấy câu “thơ thẩn” làm quà “mừng” ông tân khoa Tiến sĩ và Viện đào tạo nên ông TS này:

              

             CHÚT QUÀ

Cũng gọi ông nghè có kém ai

Chữ trên bìa sách hoá đề tài

Ra lò tiến sĩ, quy trình đúng,

Bia miệng râm ran, bịt lỗ tai !

                                          TMCS

 
Có một sự tình cờ đến bất ngờ: ở quốc gia phía Bắc nước ta, năm nào cũng có một số khá khá học sinh thi trượt tuyển sinh đại học đã chọn cách “quyên sinh”, nên thảo nào trong tiếng nói của họ mới có từ SĨ TỬ để chỉ thân phận học trò đi thi, nhưng khi viết thì có thể có hai chữ tử khác nhau…

Sĩ tử : học trò đi thi  士子

Sĩ tử : học trò chết   士死 

子 đọc là “chử”, còn 死 đọc là “xử” –  muốn chệch đi cho khỏi “sái” nhưng vẫn cùng vận  “ử” cả …nên mãi đến nay vẫn còn cái “rớp” !

Thế mới biết cái bệnh SĨ hại người ghê gớm thật ! Tiến sĩ, thạc sĩ cũng là chữ sĩ 士 (học trò) đấy, cả sĩ diện cũng viết y như thế cả…Thảo nào, thời này vẫn nhiều người “mê” sĩ đến thế…( liệu có phải để làm  “đẹp” hồ sơ cho oai hoặc để dễ bề thăng tiến “cao hơn, xa hơn , nhanh hơn” trên đấu trường Olympic công danh ! )
 
Sư  là thày của sĩ 士, ắt càng oách hơn … nhưng không phải rồi tất cả sĩ đều thành sư cả đâu…Có lẽ cũng phải có…số mới được !!! nhưng số tốt  thì phải làm việc tốt …trước mắt là ích quốc lợi dân !
 
 
Advertisements
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

HƯƠNG THẦM (CẢ BÀI)

Bl 436 TTTB@ No134

HƯƠNG THẦM (cả bài)

 

DẠO ĐẦU TTTB@ No134

                TMCS

LAN MAN : CHỮ SĨ – KẺ SĨ – TRÍ THỨC.

TTTB@ vẫn tiếp tục nhận được nhiều phản hồi bổ ích và lí thú !

TMCS chợt nhớ đến câu Kiều  – hình như ở phần cuối truyện, xin lảy như sau :

          

                      Rõ ràng lực mỏng, phúc dầy,

                Chưa nên công cán đã đầy yêu thương… 

TTTB@ đúng là trong tình thế “”lực bất tòng tâm”- quả là lực  mỏng-, chưa đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của bạn đọc trong, ngoài nước, bao gồm cả bạn đọc người nước ngoài, nặng tình, sâu nghĩa với thơ Việt, nước Việt và người Việt…mà đã được đông đảo bạn đọc muôn phương động viên, khích lệ- đích thực phúc dầy -…TTTB@ chỉ còn biết đem hết sức lực, toàn tâm toàn ý phục vụ quý vị …để đền đáp sự quan tâm, yêu mến của toàn thể bạn đọc …

Xin phúc đáp email của một số vị chung quanh v/đ nêu trong số trước :

KHÁI NIỆM VỀ CHỮ SĨ  và TRÍ THỨC :

Thuở nhỏ, TMCS đã được thày đồ dạy phân biệt hai chữ sĩ:  Sĩ 士  là học trò  và sĩ 仕 là  làm quan.

Sau này TMCS biết là trong các từ : tráng sĩ, chiến sĩ, hiệp sĩ. kiếm sĩ, binh sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ, hoạ sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, hoạ sĩ, nữ sĩ, sĩ phu, sĩ tử, nhân sĩ, chí sĩ, lực sĩ, võ sĩ, sĩ nông công thương…đều phải viết với chữ sĩ là học trò… hình như với ngụ ý tôn trọng những người có học vấn, phẩm chất , tài năng các loại…đạt mức nào đó.

Vốn dĩ là một kẻ ngoại đạo về ngôn ngữ học, TMCS chỉ hiểu nghĩa các từ trong đầu óc mình thôi, chứ không thể nói hoặc viết ra các định nghĩa chặt chẽ, chuẩn xác như cách thức thường gặp trong các cuốn từ điển. 

( Nghe đâu có cả một ngành học gọi là từ điển học chuyên đi sâu nghiên cứu vấn đề này . Các nước phương tây hay gọi là lexicographie, lexicography, лексикография, lexicografía…đại khái là khác nhau tí đuôi, TMCS “ leo lên mạng ” đôi khi lẫn cẫn, có lúc đã phải định thần chút xíu mới định dạng ra đấy là ngôn ngữ gì, cũng may trong đầu còn sót lại cái “từ căn” “lexico…” , chỉ e vài tuổi nữa khi trí nhớ đến hồi “chập choeng” thì mới gay, bây giờ còn “mang máng” tức là còn cơ may để bấu víu rồi suy ngẫm ra…Âu cũng là cái luật Giời, biết xoay sở sao được, cụ cựa mấy rồi cũng phải thua ông Giời cả …)

Mấy năm đèn sách, ngày ngày lui tới nơi cửa Khổng sân Trình, TMCS chỉ được có một lần thày đồ giảng cho về định nghĩa chữ “đại trượng phu” theo lời dạy của Mạnh tử như cung cách chặt chẽ kiểu từ điển học:

Mạnh Tử viết: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị đại trượng phu , , ,

Nghĩa là: Giàu sang không mê hoặc được, nghèo khó không thay đổi được, sức mạnh không khuất phục được, như thế gọi là bậc đại trượng phu.

Đến khi sang Tàu, TMCS có dịp la cà đến nhà bè bạn gẫu chuyện. Một hôm lần mò đến nhà ông bạn họ Vương, vừa gõ cửa thì bà vợ ông ta ra bảo rằng : Ngã trượng phu bất tại gia ! TMCS bật ngửa người, nhưng nhanh trí hiểu ra ngay nghĩa câu trên là: Chồng tôi không có nhà. Thì ra ngôn ngữ đâu chỉ là chuyện độc quyền của các nhà “kinh điển” và “từ điển” học, không “lăn long lóc” trong thực tế thì đến mùa quýt cũng chả đoán ra “ngã trượng phu” là nghĩa thế nào !

Ngẫm lại mà bật cười: Đại trượng phu thì trong sách vở Mạnh tử định nghĩa “oách” thế, mà “trượng phu” trong đời thường lại chỉ đơn giản là “ông chồng”. Tội nghiệp thay ! TMCS lại phải lục lọi truy tìm, tra cứu. 

Té ra  : Một trượng là mười xich (đơn vị đo lường chiều dài  cổ bên Tàu. Nam nhi cao 7- 8 xích coi như xấp xỉ một trượng, là đến tuổi trưởng thành, được nhìn nhận là đàn ông. Ngã trượng phu: người đàn ông của tôi tức là chồng tôi ! Đúng là lô-gich kiểu  Tàu sệt ! 

Nhưng chớ có hiểu  đại trượng phu là ông chồng to lớn  hoặc người đàn ông to lớn. Hiểu thế cũng trái với lô-gich Tàu ! Đại trượng phu lại chỉ được hiểu theo đinh nghĩa của Mạnh tử mà thôi !

Kết luận “bất thành văn” của TMCS: Học ngôn ngữ, hãy chú trọng học từ thực tế đời thường, sách vở ( từ điển) chỉ là để đối chiếu, tra cứu, hoàn thiện và nâng cao !

Chữ  sĩ ( 士 ) trên đất nước Tàu mới thực sự làm người ngoại quốc phải thất điên bát đảo, siêu hồn bạt vía ! Mấy năm trước, TMCS lang thang chơi Taipei, vô công rồi nghề mới xuống lễ phép hỏi cô lễ tân khách sạn chỗ mua thứ bút lông nổi tiếng của Taiwan, định bụng mua về để luyện thư pháp. Cô ấy ân cần bảo TMCS ra 士多 (sĩ đa) cuối phố mà hỏi. TMCS cám ơn, vừa đi vừa nghĩ :Sao cuối phố lại có “nhiều học trò” (sĩ đa) để hỏi ???  Cuối cùng mới vỡ ra: “Sĩ đa” là  phiên âm của từ  “store” của Ăng-lê, chả có liên quan đến học trò (sĩ), cũng chả quan hệ gì đến nhiều (đa) với ít. Sĩ đa là store, người Anh thường gọi các cửa hàng bán tạp hoá là store , người Tàu phát âm thành “Sư-tua” và viết là “sĩ đa”. TMCS nghe tiếng Tàu thế là khá tốt, chỉ có điều chậm hiểu về cách phiên âm của người Tàu, thậm chí không hề nghĩ đây là từ Anh phiên âm theo kiểu Tàu !

Lại thấm thía thêm về bài học liên quan đến việc học ngôn ngữ !

TMCS đã hơi “lẩm cẩm” và  bị “lạc hướng”,  xin quay về chủ đề chính :

Theo TMCS thì chữ “sĩ” 士, trong từ kẻ sĩ,  sĩ phu Bắc Hà…có hàm ý chỉ tầng lớp trí thức thời xưa, khi Nho học còn thịnh hành. Lúc đó từ Nho gia,  Nho sĩ là đã có hàm ý “người trí thức”, vì thời đó Nho học là nền học vấn chính thức , có thể coi như Quốc học !

Theo cách nghĩ nông cạn của TMCS thì danh từ trí thức có tính thời đại, thời trước thì từ các ông Nghè, ông Trạng,  ông Cử, ông Tú … đến các thày khoá, kể cả chưa đỗ đạt, các thày đồ, các danh sĩ như Đoàn thị Điểm , bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương,Tú Xương, Tản Đà, Phan Khôi…đều thuộc tầng lớp trí thức thời các vị đó cả. Không thể nói như ai đó : Thời xưa nước ta chưa có tầng lớp trí  thức và các nhà trí thức  !

Mấy năm trước, TMCS có dịp đọc một bài viết, tác giả bài đó là nhân vật khá nổi tiếng đã nêu rằng: ” Nước Viêt nam ta thời trước chưa có Trí thức, chỉ có các nhà Nho, họ học để làm quan và đa số  chỉ làm văn chương, thơ phú ! Cá biệt có một vài danh y như Hải thượng Lãn ông, Tuệ Tĩnh…Chúng ta không có nhà toán học, hoá học, vật lí  học, nông học…Cũng không có nhà triết học, thiên văn học…nào tầm cỡ cả…Hầu hết chỉ là truyền bá Nho học, tứ thư ngũ kinh của Tàu…”

 
Phủ nhận toàn bộ sự tồn tại của tầng lớp trí thức thời Nho học Việt nam, theo TMCS là cách nhìn nhận cực đoan, khó chấp nhận ! Cũng theo TMCS,phủ nhận trí thức Việt nam thời xưa cũng chẳng khác nào phủ nhận cả mấy ngàn năm văn hiến của nước ta, cho nên không thể chấp nhận luồng tư duy này !

Dù nhân vật nói trên có là “NHÀ” gì đi nữa thì với thân phận “một túp lều”, TMCS cũng phản bác thẳng thừng quan điểm  cho rằng Việt nam từ thời Nho học, vốn dĩ đã không có trí thức !!! Từ túp lều tranh, lều cỏ…TMCS cũng đủ can đảm và sáng suốt ngẩng cao đầu mà dõng dạc nói : Việt nam ta có hàng ngàn năm văn hiến với rât nhiều nhà trí thức lừng lẫy. Một số tiêu biểu :  Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chu văn An Lê Quý Đôn, Ngô Sĩ Liên, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Du, Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh, Đoàn thị Điểm , Đặng Trần Côn, Nguyễn Siêu, Cao Bá Quát, Ngô Thời Nhậm…còn rất, rất nhiều…Thời nào cũng có : Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch, Trần Đại Nghĩa, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Trần văn Giầu, Lương Định Của, Phạm Huy Thông, Nguyễn khắc Viện…khôn kể xiết!

Quá tự ti dân tộc, cúi gầm mặt xuống đất thì sẽ chỉ nhìn thấy mu bàn chân mình mà đánh mất đi lòng tự tôn dân tộc chính đáng !!! Bao nhiêu học hàm, học vị, chức sắc… của quý vị đó, TMCS  coi như con số không cả !!! Chợt TMCS liên tưởng đến câu của Jean Paul Marat (1743-1793) :
 
On est grand, parce que vous vous mettez à genoux
Citoyens! Levez-vous droitement. 
 
( Người ta lớn bởi vì anh quỳ xuống
Hỡi công dân! Người hãy đứng thẳng lên – TMCS ).
 
Mở đầu  bài thơ Hãy đứng dạy (1938-Huế) Tố Hữu có trích : Người ta lớn  bởi vì ngươi quỳ xuống, Hỡi Nhân dân… chắc là mượn ý mấy câu trên, chứ không hẳn là dịch .
 
Trong hội nhập quốc tế, chúng ta cũng và càng phải luôn luôn đứng thẳng như khi chiến đấu giữ gìn độc lập của tổ quốc ! Tự phủ định nền văn hiến và các nhà trí thức của dân tộc mình thì còn mong ai công nhận mình  nữa ! Như thế khác nào mình tự khom lưng , quỳ gối trước thiên hạ, trước toàn nhân loại, trước năm châu bốn biển để thấy họ là những gã khổng lồ còn mình là lũ nhép, tí hon… !
 

TMCS không bao giờ chấp nhận sự phủ định trên dù họ có là NHÀ gì…nhưng chả rỗi hơi mà đi đôi co với những ai đã không muốn còn lòng TỰ HÀO DÂN TỘC !

Đến khi Tân học (Tây học) thay thế Nho học, thì hình như  rõ ràng là ít ai nói đến “kẻ sĩ” nữa, thay vào đó người ta hay dùng từ “trí thức” để chỉ những người được đào tạo từ nền tân học.

TMCS tạm hiểu nôm na theo “thói quen” thực dụng :

Kẻ sĩ      = người có học vấn thời Nho học.

Trí thức = người có học vấn thời Tân học.

(Xin nhắc lại : đây là “thói quen” – chưa hẳn chuẩn xác!)

Thời tân học mọi thứ đều chẻ hoe và tách bạch, chứ không cảm tính, trực quan như thời Chữ Nho “đầu đời “của TMCS. Người ta cố gắng định nghĩa từ trí thức bằng nhiều cách, chả biết đã chuẩn và chặt chưa, cách phổ biến nhất hiện nay là:

Trí thức là những người làm việc bằng trí óc, có học vấn ở trình độ tương đối cao !

Tuy “cù lần”, nhưng TMCS cũng thấy được có chút gì vướng  mắc  ở đây:

Trí thức tất nhiên là người làm lao động trí óc chứ không thể làm lao đông chân tay đơn thuần : cuốc đất, khuân vác, cắt tóc, đạp xích lô…

Nhưng lao động trí óc ở trình độ nào thì gọi là tương đối cao ?

Ở thời đầu tân học thì giáo viên tiểu học, nhất là ở tỉnh lẻ đã được rất trọng vọng và có địa vị xã hội nhất định trong tỉnh. Các thày cô giáo dạy tiểu học, bác sĩ ở bệnh viện, ông thông, ông phán ở toà sứ…đương nhiên ở vào thời ấy được coi là thành phần trí thức của tỉnh… 

Thời đó , nhiều giáo viên dậy bậc Trung học đã được gọi là Giáo sư (như G/s Dương Quảng Hàm, Nguyễn Lân, Đặng Thai Mai….), ta không thể không coi những vị này là những nhà trí thức thời đó.

Dần dần về sau, từ trí thức hầu như chỉ thường dùng phổ biến với tầng lớp “cao cấp” như : Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch, Đặng văn Ngữ, Trần văn Giàu, Trần Đại Nghĩa…và một số văn nghệ sĩ rất nổi tiếng. Tuyệt đại đa số những người lao động trí óc như giáo viên , bác sĩ, kĩ sư hoặc công nhân viên chức bình thường mặc nhiên vẫn được xem là những người lao động trí óc, nhưng họ ít được đề cập đến với vai trò trí thức như thời trước, tuy không có văn bản nào quy định cụ thể nhưng hầu như  đến nay “theo thói quen” thường thì cứ phải là giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ… hoặc những bác sĩ, kĩ sư, nhà giáo, nghệ sĩ nổi tiếng mới hay “ được”  nhắc đến với  tính cách là các nhà trí thức…

Đó là cách hiểu nôm na của TMCS ( nặng về  theo tập quán thời đại ! )

Lại chuyển sang chuyện bên Tàu , bên Tây :

Bên Tàu : 

Có lẽ vì lẽ “núi liền núi, sông liền sông” mà cái gì cũng dễ ảnh hưởng nhau.

 

Từ “trí thức” ở Tàu cũng vẫn mang khái niệm và cách hiểu tương tự từ thời vua chúa (kẻ sĩ) đến thời kì hết vua chúa, nếu như sang Tàu thì nhớ phải gọi “trí thức” là “trí thức phần tử”, thiếu cái đuôi phần tử thì lại chỉ là tri thức ( connaissance) thôi ! Hễ nói “trí thức phần tử” thì người Tàu sẽ hình dung trong đầu họ hệt như ta nghe đến từ “trí thức”. Chỉ có điều, một bộ phận người Tàu  ( ở Hoa lục- tức là trừ dân Taiwan) còn định kiến với “trí thức phần tử”- thường cho họ là những người thiếu tinh thần “kiên định cách mạng”, lập trường chính trị bấp bênh…Bởi vậy các nhà  khoa học, nghệ sĩ lớn của Tàu  vẫn có phần e ngại khi được nhìn nhận là “ trí thức phần tử” nếu không thêm vào bổ ngữ “tiến bộ”, “cánh mạng”, “của nhân dân”, “của đất nước” , “của thời đại”, hoặc may mắn hơn : “của Đảng”… 

Bên Tây:

Hoá ra từ  “trí thức”  gốc chỉ là tính từ intellectuel, nó chỉ mới đổi ra danh từ và có ý nghĩa “trí thức” như cách ta hiểu hiện nay từ thời xuất hiện Tuyên ngôn của các nhà trí thức  (Manifeste des intellectuels). Đại từ điển Larousse trước đó cũng chỉ có dạng tính từ mà thôi !

Xin dông dài đôi chút:

Theo các tư liệu mà TMCS mò mẫm, lần ra tung tích thì té ra là các cụ Đông kinh nghĩa thục đã tiếp thu danh từ “intellectuel” từ tư liệu tiếng Pháp mà dịch thành trí thức. Đó là một bài báo đăng  trên tờ L’Aurore của tiến sĩ Clémenceau – sau này là thủ tướng Pháp. Bài này có tựa đề là Manifeste des intellectuels mà các cụ dịch là Tuyên ngôn của các nhà trí thức.

Ở Pháp người ta công nhận Clémenceau là người đầu tiên dùng danh từ “intellectuel” với nghĩa nhà trí thức, người trí thức. Bối cảnh lịch sử là phong trào đấu tranh dân chủ của trí thức Pháp , nổi bật và tiêu biểu là Émile Zola( tên đày đủ Emile Edouard Charles Antoine Zola: một trong bốn nhà văn  được an táng tại điện Panthéon- sau Voltaire, Jean Jacques Rousseau và Victor Hugo)

 Đại để như sau:

Với chính người Pháp, “intellectuel” cũng rất mới

Nó mới về hình thức, vì vốn là tính từ nhưng có người (liều lĩnh) sử dụng như danh từ… Nhưng quan trọng là dần dần mọi người nhận ra nó gói ghém một nội dung mới.

Danh từ “Intellectuel” ra đời trong cuộc tranh luận sôi sục khiến xã hội Pháp bị chia thành hai phe đối lập, kéo dài suốt mấy năm liền. Rốt cuộc, chân lý đã thắng – dù do thiểu số khởi xướng. Và té ra “trí thức” không xấu xa như đa số từng nghĩ, mà ngược lại. Qua tranh cãi dân chủ, xã hội Pháp trưởng thành vượt bậc, dân trí Pháp mở mang chưa từng thấy.

Đến nay, mọi ấn phẩm nghiêm chỉnh nói về xuất xứ, đặc trưng và định nghĩa trí thức… đều ít nhất đã tham khảo hai cứ liệu:

a) bài báo có tên Tuyên Ngôn của Trí Thức – là nơi “trí thức” chính thức xuất hiện.

b) thái độ và hành vi của nhân vật đứng đầu bản Tuyên Ngôn trên – người tiêu biểu cho phẩm cách trí thức.

Người đưa ra từ “trí thức” , tiến sĩ Clémenceau, vị thủ tướng tương lai, lúc này đang là chủ bút báo L’Aurore (Bình Minh) – nổi tiếng là tờ báo tiến bộ. Tuy nhiên, “trí thức” được xã hội chấp nhận không phải do học vị cao hoặc chức danh lớn của người sáng tạo ra nó. Nó sống khoẻ là nhờ bầu không khí dân chủ và tự do tiếp sinh lực cho nó. Vẫn biết, trước Zola từng có những người “có học” không khuất phục trước uy vũ; nhưng khi đó hàm lượng dân chủ và tự do trong xã hội chưa đạt mức để lớp “trí thức” ra đời.

Chuyện dài lắm, TMCS  xin nêu vắn tắt tư liệu liên quan  như sau :

Danh từ “Trí thức” từ đâu ra?

Intellectuel (tiếng Pháp) hay intellectual (tiếng Anh) trong từ điển vốn là một tính từ, còn danh từ gốc của nó là intellect (trí tuệ, trí thông minh). Nhưng một văn bản công bố năm 1906 – do nhà văn Zola ký tên đầu – lại được thủ tướng Pháp Clémenceau (tiến sĩ, nhà báo) gọi là Tuyên ngôn của Trí thức (Manifeste Des Intellectuels). Thế là một tính từ trở thành danh từ mới, chưa có trong các từ điển trước đó như Larousse 1866-1878 hay Đại từ điển Bách khoa 1885-1902

Đó là bản kháng nghị nổi tiếng, của các nhà văn, nhà khoa học nổi tiếng, chống lại một bản án oan cũng nổi tiếng là xấu xa trong lịch sử tư pháp nước Pháp (xử oan đại úy Dreyfuss vào tội gián điệp- trong khi đó tên gián điệp đích thực lại là một người Hungarie- về sau người ta gọi đây là “sự kiện Dreyfus). Như vậy, danh từ “trí thức” ra đời trong một sự kiện chống bất công, còn “người trí thức” ra đời khi xã hội thừa nhận danh từ này.

Thực ra, rất lâu trước đó đã có vô số cá nhân có phẩm chất và tiếng tăm không kém các tác giả bản tuyên ngôn nói trên, nhưng ý thức tự liên kết (ví dụ cùng ký tên vào một tuyên ngôn) và điều kiện cho phép liên kết để thực hiện những thiên chức xã hội thì chỉ xuất hiện khi xã hội có dân chủ; đồng thời người dân khi được hưởng các quyền tự do cũng bắt đầu hiểu rõ chức năng xã hội của tầng lớp trí thức và hưởng ứng họ.

TÓM TẮT:

Theo suy nghĩ nông cạn và quê mùa của TMCS thì cả xưa và nay, ở Việt nam và nhiều nước khác đều đã xuất hiện lớp người có hiểu biết, có học vấn thường là lao đông trí óc, văn học nghệ thuật, khoa học kĩ thuật…gọi bằng các tên gọi khác nhau với hàm ý NGƯỜI CÓ HỌC, NGƯỜI CÓ HIỂU BIẾT, trước đây ở ta hay gọi họ là kẻ sĩ, sĩ phu…sang thời tân học gọi là TRÍ THỨC. Dần dần danh từ “trí thức” gắn thêm khái niệm thời đại : người có học vấn cao, hiểu biết nhiều, có ảnh hưởng nhiều tới nhiều mặt của xã hội. Mức độ “cao và nhiều” có sự thay đổi linh hoạt theo thời đại.

 Tất nhiên , những nội dung trên – mà TMCS vừa gõ ra – chỉ nên coi là một cách hiểu và tiếp cận vấn đề chứ không phải là một định nghĩa chặt chẽ và khoa học (nhất là trên góc độ ngôn ngữ học).

Gõ ra đôi điều lỗ mỗ trên, cũng là TMCS liều lĩnh “đánh trống qua cửa nhà Sấm” mà mang hết sức bình sinh ra để trả lời mấy phản hồi của một số bạn đọc…

ÂU CŨNG LÀ CẢNH ĐƯỜNG CÙNG THẾ BÍ , TMCS còn biết làm gì khác được !

LẠI …PHAN THỊ THANH NHÀN…và chữ THẦM

Với TMCS, Hương thầm là bài thơ nổi nhất của PTTN ! Mà nổi nhất bài thơ là chữ THẦM !

Đâu phải TMCS lập dị … Thầm đa nghĩa lắm, thâm thuý lắm, tế nhị lắm…Hầu như hiểu thế nào cũng không phải là sai, cảm thế nào cũng chưa coi là thấu ! Chữ THẦM này là linh hồn của bài THƠ – Nếu có dịp diện kiến PTTN , TMCS sẽ mạnh dạn khẳng định điều này.

TMCS có lúc tưởng tượng  rằng: nếu giữ nguyên chữ Hương mà thay thầm bằng từ khác là  cả bài thơ sẽ như một toà lâu đài nguy nga sụp đổ ngay tức khắc

Xin đơn cử vài thí dụ :  Hương Kín đáo, Hương Bí mật. Hương Che dấu, Hương âm thầm  Hương thì thầm, Hương lặng thinh, Hương thầm kín…v.v…

Tất cả đều thua một chữ  THẦM.

(Giả dụ có ai đó hỏi rằng: 

Nếu ta đặt tên bài thơ này “chẻ hoe – huỵch toẹt” luôn là “Hương bưởi” thì sao nhỉ ???

Có lẽ câu trả lời thẳng thắn nhất sẽ là : 

                   Hương thầm lặng lẽ thầm thì

           Thay bằng Hương khác còn gì là Hương ! )

Tất cả những bản đã dịch ra thơ tây mà TMCS được biết đều chỉ ĐÚNG và CHÍNH XÁC về TỪ, nhưng về Hồn vía đều chưa trọn vẹn như chữ THẦM của tiếng Việt ta !

Dịch như các bản của TTTB@ : secret (TPN- LTK), dissimulé (PHM), In tranquillity (TMCS)… cũng là cơ bản ĐÚNG là  thế, nhưng chưa hẳn chỉ có thế, nghĩa là còn một khoảng “tí teo” nào đó mới “trùng khít” được với chữ THẦM của PTTN trong cái tên bài thơ Hương Thầm !

 

Ai cũng biết thầm là kín đáo, nhưng không có nghĩa là bưng bít, là giữ bí mật, là cố tình dấu diếm không cho ai biết…

Thầm lại đồng âm với “thầm thì” gợi lên một cảm giác có điều chi muốn thổ lộ riêng tư…( tương tự như thầm trong nói thầm, nhủ thầm, thầm hứa…) nhưng nghĩa thì lại khác !

Thầm lại có nghĩa là thầm lặng, âm thầm…xảy ra  “ngấm ngầm”…không ồn ào nhưng không hẳn là “im thin thít như thịt nấu đông” mà vẫn như có cơ hé lộ…chút gì đó…

TMCS đã đem bài Hương thầm của mình đã dịch ra thơ Hán để trưng cầu các bạn Tàu đến đàn đúm tại nhà cụ lang người Taiwan, tranh cãi nhau mãi, loại bỏ dần,  cuối cùng còn hai từ :  Tĩnh hương 靜香 và Mật hương 密香   Tĩnh là tranquil ( tĩnh lặng, thầm lặng ), Mật là secret ( bí mật)…sau một hồi trao đổi, cụ lang lấy biểu quyết : 100% tán thành Tĩnh hương 靜香 !

Theo TMCS đó là do đặc điểm ngôn ngữ. Nói thế nào thì người Tàu cũng không hiểu và cảm hết chữ Thầm trong Hương thầm của PTTN, mà văn nói của TMCS tuy không “giỏi” nhưng cũng không đến nỗi … Chỉ vì tội chữ THẦM  của PTTN “đắt quá” !
 
TMCS cứ bị ám ảnh mãi bởi cái vần “âm”, kì diệu lắm : tại sao âm thầm, ngấm ngầm, thầm thì, thầm lặng, trầm ngâm, rì rầm, câm lặng, tẩm ngầm tầm ngầm, thầm vụng, tàu ngầm, cả đến nghịch ngầm… tất cả cứ đeo dẳng mãi cái vần” âm + dấu huyền”…

Để quý vị hiểu rõ chữ Thầm mà PTTN đã chọn đặt tên cho bài thơ, có lẽ không gì hơn bằng mời quý vị đọc tạm mấy đoạn dưới TMCS  sưu tầm để hiểu thêm cái chất “thầm” của PTTN,  nó ngấm vào tên bài Hương Thầm như thế nào ! vì Thơ là người, Người là thơ mà !

Hồi ấy, TMCS ở nhà giữ “gôn” cho vợ và các con đi “ru “ học vắng cả ! Thấy TMCS thừa thời gian, lũ bạn thân thường rủ rê đi chơi… tiếp xúc với giới thi sĩ, nhạc sĩ, hoạ sĩ…Thế là trong đó có kế hoạch cho cuộc đến thăm nữ sĩ PTTN. Bỗng nhiên TMCS nhận quyết đinh chuẩn bị gấp để đi công tác xa vài tháng… tất cả đành dang dở ! Cuộc gặp không bao giờ được thực hiện vì anh bạn đã qua đời sau một tai nạn GT trong thời gian TMCS công tác xa. TMCS còn nhớ rõ: anh bạn này giới thiệu rằng PTTN  thich bơi lội, tennis…là hai món TMCS “trên cơ” nữ sĩ nhiều, để tha hồ trổ tài… Cũng hơi tiếc rẻ…không có dịp trao đổi gặp trực tiếp để “tranh thủ” trò chuyện  róc rách thơ phú với nữ sĩ PTTN…

Dưới đây chỉ là lời tâm sự của PTTN do một bạn khác của nữ sĩ ghi lại, xin “sao lục” để quý vị cùng tham khảo mà “cảm” thêm về “thầm” trong “hương thầm” – tư liệu này đã đăng báo công khai, ko lo vi phạm quyền “riêng tư” – (privacy).

“… …

Tuổi trẻ của tôi (PTTN), có thể nói từ năm 18 tuổi đến ngoài tuổi 50, và có thể cho đến tận bây giờ, vẫn thường xuyên… thất vọng về những người đàn ông “tỏ tình” với mình! Số tôi đen thế chứ! Ví dụ nhé, để tôi “thổ lộ” chút…  Chả là tôi rất ngại và sợ người nào tỏ ra yêu mến mà lại nhờ đọc rồi nhờ tôi nhận xét thơ của họ, sau đó lại còn nhờ tôi gửi đăng báo nữa chứ! Mà ông bạn này, sau chừng hơn chục năm quen biết, bỗng Tết năm 2010, đem ô tô đến, tha thiết nhờ tôi cho được gặp nhà thơ này, nhà văn nọ. Ngày Tết, tôi đành vui lòng dẫn ông đi, và vì lịch sự, một nhà thơ đưa ông cái giấy mời dự họp thơ! Thế là từ đó, ông bỗng mơ thành nhà thơ và liên tục đưa thơ nhờ tôi đọc. Đến một lần, ông bắt tôi phải tìm cách đăng cho ông một bài thơ, còn đề nghị tôi đưa đến gặp Tổng biên tập tờ báo này hoặc người phụ trách trang văn nghệ của tờ báo kia giúp ông làm quen và giới thiệu họ đăng thơ! Tôi kinh hãi quá, giờ cứ nghĩ đến lại giật mình như thể ông ấy sắp gọi điện hoặc đến thăm! Đành chào vậy.

Đó là nói vui về sự khốn khổ của một người làm thơ gặp phải một người cứ tưởng là yêu mình, hóa ra yêu sự nổi tiếng của thơ và mơ trở thành nhà thơ!

 

Nói vậy nhưng tôi (vẫn là PTTN) cũng đã được yêu rất trong trẻo và đắm say. Yêu trong trẻo là hồi tôi học lớp báo chí, còn chàng thì học ngoại giao. Chàng tâm sự là cùng lớp có một nàng rất thông minh và xinh đẹp, chàng ngỏ lời nhưng bị nàng từ chối. Tôi thương cảm và tò mò, tìm gặp nàng tận nhà. Dạo đó tôi là phóng viên nên cũng hơi… liều! Thái độ lạnh lùng và trịch thượng của nàng khiến tôi… tức giận hộ chàng. Thế là đi chơi và dù nhận ra chàng rất “đánh bóng” bản thân bằng cách chép tặng tôi những bài thơ tình rất hay mà tôi đã biết là của Xuân Diệu, Nguyễn Bính, hoặc của các nhà thơ nước ngoài nhưng chàng cứ ỡm ờ không ký tên tác giả bên dưới. Tôi cũng chỉ khen thơ hay mà không “bóc mẽ ” làm gì. Tình yêu đó chưa có gì “xâm phạm” nhau, chỉ là những kỷ niệm đẹp của thời còn đi học, nên tôi rất trân trọng và lưu giữ. Còn đắm say (nói cho oai) chính là ông xã tôi, mà nói thực lòng, thì có lẽ anh say là chính, còn tôi, đến tuổi lấy chồng là lấy. Hồi đó, anh công tác trên Tây Bắc, mà tôi thì học xong lớp báo chí, cứ một mực đòi lên Tây Bắc (lúc đó bài thơ Lên miền Tây của Bùi Minh Quốc được thanh niên Hà Nội thuộc lòng và hầu như ai ra trường cũng mơ được đi xa!). Ông xã, có thể nói, là một phần mơ mộng tuổi trẻ của tôi. Nhưng chúng tôi chỉ cùng sống được 12 năm thì anh bệnh nặng và qua đời, khi tôi mới ngoài 30. Sau khi nhà tôi mất, cho đến bây giờ là hơn 30 năm, tôi đã… thử yêu và không ngừng thất vọng!

* Thử yêu?một mối tình có lẽ là đẹp nhất, mà tôi đã lặn lội sang tận Bulgaria để gặp và làm bài thơ Plop đíp trong đó có mấy câu: Khi chia tay em đã khóc/Anh còn ở lại một năm/Plopđíp bây giờ tuyết trắng/Và anh cũng thành xa xăm…/Nơi ấy bao giờ em trở lại?/Tay em bao giờ anh lại cầm?… Nhưng giờ tôi không có quyền nhắc đến chàng, vì dạo đó chàng chưa lấy vợ, còn bây giờ thì chàng đang có một gia đình hình như hạnh phúc. Tôi sẽ nhắc đến một người có vẻ như yêu tôi mà không nói ra, song cho đến nay, có lẽ đó là một trong những người đàn ông thông minh nhất, hào hoa phong nhã nhất, lém lỉnh nhất và… đáng yêu nhất, người duy nhất tôi dám “chưng” tên dù có lẽ đã hơn 30 năm không gặp. Đó là anh Lã Xuân Thành, một kỹ sư dầu khí ở Vũng Tàu. Nếu anh Thành đọc bài báo này, không hiểu bây giờ anh đã có vợ mới chưa, tôi hy vọng anh cũng sẽ mỉm cười, nhớ lại dạo tôi vô tình gặp anh trong cuộc đón tiếp của công ty dầu khí với đoàn nhà văn Hà Nội mà sau đó anh đã rất nhiệt tình săn sóc.

Anh có hai con gái, vợ đã mất. Anh cùng hai con rủ tôi ra biển bơi cả buổi chiều, rồi ba bố con và tôi đi ăn tối. Anh gọi nhiều món quá, lúc ăn xong trên bàn còn nào cua biển, cá, tôm… Tôi nhắc các con anh: – Ba cô cháu mình cố ăn cho hết nhé, ai lại bỏ phí thế này. Ở ngoài Hà Nội (hồi đó còn bao cấp) chẳng có mà ăn đâu các cháu ạ. Anh cười lớn: – Bà nhà quê quá cơ, không ăn thì bỏ chứ ai lại ép con cái ăn bằng hết hả trời! Lúc ăn, anh chỉ ngồi nhìn tôi. Hơi ngượng, tôi ngẩng lên cười: – Cứ làm như đang ngồi ăn với người đẹp không bằng! Anh lại cười lớn: – Trời ơi, tuổi tôi với bà bây giờ thì còn đẹp với ai nữa chứ, khỏe mạnh và có duyên là may lắm rồi!

Một lần sau đó, tôi vào Sài Gòn, anh nghe tin, từ Vũng Tàu đi ô tô ra, tìm tôi và đưa đi chơi. Anh mua gì tôi cũng kêu đắt, vì anh chẳng khi nào mặc cả, người bán nói bao nhiêu là trả tiền ngay. Anh hỏi cần mua gì, tôi cũng không. Váy áo, không. Nhẫn vòng, không. Đồ kỷ niệm, không. Cuối cùng, anh tỏ ra cáu kỉnh: – Đừng có vớ vẩn, không chịu mua gì là anh tự mua tặng đó, chịu không? Tôi đành dắt anh ra quán bán văn phòng phẩm và chỉ vào mấy cái chặn giấy xinh xinh có vẽ con cá, bông hoa trông cũng đẹp. Anh hỏi mua cả chục và trả tiền luôn.

Tôi phải mở ngoặc ở đây là chàng kém tôi khoảng 3 tuổi. Mà anh chàng bắt tôi đọc thơ rồi đăng thơ cũng cứ xưng “anh” ngon lành. Còn chàng ở Bun thì lại trẻ hơn nữa! Trong cuộc họp ban chung khảo cuộc thi thơ về Hà Nội, chúng tôi đến sớm và ngồi tán dóc, nhà thơ Trần Đăng Khoa cười chỉ tay vào tôi: – Bà này có “nội thất sang trọng “ sao đó nên toàn bọn trẻ hơn mê… như điếu đổ! Lúc đó đang tán láo nên tôi không thanh minh, nhưng có lần nhà thơ Vũ Quần Phương đùa về chuyện tôi lúc nào cũng tươi cười như chưa hề đau khổ, tôi chép cho vị ấy mấy câu thơ: Có đôi lúc buồn tôi đã định tự tử/Có kẻ bảo ta là đồ ngu, coi ta như đứa ở/Có người sàm sỡ như ta là cave/Có đứa khen ta bốc trời như ta là con ngốc/Có thằng nói yêu ta rồi đem gái đến khoe. Tôi còn có thể trích ra đây nhiều câu thơ… thảm thương khác, như “Bây giờ tóc bạc, tuổi cao-thơ mình mình đọc, câu nào cũng thương”, “Người yêu ngày ấy đâu rồi? chỉ câu thơ sống cùng tôi, tuổi già”…

– Tôi nghĩ là tình yêu thì muôn mặt, các nhà văn nhà thơ nữ khi yêu, theo tôi, thường rất… cực đoan. Như Xuân Quỳnh, đã yêu là bỏ chồng dù biết người mình yêu chưa chắc đã bỏ vợ để sống với mình! Và khi đã không yêu là không thèm nhìn mặt! Tôi nhớ có lần, ở lớp học tiếng Pháp, Quỳnh nhất định không học nữa nếu trong lớp có anh chàng mà Quỳnh đã từng yêu. Và thế là anh chàng đành thôi học trước. Còn hiện nay, tôi có vài bạn gái trẻ nhất định không lấy chồng, vì “chưa gặp được người mà mình vừa yêu vừa kính trọng”. Tôi ra sức “cứu vãn tình hình”: 

– Trời ơi, tìm đâu ra người hoàn hảo bây giờ? Mà bản thân mình đâu có phải là người hoàn hảo? Tương đối thôi các mẹ ơi!

Thế đó, cuộc đời vô cùng ngắn ngủi và ai cũng có nhược điểm này khác. Hãy cố gắng chấp nhận nhau và nhìn nhau ở những khía cạnh đẹp. Tôi giờ dù đã già và các chàng mà mình từng có lúc mến mộ giờ hình như không còn được như xưa, nhưng tôi vẫn giữ những kỷ niệm đẹp và vẫn trân trọng những gì mình và họ đã ban tặng cho nhau khi còn trong sáng và mơ màng yêu đương… … “

Hoá ra “thầm” là thế, điều mà thi sĩ Hoàng Cầm đã từng viết là chỉ để bụng: “Những chuyện muôn đời không nói năng”, nhưng rồi vẫn thầm lộ ra, kiểu như hương hoa bưởi, ta chỉ gói kín được hoa, còn hương thì vẫn cứ thầm lan toả…

Quý vị đọc đến đây, chắc cũng như TMCS chợt “móc nối” Hương thầm với “Yêu thầm”, “ duyên thầm”…Nó chỉ là ngấm ngầm, không ầm ầm thôi, cứ trầm trầm, âm ỉ…lặng lẽ mà thấm thía…rồi hé lộ ra ở mức vừa đủ để cảm nhận !

Chỉ có Thơ Việt, tiếng Việt mới có được  Ý này, Tứ này…tinh vi, tế nhị, thâm thuý…đến thế. Công lao, cống hiến, tài năng của nữ sĩ PTTN cũng THẦM lộ ra ở chữ “thầm” này !!!

Ấy cũng chỉ nhờ chữ THẦM ấy, mà trong lúc xa quê hương vạn dặm, nhẩm lại bài Hương thầm của PTTN, TMCS bỗng cảm thấy trong thư phòng ngan ngát hương hoa bưởi đào !!!  Âu cũng có thể coi đây là chút duyên THẦM của bài thơ có cái tên Hương THẦM…

Thầm bao nhiêu, sâu sắc và rạt rào bấy nhiêu !!!

                                                       X

TTTB@ kì này sẽ giới thiệu toàn bài Hương thầm cũng các bản dịch.

Các phần khác như thường lệ.

Kính thỉnh nhã giám

  TTTB@ – TMCS

  •  

    HƯƠNG THẦM

    Phan thị Thanh Nhàn

    Cửa sổ hai nhà cuối phố 

    Không hiểu vì sao không khép bao giờ. 

    Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp 

    Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa. 

    Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay, 

    Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm, 

    Bên ấy có người ngày mai ra trận 

    Họ ngồi im không biết nói năng chi 

    Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi, 

    Nào ai đã một lần dám nói? 

    Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối 

    Anh không dám xin, 

    Cô gái chẳng dám trao 

    Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao 

    Không dấu được cứ bay dịu nhẹ. 

    Cô gái như chùm hoa lặng lẽ 

    Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu. 

    (Anh vô tình anh chẳng biết điều 

    Tôi đã đến với anh rồi đấy…) 

    Rồi theo từng hơi thở của anh 

    Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực 

    Anh lên đường 

    Hương thơm sẽ theo đi khắp 

    Họ chia tay 

    Vẫn chẳng nói điều gì 

    Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.

    THE SWEET SCENT IN TRANQUILLITY

    ( Poem by Phan Thị Thanh Nhàn

    Translation by TMCS )

    At the end of the street

    There are two houses

    With the windows facing  each other,

    But for an unknown reason,

    They are never closed.

    In these houses live two classmates.

    From a back yard,

    The fragrance of grapefruit flowers spreads…

    In her handkerchief are some hidden flowers,

    The girl hesitatingly goes to her neighbour,

    Tomorrow  to the front he will go.

    In silence they are sitting,

    Their eyes search each other then turn away.

    No one of them has dared  to say something till today ?

    They  are  embarrassed by the grapefruit flowers’s fragrance,

    He doesn’t dare to demand

    And she doesn’t dare to hand…

    Only the gentle sweet scent can not be hidden

    So in the room  spreads the fragrance.

    As silent as the clump of her flowers,

    She does hope that the sweet scent will confess for her…

    (You are so callous that you don’t know

    By what reason I come here today…)

    My flowers’s fragrance will follow your breath,

    Everywhere and everyday

    It will be together with you…

    They don’t say any thing to each other 

    Only the flowers’s fragrance  follows him forever

    TĨNH HƯƠNG

    (Phan thị Thanh Nhàn thi – TMCS dịch)

    Hà cố nhai đầu thử lưỡng gia        Cớ gì hai nhà ấy ở đầu phố

    Nhị song bất bế, giá đương * na   Cửa sổ đối diện nhau không đóng lại

    Tha môn hiệu hữu đồng niên cấp Họ là bạn học cùng lớp

    Viên hậu lai hương- dữu tử hoa    Sau vườn đưa lại mùi thơm- hoa bưởi! 

    ( đương: Đối mặt, hướng vào. ◎Như: đương diện đàm thoại đối mặt nói chuyện (nói chuyện trực tiếp), đương trước chúng nhân bả thoại thuyết thanh sở nói thẳng với mọi người..)

    Tàng ẩn cân trung dữu tử hoa           Giấu hoa bưởi trong chiếc khăn

    Phân vân thanh nữ đáo lân gia 紛紜 Cô gái phân vân sang nhà hàng xóm

    Phùng nhân minh nhật bôn tiền tuyến Gặp người mai ra trận

    Biệt thử lân giao , tâm sự đa            Từ biệt bạn nhà bên ấy, nhiều điều tâm sự…

    Tĩnh toạ tha môn vô khả ngữ        Họ ngồi yên không thể nói gì

    Nhãn tương tầm đãn bất hồi khan  Mắt tìm nhau nhưng không quay lại nhìn

    Tha môn vị cảm đàm tâm sự…         Họ còn chưa  dám ngỏ lời tâm sự

    Trực diện  tương phùng dữ ái nhân Khi trực tiếp   gặp mặt người yêu

    Dữu tử hoa hương, tâm vặn loạn (  紊乱) Hoa bưởi thơm, lòng bối rối

    Nam vô cảm yếu, nữ vô giao            Trai không dám hỏi xin, nữ không trao.

    Vô phương dứu tử hương tàng ẩn    Không thể giấu hương thơm hoa bưởi

    Sung mãn phòng gian  tản mạn phiêu  Mùi thơm bay khắp gian phòng

    Thiếu nữ như hương hoa  tĩnh tại Cô gái như hoa thơm lặng lẽ

    Dục hoa xuất ngữ biểu tâm tư     Muốn hoa cất lời nói lên nỗi lòng

    (Vô tình quân bất tri ngô ý         ( Chàng vô tình không biét ý em

    Ngã đáo quân gia, sự bất hư )  Em sang nhà chàng, việc không phải là hư ảo)

    Hoa hương quân tức tương tùng trước Hương của hoa  theo hơi thở  chàng mãi

    Sấm thấu quân hung, tâm để trung        Thấm vào ngực tận đáy trái tim chàng

    Quân tướng đăng trình hành xứ xứ       Chàng lên đường đi khắp nơi

    Hoa hương tòng tẩu nhât nhi chung       Hương thơm của hoa sẽ theo mãi

    Tha môn li biệt nhưng vô ngữ          Họ chia tay vẫn chưa nói gì

    Hành giả vĩnh hương dữu tử hoa… Hoa bưởi thơm mãi người đi

     靜香  (潘氏清閒詩-相梅居士譯

    何故街頭此兩家
    二窗不閉這當那
    他們校友同年級
    園後來香柚子花
    藏隱巾中柚子花
    紛紜少女到鄰家
    逢人明日奔前線
    別此鄰交心事多
    靜坐他們無可語
    眼相尋但不回看
    他們未敢談心事
    直面相逢與 愛人
    柚子花香心紊亂
    男無敢要女無交
    無方柚子香藏隱
    充滿房間散漫飄
    少女如香花靜在
    欲花出語表心思
    (無情君不知吾意
    我到君家事不虛)
    花香君息將從著
    滲透君胸心底中
    君將登程行處處
    花香從著一而終
    他們離別仍無語
    行者永香柚子花

     

    PHÁP : TRỊNH PHÚC NGUYÊN
     
    PARFUM    SECRET

    Les fenêtres des deux maisons à la fin de la rue

    On ne sait pourquoi ne sont jamais fermées.

    Ce sont deux amis,auparavant camarades d’une même classe.

    Le pamplemoussier derrière la maison exhale sa fragrance.

    Cachant une gerbe de fleurs dans son mouchoir,

    La jeune fille en hésitant passe à la maison voisine,

    Là,il y a un partant demain pour le front.

         

    Ils s’assoient,silencieux, ne sachant dire quelque chose.

    Leurs yeux subitement se cherchent et aussitôt se détournent,

    Mais personne n’a osé prendre la parole?

    Les fleurs de pamplemousse exhalent le parfum troublant leur coeur.

    Il n’ose demander,

    La jeune fille n’ose offrir,

    Seul le parfum doux et subtil,ne pouvant être caché,

    Persiste et s’épanche doucement et tendrement.

    La jeune fille,pareille à la gerbe de fleurs silencieuses

    Recourt au parfum pour avouer son amour:

    “Oh! Insensible que vous êtes!Vous ne savez rien du tout,

    Me voici,que je suis venue déjà avec vous!”

    Puis,rythmiquement suivant son souffle,

    Ce parfum pénètre profondément dans sa poitrine.

     Il prend la route,

    Le parfum le suivra toujours et partout.

    Ils se quittent

    Toujours sans rien dire..

    Mais le parfum secret s’imprègne à jamais

    Sur les pas du partant.

                                        Poeme HƯƠNG THẦM

                                de PHAN THỊ THANH NHÀN

    Traduction         de TRỊNH PHÚC NGUYÊN

     

     PHÁP:  PHAN HOÀNG  MẠNH:

                   LE  PARFUM  DISSIMULÉ

    Les fenêtres des deux dernières maisons de la rue

    On ne sait pourquoi, ne sont jamais fermées.

    Les deux étaient camarades de classe.

    De derrière la maison, s’exhalent doucement les fleurs

                                                          de pamplemoussier.

    Cachant une touffe de fleurs dans son mouchoir,

    La jeune fille, à pas hésitants, se rend chez son voisin.

    Là, demain, il y aura un homme partant pour le front.

    Ils restent assis silencieux, ne sachant rien dire.

    Leurs yeux se rencontrent tantôt et tantôt se détournent.

    Qui donc oserait jamais parler le premier?

    La senteur des fleurs de pamplemoussier rend l’âme 

                                                              bien embarrassée.

    Lui, il n’ose demander, 

    La jeune fille n’ose rien donner.

    Rien que la senteur tiède et raffinée,

    Ne pouvant se dissimuler, continue à se propager tout 

                                                                       doucement.

    La jeune fille, tout comme  la touffe silencieuse de 

                                                                         fleurs,

    Se fie à la senteur pour l’aider à avouer son amour.

    (Ô toi, l’indifférent, tu ne sais rien du tout!

    Je suis déjà venue vers toi, ne comprends tu donc pas ?)

    Et suivant chaque souffle qu’il respire,

    Cette senteur pénétra profondément dans sa poitrine.

    Il part au front,

    Cette senteur le suivra partout.

    Ils se séparent,

    Toujours sans parole aucune

    Et le parfum dissimulé continuera toujours à 

                                           embaumer les pas du partant.

                                 ============            

     

    PHÁP: LÊ THÀNH KHÔI 

     LE PARFUM SECRET

    Les fenêtres des deux logis au bout de la rue

    On ne sait pourquoi ne sont jamais fermées

    Les deux amis étaient autrefois dans la même classe

    Le pamplemoussier derrière la maison répand son arôme.

    Cachant quelques fleurs dans son mouchoir

    La jeune fille hésite à franchir le seuil voisin

    Là,quelqu’un ira au front demain.

    Ils restent assis ,ne sachant que dire

    Les yeux soudain se cherchent puis se détournent

    (Qui donc a jamais osé parler?)

    La senteur ne fait que troubler l’âme,

    Il n’ose pas demander,elle n’ose pas donner

    Seul le parfum suave et pur

    Impossible à cacher flotte subitement.

    La jeune fille pareille au bouquet silencieux

    Demande au parfum d’exprimer son amour

    Tu es sang coeur,tu n’es pas sensé,

    C’est pourquoi je suis venue jusqu’à toi.

    Accompagnant chacun de tes souffles,

    Ce parfum penetrera en toi profondément

    Tu t’en vas

    Le parfum te suivra partout.

    Ils se separent

    Toujours sans rien dire

    Mais le parfum secret accompagne 

    Les pas de celui qui s’en va…

     
    LÊ THÀNH KHÔI

    (Histoire et anthologie de la Litterature vietnamienne des origines à nos jours ,page 532)


  • PHỤ TRƯƠNG TTTB@ No134

                        TMCS

    TRUYỆN DÍ DỦM

    QUALITY

    (Gleaned by TMCS)

    A customer asked the owner of a shoes shop:

    – How is the quality of your shoes?

    – Very good, never worn out, never spoiled! – Replied       the owner of the shoes shop.

    – Why are you certain so that?

    • Because all the customers who bought shoes here, never came back to buy for the second time.

    TMCS’s comment:

    Wonderful answer ! 

    CHẤT LƯỢNG

    (TMCS lượm và dịch)

    Một khách hàng hỏi một chủ hiệu giày:

    • Chất lượng giày của ông thế nào ?

    Người chủ hiệu trả lời:

    • Tốt lắm, không bao giờ mòn, không bao giờ  hỏng.
    • Sao mà ông tin chắc như vậy?
    • Bởi vì tất cả khách hàng mua giầy ở đây không bao giờ phải quay lại lần thứ hai.

    TMCS bình:

    Câu trả lời của ông chủ hiệu giày thật là “ Tuyệt vời ông mặt trời ! “

    ĐỐ VUI.

    Kì trước:

    Dès que vous m’avez, vous voulez me partager, mais dès lors je ne suis plus. Que suis-je ?

    Ré: Un secret.

    Kì này:

    Avec les lettres de mon nom je peux écrire celui de ma maison.

    Qui suis-je ?

    VÈ VÀ ẢNH (TMCS)

    TMCS chợt thấm thía nỗi buồn tha hương, bèn muốn rời vườn Hoa và vườn Thơ để rong chơi chốc lát. 

    Chơi gì ?

    Chợt nhớ đến bài thơ quên “tịt” cái tên rồi, nhưng may vẫn nhớ  được là của cụ Nguyễn Công Trứ – chưa chắc đã đúng từng chữ trong bài thơ, nhưng đại để như sau : 

    Trời đất cho ta một cái tài 

    Giắt lưng dành để tháng ngày chơi 

    Dở duyên với rượu khôn từ chén 

    Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời 

    Cờ sẵn bàn son xe ngựa đó 

    Đàn còn phím trúc tính tình đây 

    Ai say, ai tỉnh, ai thua được 

    Ta mặc ta mà ai mặc ai!

    Đấy toàn là các ngón chơi tài tử cả ! Ngay câu đầu đã nêu điều kiện chơi : một cái tài !

    Khốn nỗi TMCS đến  “nửa cái” cũng chả có thì đào đâu ra cả một cái như cụ NCT, chả lẽ lại đi “cao lâu”, “cà phê”…Đến những chỗ ấy thì “tài lẻ” không xong mà phải “tài chính” cơ…mà tài chính tức là “finance = $” chứ đâu phải là vỏ hến …

    Đành mò đến CLB gần nhà, lái xe độ mươi phút là đến, vào mua vé, thuê giày chơi bowling ! Bên này  bà con Vn ta gọi là “bâu linh” – TMCS nhớ láng máng xa xưa hình như bên nhà gọi là chơi “ki” ! (xem ảnh).

    Khoản  “chơi”  như cụ NCT thì TMCS xin hàng, nhưng chơi nghịch kiểu học trò – trẻ trâu ( bao gồm cả nghịch ngầm) thì TMCS đạt loại xuất sắc từ khi học chữ Nho ! Để dễ hiểu, TMCS xin giả dụ một cách khiêm tốn: Ví như xếp học lực của TMCS từ thời để chỏm  trái đào học “nhân chi sơ””đến hết thời sinh viên cứ gọi là trung bình hoặc chiếu cố cho lên Khá thì các môn chơi bời, nghịch ngơm của TMCS có xếp loại xuất sắc cũng vẫn còn …là khiêm tốn !

    Quay lại chuyện “bâu linh” (bowling): 

     

    Mấy anh tây chị đầm thấy già Nguyễn mau mồm nhanh miệng, liến thoắng chào hỏi liền đon đả rủ rê chơi cùng. Lát sau, họ té ngửa : hoá ra TMCS chẳng khách khí chút nào, quăng mấy quả liền ăn điểm tối đa, bỏ xa thiên hạ ! Đến nỗi, họ xuýt soa tiếc rẻ là mấy tháng trước TMCS không đăng kí vào đội  tuyển CLB dự Olympic môn này cấp City (Thành phố)! 
    Mấy anh chị này lớn lên bằng bơ sữa, từ tấm bé sống trên nhung lụa, cả đời chưa qua cuộc chiến nào,  chắc hẳn chẳng biết xưa xửa xừa xưa, TMCS đâu có “lủ khủ lù khù” như hôm nay mà đã từng đường đường  một đấng nam nhi , uy phong lẫm lẫm, thay mặt đơn vị, vai đeo ba lô, tay cầm súng trường, tay quăng lựu đạn, vô địch cả ném  xa và ném trúng đích mấy kì  hội thao liền…Thực ra chơi trò bowling này dễ ợt, chỉ cần mắt mũi tinh tường, cơ tay  vững chãi, còn cầm và quăng nổi quả bóng nặng có 7,3 kg cho nó lăn trên đường băng dài 18,3 m để khi trúng đích quả bóng còn đủ xung lực xô đổ các ki càng nhiều càng tốt, chỉ cần khéo léo vung tay ném, thả đúng tư thế trên hướng  chuẩn là ăn điểm tối đa…Ở đây tất cả đều tự động hoá: từ nhặt bóng, trả bóng ,dựng và xếp lại ki đổ, tính toán và ghi điểm, giày chuyên dụng phải chọn theo số chân để thuê rồi quẹt thẻ thanh toán…Mọi việc người chơi tự lo lấy, hệ thống máy tự động giải quyết tất tần tật, chả có ma nào phục vụ người chơi cả.  (Hình như  bên mình bây giờ có mốt gọi kiểu CLB này là CLB thông minh ??? – cái gì cũng thông minh ? Mở rộng ra : điện thoại thông minh, căn hộ thông minh, phường, xã, quận, huyện thông minh, thành phố thông minh…rồi chả mấy chốc …cả xã hội, cả nước mình thông minh… nghe hay quá ! nhưng coi chừng, tốn kém lắm đó, nếu kèm theo chuyện “xà xẻo, đẽo đục” nữa thì chỉ ba bảy hăm mốt ngày là… hết phim !) _ ( Ở bên này, TMCS vẫn còn đang phải tranh thủ lăn xả vào thực tế, “ba cùng” để củng cố  Ăng-lê mà dịch thơ cho tốt, cũng vui ra phết…xách giỏ đi chợ, đi siêu thị…róc rách thạo “ghê” lắm rồi…mà dịch thơ vẫn còn khó lắm, viết câu văn xuôi Ăng-lê thì nghe chừng đỡ vất vả hơn chút xíu !!!)

    Chắc chỉ cần qua một khoá tập huấn chiếu lệ, TMCS cũng dám thi lấy chứng chỉ làm HLV môn bowling, chỉ e …thiên hạ trông thấy… năm sinh tháng đẻ trong giấy tờ của TMCS đã…hồn siêu phách lạc mà lắc đầu lia lịa ! Ngày nay, đây là môn thể thao Olympic, có liên đoàn Bowling các quốc gia và thế giới  tương tự như bóng đá….Điều lệ, quy cách, luật chơi…cực kì nghiêm chỉnh.

     TMCS chơi thì chơi vui thôi, chứ ở tuổi này còn thiết gì mề đay vàng với bạc ! Hai mảnh vườn Thơ và Hoa , ai trông cho mà đi tập trung cả hàng tháng trời, chẳng được ti toe tung tẩy, lại cả ngày cả buổi phải nghe mấy thày, mấy cô HLV “búng ra sữa” dạy bảo, uốn nắn, mắng mỏ… !
     
                                                        Thà dịch thơ rồi nằm khoèo    

                                                            Hơn nghe í ới, ỉ eo cả ngày

     
    Chuột chạy cùng sào bèn bắt chước cụ NCT mà nghêu ngao, không thơ được, thì vè vậy:

                        CỨ CHƠI

                                         TMCS

          Tài thì Giời chẳng cho mình,

    Không chơi thì thiệt, tình hình rất gay.

           Hôm nay ra ngõ gặp may:

    “Bâu linh”, thiên hạ biết tay lão già!

           Từ nay , bài học rút ra:

      Cứ chơi mới biết ai là hơn ai.

           Tuổi cao, ngày rộng tháng dài,

    Không chơi cũng phí cũng hoài tuổi cao !
     
    Ghi chú:
     
                    Vè này “mết”(made*) ở nước ngoài,
                 Hễ nghe không lọt, bỏ ngoài tai cho,
                             Mec-xi, xpa-xi-bơ,
                   Ai muốn đọc tiếp, xin chờ tuần sau !
     
    CHÚ: *Ở đây dân bản địa đọc made là “mây đờ” với trọng âm (cực kì quan trọng) ở âm tiết thứ nhất” a”.
    Ảnh dưới: 
     
    Nhờ chị đầm “nháy” hộ (  bằng iphone của TMCS, nhưng phải cầm tay chỉ việc đấy, từ khuôn hình, màu sắc, vị trí- tư thế nhân vật…cứ kĩ càng như một tác phẩm hội hoạ, lại phải “giảng giải” bằng Ăng-lê cho rành rọt ,dặn kĩ trước, nhấn mạnh với chị ấy là ảnh sẽ đăng trên TTTB@… Vào mạng xem cái ảnh này chắc chị ấy khoái chí lắm, chả mấy khi có tác phẩm đi khắp năm châu bốn biển, chả kém gì Khốt-TMCS  )  !

     

                                Ảnh TMCS chơi bowling ở CLB

                                                                              Oct. 2017

    NGẪU HỨNG BOWLING

                                (Đề ảnh chơi bowling)

    Lựa đà nhằm đích, vung tay thả,

    Quả bóng lăn đi, đổ hết ki.

    Ha hả, cười vang nhìn kỉ lục

    Lập loè, trên bảng điện vừa ghi.

                                                
                                                ” Made in Australia ”   
                                                 By TMCS – Oct. 2017
     
                                                                                             
                                             Inline image

           

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

HƯƠNG THẦM (khổ 3-4) -435

Bl(435) TTTB@ No133

HƯƠNG THẦM (Khổ 3-4)

DẠO ĐẦU TTTB@ No133

LAN MAN : VỀ THIỀN – CƯ SĨ – TƯƠNG MAI CƯ SĨ.


Gần đây, TMCS “có phần”  ngỡ ngàng thấy  các nội dung phản hồi  dồn vào phần Dạo đầu  nhiều hơn hẳn các phần khác. Rõ ràng đây là một sự thay đổi đáng  quan tâm, vì trước kia hầu hết các phản hồi đều nhằm vào phần Thơ dịch. Với kinh nghiệm và hiểu biết của bản thân, TMCS đã bình tĩnh phân tích tư liệu và nội dung thống kê trên laptop, thấy rằng : số lượt bạn đọc truy cập vào đọc ba phần  Dạo đầu, Thơ dịch, và Phụ trương là chênh lệch không nhiều, nhưng gần đây số lượng ý kiến đánh giá , góp ý, đề nghị giải đáp… lại hầu như tập trung vào phần Dạo đầu. Ngay cả số lượng truy cập và ý kiến phản hồi của bạn đọc trong nước với phần Dạo đầu cũng bất ngờ tăng lên – khác với trước đây phần này thường được coi là không mấy hấp dẫn với bạn đọc trong nước vì lí do “biết rồi, khổ lắm…” .

Phân tích so sánh, TMCS thấy không có ý kiến “dislike” (không thích) hoặc chê trách gì về phần Thơ dịch và Phụ trương, chỉ có sự trao đổi và câu hỏi về phần Dạo đầu nổi trội hơn hai phần còn lại cả với bạn đọc trong nước.. Hiện tượng này nói lên hai điều hệ trọng :

a-TTTB@  vẫn duy trì được chất lượng đồng đều ở cả ba  phần. Cụ thể là số bạn đọc truy cập vào ba phần là gần như đồng đều, không có sự chênh lệch lớn, điều đáng mừng là nhìn chung  vẫn có xu hướng mỗi ngày mỗi tăng.

b- Bạn đọc chuyển hướng chú trọng trao đổi, góp ý, nhận xét nhiều hơn vào các nội dung trong phần Dạo đầu.


TTTB@ sẽ tiếp tục theo rõi thống kê và phân tích rút kinh nghiệm để ngày càng đáp ứng tốt các nhu cầu của bạn đọc. 

Dưới đây là phần giải đáp câu hỏi theo yêu cầu độc giả.
 
Nhân  TMCS nói về việc hàng sáng tọa thiền với lũ chim trời, một số bạn hỏi:

Thiền và Khí công học khác nhau thế nào? có liên quan gì với Yoga?

TMCS thiền đến trình độ nào rồi? có phải là thiền sư không? trường phái nào, cư sĩ ở đây có đúng là “ người tu tại gia” của  bên đạo Phật không…

Xin chân thành đa ta sự quan tâm của quý bạn đọc, TMCS không muốn và không dám “gõ” về  bản thân, nhưng các bạn đã hỏi thì để tránh hiểu lầm do suy diễn “từ xa” và e phụ lòng quý vị, TMCS xin trả lời  rõ ràng, cụ thể từng vấn đề.

THIỀN:

TMCS bắt đầu thiền từ lâu lắm, mấy chục năm nay rồi, nhưng vẫn chỉ là một THIỀN SINH, một người đang tập thiền thôi !

Thiền không phải là rèn luyện khí công (bao gồm cả khí công dưỡng sinh và khí công võ học). TMCS  học khí công từ khá lâu nhưng cũng chỉ mới ở trình độ i, tờ – vỡ lòng thôi ! Yoga là một lãnh vực khác biệt, TMCS không dám đề cập trong số này vì e sẽ dễ xảy ra sự lẫn lộn linh tinh.

Cả về mục đích, ý nghĩa, lí thuyết và thực hành, THIỀN khác biệt cơ bản với khí công dưỡng sinh và khí công võ học, cũng không được lẫn lộn Thiền với các  triết lí và các tư thế, yếu lĩnh luyện tâm và luyện thân của yoga.

TMCS đã có dịp tới  chùa Thiếu lâm tìm hiểu về Khí công võ học và Khí công dưỡng sinh, hai môn này liên quan đến các kiến thức về huyệt đạo, vòng chu thiên, trầm khí đan điền, vận khí, điểm-giải huyệt trong chiến đấu và chữa trị chấn thương…Nhờ có vốn Hán ngữ và Hán tự, TMCS vừa đọc tài liệu chữ Hán , vừa tranh thủ xin phép nhà chùa cho được “kiến tập” (xem các học viên người nước ngoài thực hành do các sư Thiếu Lâm dạy – TMCS nghe hiểu trực tiếp mà không phải qua phiên dịch viên như các học viên Âu- Mỹ. Kiến tập thì chỉ coi như tham quan, không phải nộp khoản học phí nào . )


Về nước, TMCS đã kì công tìm được Thày học để thực hiện việc tầm Sư học Đạo về một số nội dung cơ bản và sơ đẳng đã quan sát được ở chùa Thiếu lâm . TMCS theo học một thời gian thì phải xin phép Thày nghỉ học để đi công tác xa…Nhờ tiếp tục thường xuyên tự giác kiên trì luyện  tập như đã được Thày dạy bảo mà sau này tuy phải đến nhiều vùng có môi trường khí hậu rất khắc nghiệt, TMCS vẫn được an toàn. Đến nay ở tuổi U90 tuy đã lão hoá khá nhiều, song TMCS vẫn duy trì tương đối tốt độ bền cơ thể…

Những điều đề cập sơ bộ trên đây chỉ là môn khí công, chưa phải là môn Thiền theo đúng nghĩa gốc gác của từ này. 

Về THIềN, có nhiều môn phái với những khái niệm và cách thức cơ bản riêng biệt. Muốn có kết quả tốt, tránh những hệ luỵ tiêu cực, quý vị nào muốn tìm hiểu và thực hành nên tìm gặp các vị hoà thượng chân tu để lĩnh giáo. Qua trao đổi, lãnh hội nếu thấy thích hợp hãy theo đuổi và một khi đã theo đuổi thì phải toàn tâm, toàn ý và kiên trì suốt đời.

THIỀN mà TMCS  đề cập trong bài này liên quan đến Phật học.

Chữ Hán: Thiền 禪 cũng có nghĩa liên quan đến chùa chiền và Phật học. 

Từ xa xưa trong truyện Thuỷ hử* bên Tàu đã có từ Thiền liên quan đến nhà chùa và kinh kệ :
 
(-* Thủy hử hay Thủy hử truyện (水滸傳), nghĩa đen là Truyện “Bến nước”, là một tác phẩm trong bốn tác phẩm lớn của văn học cổ điển Trung Hoa, thường gọi là nhóm Tứ đại danh tác. Tác giả Thủy hử thường được ghi là Thi Nại Am 施耐庵 (1296-1370))
 Thí dụ :

Thủy hử truyện : Lão tăng tự mạn mạn địa giáo tha niệm kinh tụng chú, bạn đạo tham thiền 慢慢, (Đệ tứ thập hồi). Dịch nghĩa: Lão tăng đây sẽ dần dần dạy cho hắn biết đọc kinh tụng chú, học đạo tham thiền.

Trong truyện Kiều, TMCS nhớ là Nguyễn Du có viết về Kiều khi cả nhà tìm gặp được như sau :

   Mùi thiền đã bén muối dưa,
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.  

Cả hai chữ Thiền này đều nói về chùa và đạo Phật cả.

Trên đây là cách tiếp cận ban đầu của TMCS với khái niệm thiền qua sách vở chữ Nho, còn muốn có khái niệm toàn diện và sâu hơn quý vị nên nghiên cứu những tư liệu riêng về Thiền. 

Bước đầu, quý vị có thể tham khảo mấy định nghĩa cơ bản trong BKTT mở, xin trích dẫn  vài ý niệm cơ bản như sau :

Thiền (zh. chán 禪, ja. zen), gọi đầy đủ là Thiền-na (zh. chánna 禪那, sa. dhyāna, pi. jhāna, ja. zenna, en. meditation), là thuật ngữ Hán-Việt được phiên âm từ dhyāna trong tiếng Phạn. Dhyāna là danh từ phát sinh từ gốc động từ √dhyā (hoặc √dhyai). Bộ Sanskrit-English Dictionary của Monier-Williams ghi lại những nghĩa chính như sau:

to think of, imagine, contemplate, meditate on, call to mind, recollect.

( Ở Australia, khi trao đổi với TMCS về thiền,  mọi người đều dùng từ Meditation – nghĩa đời thường là trầm tư, suy ngẫm…)

Tất cả các trào lưu triết học Ấn Độ đều hiểu dưới gốc động từ này là sự tư duy, tập trung lắng đọng và vì vậy, ta cũng tìm thấy từ dịch ý Hán-Việt là Tĩnh lự (zh. 靜慮). Các cách phiên âm Hán-Việt khác là Đà-diễn-na (zh. 馱衍那), Trì-a-na (持阿那). Có thể coi Thiền là sự kết hợp giữa thân thể và ý niệm trong thời gian – không gian hiện tại để nhận biết sự vật, hiện tượng và ý niệm.

THIỀN còn là một thuật ngữ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích thống nhất là: đạt kinh nghiệm “Tỉnh giác”, “Giải thoát”, “Giác ngộ”. Trong những trường phái tu tập mật giáo — “mật” (en. esoteric) ở đây có nghĩa là tu tập để tự đạt kinh nghiệm tỉnh giác, không để ý đến những cái rườm rà bên ngoài của tôn giáo, có thể gọi là “bí truyền” — các vị tiền nhân đã nghiên cứu và phát triển những con đường khác nhau thích hợp với cá tính, căn cơ của từng người để đạt đến kinh nghiệm quý báu nói trên. Nếu  ta hiểu “Tôn giáo” là câu trả lời, giải đáp cho những cái “không hoàn hảo”, “không trọn vẹn”, các “bệnh” của con người thì Thiền chính là liều thuốc trị những bệnh đó.

Dấu hiệu chung của tất cả các dạng tu tập Thiền là sự hướng dẫn con người đạt một tâm trạng tập trung, lắng đọng, như là một hồ nước mà người ta chỉ có thể nhìn thấu đến đáy nếu mặt nước không bị xao động. Tâm trạng bình yên, lắng đọng này có thể đạt được qua nhiều cách khác nhau như luyện tập uốn nắn thân thể theo Haṭhayoga (bức khiển phương tiện 逼遣方便), sự tập trung vào một tấm tranh, một Thangka hoặc âm thanh như Mantra,

Ý chí cương quyết tu tập Thiền sẽ dẫn hành giả đến một tâm trạng Bất nhị, nơi mà những ý nghĩ nhị nguyên như “ta đây vật đó” được chuyển hoá; hành giả đạt sự thống nhất với “Thượng đế”, với cái “Tuyệt đối”, những khái niệm về không gianthời gian đều được chuyển biến thành cái “hiện tại thường hằng”, hành giả chứng ngộ được sự đồng nhất của thế giới hiện hữu và bản tính. Nếu kinh nghiệm này được trau dồi thâm sâu và hành giả áp dụng nó vào những hành động của cuộc sống hằng ngày thì đó chính là trạng thái mà tất cả những tôn giáo đều gọi chung là “Giải thoát”.

ĐỊNH NGHĨA VỀ THIỀN được tâm đắc phổ biến nhất:

Tiến sĩ khoa tâm lý học kiêm Thiền sư người Anh David Fontana viết tóm tắt rất hay về thế nào là Thiền và thế nào là Phi thiền:

Thiền không có nghĩa là ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu. Thiền là: giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như nó là; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu.”

Theo đạo Phật, hành giả nhờ Định (sa. samādhi) mà đạt đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức, trong đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối tượng thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều chặng, trong đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Một khi hành giả trừ năm chướng ngại (ngũ cái五蓋, sa. nīvaraṇa) thì đạt được bốn cõi thiền (tứ thiền định) của sắc giới (sa. rūpadhātu, xem Tam giới), đạt Lục thông (sa. ṣaḍabhijñā) và tri kiến vô thượng. Tri kiến này giúp hành giả thấy rõ các đời sống trước của mình, thấy diễn biến của sinh diệt và dẫn đến giải thoát mọi lậu hoặc (sa. āsrava). Hành giả đạt bốn cõi thiền cũng có thể chủ động tái sinh trong các cõi Thiên (sa. deva) ….

Nhiều chục năm nay, TMCS càng Thiền càng thấy tâm đắc với diễn giải của   tiến sĩ Thiền sư DAVID FONTANA (in chữa đỏ trích dẫn trên) về Thiền và Phi thiền.
 
Nhiều vị Thiền sư là cao tăng đến từ nhiều quốc gia mà TMCS có duyên hạnh ngộ, cũng đã có những lời nhắc nhở TMCS tương tự như ý kiến hết sức cô đọng, chuẩn xác của DAVID FONTANA.

Nhiều năm về trước, TMCS nhờ cơ duyên lên chùa chép kinh bằng bút lông, lúc đầu chỉ là để ôn luỵện chữ Nho và thư pháp,  dần dần được các nhà sư quý mến mà chỉ bảo cách thức thực hành tu thiền nơi cửa Phật. TMCS một mặt chịu khó học hỏi, tìm hiểu các nội dung vừa cao siêu vừa đơn giản của đạo Phật – Chân lí đúng ra là không rắc rối, tối mù mù như thường bị ngộ nhận –  và qua đó hiểu rõ thêm nhiều v/đ cơ bản của giáo lí nhà Phật, nên tuy không phải là Phật tử,  không xuất gia tu hành nhưng TMCS đã quyết định tu TÂM
 
Thiền với TMCS không phải nhằm cầu mong đạt tới những điều cao xa mà chỉ muốn giữ cái Tâm cho trong sạch yên ổn, không màng đến những chuyện phù phiếm, gạt bỏ tham sân si, hướng thiện…tuyệt đối không hề màng đến chuyện tu luyện để có thần thông, để khác và hơn người…đúng như phát biểu của Thiền sư David Fontana.


Kèm theo thiền không phải là một cuộc đời khổ hạnh, sống gò bó, tự đày đoạ , dày vò bản thân…TMCS sinh hoạt bình thường, chăm chỉ rèn luyện thể dục, thể thao, vui chơi giải trí lành mạnh, ăn ngủ điều độ, đám bảo dinh dưỡng, nghỉ ngơi, thanh thản…
 
Tóm lại tất cả những gì TMCS hiện có: từ sức bền cơ thể, khả năng chịu đựng, đề kháng các yếu tố độc hại của  môi trường thiên nhiên và xã hội…đều nhờ duy trì nếp sống giản dị, lành mạnh, hài hoà giữa vật chất và tinh thần, thể dục, thể thao đều đặn…, chứ không chỉ do thiền. Một vài thứ lặt vặt khác như hút chai lọ, nồi niêu trên người, công phá gạch,ngói …cũng chả cần đến công phu thâm hậu gì,  chả cần rõ gốc gác từ đâu…TMCS không chú ý lắm đến mấy khả năng  lặt vặt đó,  những gì không thích hợp với tuổi tác , hại cho cơ thể thì không làm nữa.

Về chim trời đến vườn là hiện tượng TMCS quan sát được thì “gõ”  dăm câu ba điều hầu quý vị cho vui vậy thôi. Mình ngồi im phăng phắc chẳng khác gì một pho tượng, lũ chim sà xuống chắc cũng thản nhiên coi mình như cỏ cây hoa lá trong vườn, chứ chả có gì li kì cả. Bên này chim, chuột túi,..dạn người lắm…

Mời quý vị xem ảnh đôi chim trong vườn TMCS: TMCS ngồi thiền rì rầm mấy câu chú tiếng Pa-li* trong kinh Phật (Mật tông), nhiều người đi chùa hàng chục năm còn chưa hiểu, thế mà đôi chim này- cùng một số đôi khác, cả bày chẳng hiểu vì sao cứ “HÌNH NHƯ” lẳng lặng chăm chú “nghe” (đó  là thoáng cảm nhận của TMCS) …khiến TMCS bỗng nhớ đến bài thơ: Hương Sơn phong cảnh ca (Chu Mạnh Trinh – 朱孟楨), trong đó có câu:  

Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái, 
Lửng lơ khe Yến cá nghe kinh. 
(Pāli (पाऴि) còn gọi là Nam Phạn, là một ngôn ngữ thuộc nhóm Ấn-Arya Trung cổ hay prakrit. Nam Phạn là ngôn ngữ kinh điển của Phật giáo Nam Tông, dùng trong việc chép kinh cùng tụng niệm, trong đó có bộ Kinh Tam tạng (tên theo tiếng Nam Phạn là Tipitaka).
 
Hoá ra chim cá ở đâu cũng vậy, dù là ở Hương sơn hay trong gia viên yên tĩnh của TMCS, cứ trong môi trường tự nhiên thanh bình, con người biết hiền hoà, thân thiện với tất cả những gì quanh mình thì sẽ nhận được sự ứng xử tương ứng của muôn loài, muôn vật với mình…có khi lại có phần “hậu hĩ” hơn những gì con người đã chăm sóc cho môi trường và các đối tượng quanh mình…

Có lẽ nhờ  vậy, tuy TMCS   chưa đủ vốn từ của loài chim để bày tỏ thiện chí và tình cảm từ đáy lòng mình, mà đã lơ mơ, loáng thoáng cảm nhận  có sự đồng cảm giữa mình với chúng, giữa chúng với mình… Cho dù sự cảm nhận rất mong manh trên có thể chỉ từ một cảm giác lãng mạn thi ca do a/h bài thơ của CMT thì cũng rất thú vị và hữu ích…

( Chu Mạnh Trinh viết Hương Sơn phong cảnh ca từ khoảng cuối thế kỉ 19 mà sao cảm nhận thiên nhiên sâu sắc  và thi vị  đến thế, TMCS được học bài này từ hồi học THPT (khoảng  cuối của nửa đầu thế kỉ 20) nhưng  đến nay (đầu thế kỉ 21) ngồi thiền với lũ bạn chim trời mới thấm thía mà NGỘ ra Ý và Tứ trong hai câu thơ trên của CMT ! 

Vườn nhà TMCS không có cá, thì cảm nhận “chim đến nghe kinh cũng vẫn thấm đượm cả ý và tình trong  câu thơ CMT …khiến cho mỗi sáng khi xả thiền xong, TMCS luôn cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản như một “Tiên Ông” thảnh thơi giữa vườn Đời ngan ngát sắc và hương…
 
Ôi ! Ước gì CMT biết và chứng giám cho hậu thế có một thiền sinh là TMCS mãi còn xao động ngất ngây với câu thơ bất hủ của tiền nhân…Viết được câu  Thơ mà hàng thế kỉ sau còn khiến một thiền  sinh “quèn” như TMCS phải thấm thía, say sưa, ngây ngất…chìm đắm trong cõi Thơ nơi xứ lạ thì không biết Nguyễn Đình Thi sẽ “bình” thế nào? SIÊU hạnh phúc chăng !)

                                                                  Inline image

                      ẢNH: ĐÔI CHIM THIỀN. TOẠ THIỀN SONG ĐIỂU

         ( TMCS CHỤP TRONG VƯỜN NHÀ NGAY KHI VỪA XẢ THỀN )
            
 
Về Thực hành thiền:

TMCS xin phép được góp ý : bước đầu quý vị muốn học nên tìm một thiền sư ( một hoà thượng chân tu) hướng dẫn từ tư thế Thiền đến hơi thở Thiền và nhiều điều căn dặn cơ bản để tránh những lệch lạc dễ thành cố tật , để lâu khó hoặc thậm chí không sửa được sẽ hạn chế hiệu quả Thiền và có thể gây ra phản tác dụng. Vì thực hành là phần hệ trọng , TMCS không dám trình bày ở đây ngay cả những điều đơn giản nhất ( cách ngồi kiết già, bán kiết già, nhịp thở….).

Nghe nói ở VN, hiện nay một số nơi cũng tổ chức các khoa tu tập về Thiền do các nhà sư có trình độ uyên thâm về Thiền học vừa giảng dạy lí thuyết vừa hướng dẫn thực hành. Vì điều kiện xa xôi, TMCS không có thông tin cụ thể về các hoạt động này ở nhà.

TƯƠNG MAI và CƯ SĨ.

Nhân dịp  nhận được phản hồi của một độc giả cao niên ở Canada, quê gốc Hà- nội, có con cháu ở gần chùa Tương mai – tên chữ là Linh ứng tự – ở phố Trương Định , Hà nội – hỏi về bút danh TMCS có liên quan gì đến ngôi chùa này không, TMCS xin cám ơn sự quan tâm của quý độc giả và xin phúc đáp như sau :

TMCS: Tương mai cư sĩ. 相梅居士.

Tương Mai trong TMCS là tên phường Tương Mai thuộc quận Hoàng Mai, Hà nội, có phố Nguyễn An Ninh chạy qua. Phố N An Ninh nối đường Giải phóng sang phố Trương Định. Chùa Tương Mai có số nhà là 231- phố Trương Định, quận Hoàng mai, sư trụ trì  chùa này mấy năm trước là sư thày Thích Đàm Thu (bây giờ không rõ có thay đổi gì không). 

Từ nhà riêng TMCS “phi” Dream sang chùa Tương Mai chỉ chớp mắt là đến ! 
 
Chữ Tương Mai 相梅 trong bút danh TMCS là nhắm vào tên phường chứ ko phải tên ngôi chùa như bác độc giả đã đề cập.
 
Cư : 居- ở, cư trú.

Sĩ : 士 là học trò ( tất nhiện có nhiều nghĩa khác : thi sĩ- nghệ sĩ …)
Đừng lẫn với 仕 sĩ là làm quan : sĩ đồ- đường làm quan ! Thí dụ : Luận Ngữ : Nặc, ngô tương sĩ hĩ , (Dương Hóa ) Vâng, tôi sẽ ra làm quan.

Tóm lại Tương Mai cư sĩ 相梅居士 chỉ có nghĩa rất đơn giản là kẻ học trò  ở đất Tương mai. Chữ nôm: 學徒𡐙相梅 Học trò đất Tương Mai.

Có lẽ bác Việt kiều  liên tưởng đến ngôi chùa Tương Mai ở quận Hoàng mai Hà nội là bởi vì cư sĩ thường có hai nghĩa :

cư sĩ: người tu Phật giáo tại gia (không ở chùa)  và cư sĩ là người ở ẩn. (ẩn dật).

Hiểu theo nghĩa “người học trò ở đất Tương Mai” mới là đúng 100% với bút danh của TMCS. 

Đến nay, qua những bài học thực hành và các trải nghiệm vui buồn trong cuộc sống “ăm ắp muôn chuyện thế sự thăng trầm” , người học trò ở đất Tương Mai  đã tự xác định là :
 
       Đã từng muôn nẻo chu du,
  Chưa tu mà cũng như tu… lâu rồi !
                                                       TMCS

TMCS- vẫn sống như người học trò ở đất Tương Mai tuy rằng lưu lạc xứ người đã khá lâu,  lòng vẫn trĩu nặng tình yêu quê hương xứ sở và những con người của quê hương . 

Tất nhiên TMCS vẫn đang rất yêu đời, tuyệt nhiên không có chút nào bi quan, yếm thế,  muốn xa lánh cuộc sống muôn màu muôn vẻ…và thường ôm đàn hát vang :

Cuộc đời vẫn đẹp sao
Tình yêu vẫn đẹp sao…


… … TRỞ LẠI VỚI PHAN THỊ THANH NHÀN


Trước hết xin cám ơn các cháu sinh viên tình nguyện viên đã rất cố gắng dịch bài Dạo đầu TTTB@ No132 rất công phu.

TMCS xin phép  hiệu đính hai  chi tiết nhỏ trong bài thơ  “KHÔNG BÁO TRƯỚC” của nữ sĩ Phan thi Thanh Nhàn. Cả bài như sau:
KHÔNG BÁO TRƯỚC

Từ ngày chàng lấy vợ
Rồi định cư nước ngoài
Họ không hề gặp gỡ
Không một dòng email
 
Bất ngờ chàng gõ cửa
Nàng cũng hơi càu nhàu:
“Tôi mà không mông má
Trông khác gì giẻ lau!”
 
“Ừ, tôi không báo trước
Để thấy bà như xưa
Áo con thì không mặc
Tóc chỉ còn lơ thơ …”
 
 Họ trêu đùa chọc phá
Chê xấu nhau đủ điều
Tiếng cười như nắc nẻ
Không một lời thương yêu. 
 
Chàng lặng thầm nhận biết
Tấm áo nàng đang mang
Là áo len xưa cũ
Chàng cởi trao cho nàng.
 
 Một ngày đông giá lạnh
Cái thời còn khó khăn
Cái thời còn rét mướt
Cái thời còn đói ăn… 
 
Trong căn phòng sang trọng
Bàn nở đầy hoa tươi
Chàng không hề báo trước
Bỗng gặp thời đôi mươi.

P.T.T.N (2008)

Khổ ba, câu ba – từ “áo con” (chữ đỏ) không phải là “áo của con” hoặc “áo trẻ con” mà là áo lót của nữ giới mặc trong áo cánh hoặc áo sơ-mi (có thể là yếm, áo che ngực- Từ điển Oxford :bras, brassière, corset – gọi chung là under wear). Khi người phụ nữ Vn ở nhà, thường ăn mặc đơn giản, xuềnh xoàng, chỉ mặc áo cánh ( shirt: sơ-mi) cho thoải mái, từ “áo con” trong câu này phải dịch là   áo lót, áo mặc trong, nếu dịch là “áo của con mình” hoặc “áo trẻ con” sẽ bị lạc nghĩa !  . Dịch  với nghĩa yếm, áo lót mặc trong áo cánh… mới đúng ý người bạn cũ (nam giới) cố tình không báo trước  khi đến gặp lại cố nhân:
“ ừ, tôi cố ý không báo trước để bà trang điểm, chải chuốt, ăn mặc chỉnh tề đỏm dáng, đầu tóc gọn gàng, chỉn chu như tiếp khách, tôi muốn nhìn thấy bà cứ tự nhiên như ngày trước…” .

Khổ bốn- câu ba: – Cười như nắc nẻ
dịch là “bật cười”  có thể chưa hết ý mà phải là:  To burst into peals of laughter, to chortle.

TMCS bận quá, không lường hết mọi chuỵện, lần sau sẽ cố gắng để tránh các cháu khỏi gặp phải các chỗ khó…

( Cười như nắc nẻ : TMCS hiểu là cười vui, sảng khoái… phát ra cả chuỗi tiếng cười giòn, liên tục không nhịn được…còn định nghĩa chính xác, chặt chẽ chi li  như cách làm từ điển cũng như truy vấn tại sao lại nói là “cười như nắc nẻ” thì TMCS tạm thời xin “chịu”,  chưa giải đáp chắc chắn được, chỉ nhớ láng máng có ai đó đã nói là cười như con nắc nẻ (hoặc hoa nắc nẻ) nhưng TMCS chưa hề biết gì về thứ côn trùng hoặc loài hoa này…Vị nào biết xin giải đáp giúp. Chắc trên mạng đã có lời giải rồi, nhưng thời gian eo hẹp quá, TMCS chưa kịp tra cứu chưa dám gõ liều…).

VỀ BÀI THƠ BÔNG HOA KHÔNG TẶNG.

Bài này cũng của PTTN, nghe tên bài thơ, mọi người dễ có  cảm giác như đụng đến một khúc Tình thi , nhưng không phái !

Tình cờ khi tìm hiểu , TMCS sưu tầm được chút tư liệu liên quan . Tô Hoài là người bạn lớn tuổi, bậc đàn anh, hơn PTTN tới hai con giáp. TMCS về văn chương thì “ngoại đạo”- gần như   “mít” đặc, không dám sánh với hai vị này, tình nguyện phận “chiếu dưới” nhiều bậc, nhưng về tuổi tác thì ở khoảng giữa  hai vị , nên hình như đã may mắn đọc hiểu được cả hai . Họ có sự đồng cảm sâu sắc với nhau, tuy rằng mỗi người mỗi ngả: một thì Văn, một lại Thơ ! Mấy cái phong bì thư TH gửi Thanh Nhàn như ảnh “tư liệu” dưới đây  chứng tỏ họ có mối sự trao đổi gần gũi, thân tình với nhau về văn chương thơ phú.
 
Những lá thư nhà văn Tô Hoài gửi nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn từ những năm 70-80 của thế kỷ trước
    Những lá thư nhà văn Tô Hoài gửi nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn từ những năm 70-80 của thế kỷ trước
 
Khi hay tin Tô Hoài qua đời, PTTN có nhắc đến một vài kỉ niệm giữa hai người và có kể về cuộc gặp Tô Hoài vào một ngày giáp tết . Lời kể của chính PTTN như sau :

“…
Trước Tết năm đó, khi tôi (PTTN) đang chuẩn bị dự liên hoan ở cơ quan thì nhận điện thoại bác Tô Hoài nói nếu rỗi thì sang Hội nhà văn lúc đó ở 65 phố Nguyễn Du, bác đang trực bên ấy. Thế là tôi bỏ cuộc liên hoan ở báo Hà Nội Mới, rẽ qua quầy hoa chỗ góc phố Đinh Tiên Hoàng và hàng Khay, chọn mua một bông hồng thật đẹp và tươi rói, định sang tặng nhà văn.
Khi đến, tôi thấy Tô Hoài đang ngồi một mình,than:
-Tết nhất,”nó” bắt mình trực thế này, cô bảo có khổ không? Thế nào, cô đã chuẩn bị gì cho Tết  chưa?
Tôi vẫn cầm bông hồng trên tay, đành đặt xuống bàn, cười hỏi lại:
-Thế anh đã chuẩn bị gì chưa ạ? Em không hỏi chuyện ở nhà đâu, vì có chị và các cháu lo rồi, em chỉ hỏi  chuyện Mẹ anh và chuyện…đi chơi Tết thôi.
Nhà văn cười:
-Lát nữa cô ra công viên Thống nhất ngắm hoa đào với tôi nhé. Đúng là tôi chẳng biết gì việc nhà. Bà ấy và các cháu chăm lo hết mọi thứ, chỉ có điều là bà cụ nhà tôi dạo này không khỏe, nên tôi cũng chẳng dám đi đâu xa cô ạ.
-Em từ dạo đi lấy chồng,  mới thật biết thương mẹ.  Nhưng mẹ em còn nhanh nhẹn và chăm em hơn là em chăm mẹ anh ạ. Em cứ về thăm là mẹ tìm nhà có cái gì bắt em ăn ngay.
Hai anh em cùng cười. Nhà văn tư lự:
-Rồi cũng đến lúc cô giống tôi, lúc nào cũng thấp thỏm chẳng biết mẹ còn ở với mình được mấy ngày nữa…
 Chúng tôi ngồi chuyện trò linh tinh, đến lúc đứng lên để đi sang công viên Thống Nhất xem hoa đào, nhà văn thấy tôi cầm bông hoa (mà lúc đó tôi định đưa tặng), thì  cười:
-Hoa hồng chóng tàn lắm, cô biết không?
Thế là tôi không dám tặng Tô Hoài nữa, mà lúc đi qua cổng, đưa cho một cháu gái đi ngang (!). Cháu cứ ngơ ngác  rồi cười rất tươi để cảm ơn. Hôm đó về, tôi viết bài thơ Bông hồng không tặng. Bài này đã đăng báo nhiều lần, nhưng tôi chưa bao giờ nói với nhà văn là tôi làm tặng bác. Tính tôi cứ e dè vậy…

PTTN đã nhờ báo Dân trí đăng lời kể trên của mình để Tô Hoài ở  Thế giới bên kia được biết…

TMCS tin là lời kể trên đúng sự thực 100%. Ở đời này, mỗi người có thể khác nhau về nhiều thứ tuổi tác, giới tính, ngành nghề, sở thích , sở trường… nhưng biết trân trọng và quý mến nhau thì tự nhiên sẽ cảm thấy cuộc đời đáng sống, đáng yêu thêm bao nhiêu lần…
Mời quý vị cũng đọc những dòng tâm sự giản dị này để thấy rõ Tình Người và Tình Đời bình dị và Đẹp đẽ biết bao !
( Vì lẽ đó mà TMCS đã bỏ hết thuốc lá, bia, rượu… nhưng vẫn nghiện …”Bạn” ! Có tất cả các thứ mà thiếu Bạn thì còn gì là Đời nữa !…tất nhiên Bạn phải đúng nghĩa là Bạn.)

Dưới đây là toàn văn bài Thơ  Bông Hoa không tặng. 

BÔNG HOA KHÔNG TẶNG

Hẹn gặp anh trước Tết
Mang theo một đóa hồng
Bao nhiêu lời chúc đẹp
Định nhờ hoa nói giùm
 
Chuyện trò bâng quơ mãi
Mẹ già thêm tuổi trời
Những hàng cây Hà Nội
Việc đang làm nay mai…
 
Biết đời anh từng trải
Công với việc ngập đầu
Vẫn tấm lòng ưu ái
Đôi mắt nhìn xa sâu
 
Tay cầm hoa bỗng ngượng
Ý nghĩ mình trẻ con
Anh sẽ cười nếu tặng
Hoa hồng nhung chóng tàn!
 
Đem hoa về thôi nhé
Đóa hồng vô duyên ơi
Hoa đâu còn ý nghĩa
Khi ở bên một người…

1978
 
( TMCS  từ hồi hay “liêu xiêu” quán Gió – Công viên TN Hà nội- vi vu “lượn” Xput-nhích lòng vòng Hồ Tây, hay chễm chệ Honda quanh 36 phố phường , rồi đến thời lạch bạch “bốn bánh” nơi đất khách quê người như hiện nay… vẫn mê Thơ theo cách riêng: truy tầm đến kì cùng , ngóc ngách lai lịch, xuất xứ… mỗi bài thơ đến tay mình, có khi chỉ một câu, một từ…cũng lặn lội, mầy mò…không biết mệt mỏi là gì. Có lẽ nhờ vậy mà tuy ngoại đạo, đôi khi  cũng “khám phá” được chút thú vị riêng tư, rất đằm thắm, ý nhị …mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm – tương tự trường hợp Hương thầm, Bông hoa không tặng…Có những chuyện tác giả không công khai trên dư luận như “Không báo trước” , TMCS  không tiện “gõ” – quý vị cứ coi như một hư cấu thơ cũng chả sao, vẫn HAY !…nếu vị nào biết được “đầu cua tai nheo” may ra sẽ hay hơn…
 
…Cái thói lan man, linh tinh, thóc mách… của TMCS, âu cũng thuộc  loại  chuyện “Giời sinh tính” ?…)  

                                                         X

TTTB@ No133 sẽ giới thiệu tiếp khổ 3-4 cùng các bản dịch bài Hương thầm.
Các phần khác như thường lệ.
 Kính thỉnh nhã giám
      TTTB@-TMCS
 

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

HƯƠNG THẦM (434)

Bl(434(  TTTB@ No132

HƯƠNG THẦM

(Phan thị Thanh Nhàn)

Dịch: TMCS- Trịnh Phúc Nguyên- Phan Hoàng Mạnh

 

                             

 DẠO ĐẦU TTTB@ No132
                           TMCS
LAN MAN – NIỀM VUI “U CHÍN CHỤC” (U90)
…Thấm thoắt TMCS đã qua cái tuổi Cổ lai hi ngót hai chục năm …sáng sáng toạ thiền với lũ chim trời trong vườn…Cùng TMCS thiền xong, bao giờ chúng cũng hót véo von, gửi lời chào lưu luyến thày TMCS, trước khi tung cánh  từ giã bay đi kiếm mồi… Ban đầu, TMCS nghe chúng líu lo líu  lô cứ như nghe các ca sĩ tây đầm hát opéra, chủ yếu dựa vào giai điệu réo rắt, du dương của chúng  mà từng bước cảm nhận ý nghĩa ca từ…của các loài chim. Lâu ngày nghe mãi, giờ đây TMCS coi ngôn ngữ chim như là mấy thứ ngoại ngữ  tây , tàu thuở mới học vậy thôi, khắc nghe, khắc vỡ ra dần dần, mỗi ngày mỗi hiểu sâu thêm..Chắc truyền thuyết về các đạo sĩ, tu hành gia trên non cao, rừng thẳm thời  xa xưa cũng tương tự như vậy…
 
Ngắm mấy khóm hoa trong vườn, bất giác nhớ tới thời sống trong  đại ngàn ATK, qua câu thơ  T.H trong bài Việt Bắc:

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi rừng

TMCS liền nảy ra ý mới :
 
     Bên hoa ngày tháng tha hương,
Nghe chim vườn hót như đương ở nhà !

Đúng !  cũng vẫn ” là ngày là tháng cả”, nhưng “cảnh nào tình nấy”, để khuây khoa nỗi nhớ thời xưa, nay TMCS ra công “ khai thác ” hai mảnh vườn : Vườn Thơ (chủ yếu là thơ dịch) và Vườn Hoa (chủ yếu là hoa quê : hồng, mận, lan, sen, đại, súng, quỳnh, lê… – ngoài ra còn có một số cây ăn quả như chuối, chanh, mận, ớt, hồng ngâm,  v.v…và v.v…)

Trong mảnh vườn Thơ, có cây TTTB@ ( Tiểu thuyết thứ bảy a còng ) tuần nào cũng ra “BA HOA” là các hoa Dạo đầu, hoa Thơ dịch  và hoa Phụ trương. Hoa Dạo đầu từ thế lép ở vị trí No2 bây giờ nghiễm nhiên “đắt khách” nhất, soán lấy ngôi vị No1 ! được bạn bè muôn phương “động viên “ nhiều nhất trong BA HOA hàng tuần…
 
                                          Tuy rằng nổi tiếng ba hoa
                                    Mà ai  cũng bảo : Rất là đáng tin !

Chút vui thú điền viên của TMCS tuy là học tập người xưa, nhưng so với cái thú của Cụ Đào bên Tàu thì cũng có mặt “tích cực” hơn ở chỗ vẫn gắn bó giữa lòng nhân thế, góp phần bảo vệ môi trường, giữ lấy phần trong sáng trong cõi hồng trần…

Chợt liên tưởng tới bài “ Ai bảo chăn trâu là khổ” trong SGK học khi nhỏ- hình như là cuốn Quốc văn Giáo khoa thư lớp Dự bị (Cours Préparatoire ) thì phải- Già nửa thế kỉ rồi, TMCS còn lõm bõm:

“Ai bảo chăn trâu là khổ? Không, chăn  trâu sướng lắm chứ. Ðầu đội nón mê như lọng che. Tay cầm cành tre như roi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tai nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bướm lượn trong đám cỏ. Trong khoảng trời xanh lá biếc, tôi với con trâu thảnh thơi vui thú, tưởng không còn gì sung sướng cho bằng.” 
 
Nhưng khổ thân, tủi phận thay ! xưa nay nhà TMCS cả đời  chưa hề có nổi nửa con trâu để mà chăn,   ( ngày đầu tản cư chống Pháp, rời đô thành về đồng quê, vô công rồi nghề, TMCS toàn “nghịch ngợm” theo lũ trẻ trâu đánh khăng, đánh đáo ngoài đồng, nhưng toàn là đi chăn trâu không công cho  thiên hạ), bây giờ thấm thoắt đã phải oằn lưng cõng cả núi tuổi, TMCS liền “cám cảnh” mà  ê a rằng:

“…Ai bảo về “hiu” là khổ, không về “hiu” sướng lắm chứ…”

“vè hoá” như sau :

                      Ai rằng: “hiu” khổ vô cùng,
               Ta mang vui đến tặng từng khóm hoa.                 
                      Ôm đàn ta hát, tuổi  già 
              Ngâm thơ mình dịch – Đời là Bồng Lai !
                     Về “hiu” sướng lắm , hỡi ai,
              Muốn chia vui, hẹn một mai gặp mình.
                    Non non , nước nước, tình tình,
              “Hưu phùng tri kỉ”, chúng mình cùng vui … 
 
TTTB@ chính là “Đào viên” thời hiện đại, nơi hội tụ của tình yêu Thơ Việt, Đất nước Việt, Con người Việt và tình Người muôn phương, nơi kết nối tất cả quý vị cùng TMCS thành một tập hợp tri âm, tri kỉ mà đông tây, kim cổ chưa từng có… (Bá Nha , Tử kì chỉ có đôi – Lưu, Quan, Trương chỉ có ba…  Chúng ta đang có trăm, muôn, rồi ra sẽ “đa” và “tinh” hơn nhiều, nhiều nữa, không những chỉ bạn “hiu- hưu” mà cả bạn trẻ năm châu, đủ cả nam nữ, lứa tuổi, sắc tộc, màu da, ngôn ngữ, văn tự…nhằm đúng mục tiêu TTTB@ luôn hướng đến:Tiêu điểm chính- Thơ Việt, The main focus – VNmese Poetry)            

Ngoài ra, TMCS cũng hội nhập “sâu hơn cả ba cùng” với cuộc sống sở tại, trồng khá nhiều cây ăn quả, cây hoa, cây cho bóng mát… trong khu vườn nhà, mới nhất là hoa tulip…

Gần đây, có một bác Việt kiều nghe “tiếng lành đồn xa” mà ghé thăm vườn nhà TMCS, thấy các thứ cây phong phú như ở Bách Thảo, đặc biệt là mấy thứ hiếm ở đây (chữ đỏ): đủ cả ”Rừng Bạch dương sương trắng nắng tràn, lại cả “rừng Phong thu đã nhuốm màu quan san”, còn thêm “ Tiếng  Sen sẽ động giấc Hoè, Bóng trăng đã xế hoa lại gần”, cùng với “ một vùng như thể cây Quỳnh cành Giao”, “sớm đào tối Mận lân la”, “hoa chanh nở giữa vườn chanh“, “Ớt nào là ớt chả cay”…Ngay cổng vào còn có cả ”làng tôi xanh bóng Tre”…,v.v và v.v… đã rất ngạc nhiên và cảm kích, sau cuộc gặp đã về nhà thân chinh lái xe, chủ động chở đến “biếu” mấy nhánh Thanh long giống quý để ươm , bác ta bảo TMCS rằng :”…vào tay ông thì chỉ hai năm sau là sai quả lắm…Ông là một “nhà”  vườn xuất sắc  của vùng này… (Y’re an excellent gardener of this area). Tôi rất “nể”…”….TMCS chỉ  còn biết chống chế : Gardening is only my hobby… ! (Làm vườn chỉ là một ham thích của tôi!) – Tôi toàn leo mạng hỏi bác Gu-gờn thôi,.. có biết gì đâu ! Cây của Tây thì tôi tra tiếng Anh, tiếng Pháp…, cây của Ta thì tra tiếng Việt…rồi cứ theo bác Gu mà làm…
 
Thực ra công lao bác Gu chỉ bảo TMCS cũng chỉ một phần, cái chính là đất đai ở đây quá màu mỡ, dân cư thưa thớt, chưa khai phá bao nhiêu…Đất chưa bón gì mà màu đã hiện lên nhẫy nhụa…Chả thế mà bò, ngựa của Australia nổi tiếng về chất lượng cao, vì cỏ …ngon và bổ quá…có lẽ hơn cả sâm…Tp nơi TMCS sinh sống là nơi đạt danh hiệu ĐÁNG SỐNG NHẤT HÀNH TINH  đã bảy năm liên tục. Con người thì văn minh, nhưng có vẻ vẫn còn chất phác hơn cả những nhân vật trong tác phẩm của nhà văn Sơn Nam viết về cư dân Nam bộ, thiên nhiên thì cứ hao hao nhưng phong phú hơn Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi… trong khi nhiều xứ khác – thí dụ bên Tàu – người dân đang “khóc thét” lên vì ô nhiễm môi trường quá đáng…quanh năm ngày tháng bụi mù mịt, già trẻ nhớn bé cứ ra đường là “khẩu trang” kín mít mặt mũi ! Sa mạc hoá đã ngấp nghé cửa ngõ Pekin và tương lai sẽ gõ cửa từng nhà nếu cứ khoanh tay hô hào suông! TMCS đã mạo hiểm  “thử sức già” leo tít lên tận một cao điểm chót vót của Vạn lí trường thành vào một ngày bão cát ! Thật kinh khủng, khó quên ! Bây giờ thì cả Pekin chìm nghỉm trong khí thải ô tô, và khói của  các nhà máy phụ cận, xe máy thì cấm tiệt đã lâu… 
 
Hà nội ơi, coi chừng, bài học nhãn tiền đấy…Chợt rùng mình với những Supe-phốt phát Lâm Thao,  công nghiệp Việt trì, gang thép Thái ngyên, phân đạm Bắc giang, nhiệt điện Ninh bình, phích nước Rạng đông, Cao Xà Lá…với những tiêu chí rất thấp về bảo vệ môi trường, may mà đã kịp…
 
TMCS thả neo nơi này cũng chỉ dựa vào chút kiến thức …địa chất công trình (!) và nửa mớ hiểu biết “tam toạng” về phong thuỷ cổ xưa trong sách chữ Nho của ông nội…Có lúc phải bói thêm cả Kiều để tham vấn,  Nàng chỉ cười …OK ! Chợt nhớ Đàn chim Việt của Văn Cao, bài ca Hy vọng của Văn Ký, rồi liên hệ câu “đất Lành chim đậu”, thấy ở đây rất nhiều chim…tức là ĐẤT LÀNH !( Không thấy Rồng, nhưng mình có phải là vua đi chọn chỗ đóng đô đâu!). TMCS bèn OK , nghe theo Kiều…Thế mà gặp may cả…Đúng là chả được gì, được cái… số “hên” !
 
Đấy, toàn bộ niềm vui của TMCS bây giờ chỉ nhờ có…thế !!! …bèn tự an ủi mà rằng:
 
Gió rét sương sa nặng hạt rồi, 
Thuyền ta đậu lại bến này thôi…

ÔI! niềm vui  U90 của TMCS, sao mà bé xíu và sơ sài vậy !                                   
                      
                                      

              
 
 
 
                Nàng Kiều nghe, tủm tỉm cười:

            Thời nay có một gã lười mà …ngoan ! 

                                                        TMCS
                                                                                                          
Xin chuyển sang bàn về Thơ đợt này:
 
HƯƠNG THẦM VÀ THANH NHÀN: 
               Hương thầm thoang thoảng đâu đây,
          Vương hồn ai mãi, từ ngày chiến chinh…
           Thanh Nhàn cuộc sống yên bình 
   Vẫn  thoang thoảng ngát hương tình thơ xưa …
                                                                                                     TMCS
             

Ảnh đính kèm

                         
                                  Chân dung nữ sĩ  Thanh Nhàn (TMCS tuyển )
Với ai không biết, nhưng với TMCS cứ nói hoặc nghĩ đến Hương thầm là nhớ đến Thanh Nhàn, và ngược lại . Cũng chưa nghĩ ra lí do cơn cớ gì, vì cũng chưa đàm đạo, hay róc rách chuyện trò trực tiếp lần nào với nữ sĩ…Hơn nhau vẻn vẹn có chừng non hai con giáp và mới chỉ có đúng một lần TMCS ngồi nghe cô nữ sĩ này “diễn thuyết”  trong một cuộc họp về tác phẩm của cô ấy và nháy được một pô ảnh…đẹp ! nhưng thấy đượm buồn nên đành chọn cái khác thay thế (xem bên trên : ảnh nữ  sĩ đeo kính, đỡ buồn hơn, vì cặp mắt của cô ít chịu cười đã được che dưới mắt kính… ! Đấy là “ý tứ” thiên bẩm của TMCS, tuy bản thân thì luôn luôn xuề xoà, “cho qua” hình thức ” mẽ ngoài ” của chính mình, song lại chỉ thích chung quanh mình,  mọi thứ – mọi người đều chỉn chu, vừa đẹp, đồng thời phải vừa…tươi roi  rói ! Phái “đẹp” thì lại càng phải ” tươi + đẹp”  toàn diện…)
Chân dung  trong bài này , nữ sĩ đeo kính  và cười tươi hơn cái TMCS đã nháy ….nên xin phép  được dùng  để giới thiệu dung nhan nữ sĩ trên TTTB@ với quý độc giả kính mến- nhất là quý vị ở xa…
Trước khi tìm hiểu đôi nét riêng , ta hãy tìm hiểu “đại cương” về nữ sĩ theo nguồn tư liệu “trích ngang sơ yếu” từ BKTT mở, vắn tắt như sau :
 
Phan Thị Thanh Nhàn
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phần trích:
“…
 
Phan Thị Thanh Nhàn
Năm sinh 1943
Nơi sinh: Tứ liên, Tây hồ, Hà nội.
Bút danh : Phan Thị Thanh Nhàn
Dân tộc: kinh
Quốc tịch: Việt nam
 
Phạn Thị Thanh Nhàn  là một nhà thơ nữ nổi tiếng của Việt Nam.
 
Tiểu sử.
Phan Thị Thanh Nhàn sinh năm 1943 tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội. Bà làm thơ từ sớm, đầu thập niên 1960 đã có thơ đăng báo. Năm 1969, bài thơ Hương thầm của bà đoạt giải nhì cuộc thi thơ của báo Văn nghệ. Bà là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Uỷ viên Ban chấp hành Hội trong giai đoạn 20012005. Ngoài làm thơ, bà còn viết báo, truyện ngắn, truyện cho thiếu nhi. Phan Thị Thanh Nhàn kết hôn với nhà thơ Thi Nhị, đã mất năm 1979.. Hiện nay, bà đang sống cùng con gái duy nhất tại Hà Nội.
Phan Thị Thanh Nhàn được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.
 
Tác phẩm.
Tháng giêng hai (thơ, 1969)
Hương thầm (thơ, 1973)
Chân dung người chiến thắng (thơ, 1977)
Bông hoa không tặng (thơ, 1987)
Nghiêng về anh (thơ, 1992)
Xóm đê ngày ấy (truyện thiếu nhi, 1977)
Hoa mặt trời (1978)
Ánh sáng của anh (1978)
Tuổi trăng rằm (truyện thiếu nhi, 1982)
Bỏ (truyện thiếu nhi, 1995).
 
Thành tựu nghệ thuật
Phan Thị Thanh Nhàn viết nhiều thơ tình, theo năm tháng, những bài thơ tình của bà từ nhẹ nhàng, tươi tắn chuyển sang giàu trải nghiệm, trăn trở nhưng độ lượng hơn. Nhưng dù thế nào, những bài thơ của bà vẫn rất chân thành, gần gũi và vì thế chiếm được chỗ trong lòng người đọc. Bài thơ Hương thầm của bà đã được nhạc sĩ Vũ Hoàngphổ nhạc năm 1984 và cũng trở nên nổi tiếng, cái Hương thầm ấy vẫn sẽ còn lan toả:
 
Cửa sổ hai nhà cuối phố
Chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ
Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa
Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm…
 
Một số bài thơ tiêu biểu
Hương thầm
Con đường
Không đề
Trời và đất
Làm anh
…” –
 
Hết phần trích  BKTT mở.
 
 
Lai lịch bài Hương thầm : ghi theo lời tác giả.
 
TMCS đã đọc khá nhiều bài “bình” và “tán” về Hương thầm của danh sĩ các miền đất nước, nhưng sau khi đích thân nghe tác giả kể và về nhà tự đọc lại những dòng sau đây thì thấy khỏi phải kiếm tư liệu nào khác nữa….
 
Quý vị xin hãy đọc những lời tâm sự “hai với hai là bốn” trong bản  tốc kí dưới đây là đủ rõ tất tần tật:
 
“ …Tôi đã viết bài  Hương thầm  năm 1969, khi đó nhà tôi ở Yên Phụ,  bài này là để tặng em trai tôi hồi cậu ấy sắp đi bộ đội. Hồi ấy sau vườn nhà tôi có cây bưởi đào, em trai tôi hay nhặt hoa bưởi bỏ vào túi xách của tôi . “Hình như” cậu ta có vẻ “thích” cô hàng xóm  . Thanh niên ngày ấy thường nhát , chưa thấy nói gì về chuyện yêu đương . Sau đó em tôi đi bộ đội và hi sinh khi còn rất trẻ… Mỗi khi nhớ  em, tôi thường  khóc …
 
Tôi yêu  mùi thơm hoa bưởi. Sau này khi nhà không còn cây bưởi ,  đi đâu  gặp hàng hoa bưởi, tôi đều mua … Mùi hoa bưởi với tôi như một loài “hương thầm” , nồng nàn và ý nhị .”…
 
Cái tạng “quê mấy cục” của TMCS thì chẳng thích mấy áng thơ “bóng bảy”  màu mè bằng những câu nhẹ nhàng, thực hơn cả thực, như Hương thầm hoặc  một bài dưới đây. …Lần này, Quý vị hãy “ráng” đọc trước và tự cảm nhận, kì sau TMCS sẽ trao đổi thêm vì còn lắm chuyện muốn kể hầu quý vị…
 
Sau khi  bài thơ (Hương thầm,) được phổ nhạc, Thanh Nhàn càng “nổi”, TMCS cứ lo chất “thực” trong thơ TN sẽ suy suyển…song chưa thấy dấu hiệu đáng lo nào, chỉ thấy hình như chững lại, có lẽ đó là bởi lí do, lí trấu khác…
 
TMCS cũng được biết Thanh Nhàn, cũng như Đoàn thị Lam Luyến  hay đổi nhà ở, Thanh Nhàn tự kể ra là được chỗ ở tốt hơn, sang hơn và mỗi lần đổi lại… dư dôi ra ít vốn. Còn khổ thân ĐTLL: lỗ tám tỉ ! Tội nghiệp, bơ phờ mãi mấy năm trời, về sau mới ngộ ra qua … giáo lí của Bụt ! Bây giờ thì ĐTLL đã đủ can đảm đi qua “dinh cơ” cũ  của mình mà không quặn nỗi đau “đoạn trường” nữa…nhờ nghe thuyết pháp ở chùa, đã hiểu lẽ “đời là thế !” …Tất cả hai vị hình như đã đến khúc đường…”chưng ngã chững”. Không phải TMCS tò mò, mà vì chưng Thơ cũng là Đời, hiểu Đời mới hiểu Thơ … Nữ sĩ hay nam sĩ thì cũng là “sĩ ” cả , mà kẻ “sĩ” đâu đã phải là tất cả đều có bản lĩnh “phi phàm” !
 
Xa xôi quá, nếu như gặp nhau được thì TMCS sẽ phổ biến kinh nghiệm: Nghe chim hót an toàn hơn, người hót dễ có khả năng  sinh chuyện… TMCS bây giờ chỉ nghe chim hót thôi… 
Làm một ông lão làm vườn khù khờ và chăm chỉ, lúc rảnh nghe chim nỉ non ca hát, khi phởn chí thì đi cao lâu, cà phê tiệm (bên này gọi  café : tiệm cà-phê, coffee mới là cà-phê để uống !), sống thế, nhàn hạ và thú vị lắm- Buồn cười ngồi bên nhau cùng quán, cùng bàn, có vị Việt kiều đã thân tình “mách” cho TMCS một tin quan trọng: “Này lên mạng mà đọc TTTB@ của tay TMCS nào đó…vào Gu…hoặc vào WordPress…đều tìm được… !”.  TMCS chỉ còn biết cám ơn rối rít tít mù…
 
“Ai bảo khù khờ là khổ. Không, khù khờ… lắm chứ .” 
 
Bài thơ KHÔNG BÁO TRƯỚC dưới đây, nhẹ, kín mà sâu thăm thẳm…chả biết quý vị “cảm” thế nào sau khi đọc ?Ai  đọc xong cũng chỉ thấy “hoài”, không thấy “u” đâu cả, lại lâng lâng, nhẹ nhàng như được vỗ về dìu dịu nỗi niềm xưa …Cảm giác này không “diễn” bằng văn xuôi được, phải chăng chỉ bằng thơ của Thanh Nhàn ?!
 
Xin mời quý vị: 
 
 
KHÔNG BÁO TRƯỚC
 
Từ ngày chàng lấy vợ
Rồi định cư nước ngoài
Họ không hề gặp gỡ
Không một dòng email
 
Bất ngờ chàng gõ cửa
Nàng cũng hơi càu nhàu:
“Tôi mà không mông má
Trông khác gì giẻ lau!”
 
“Ừ, tôi không báo trước
Để thấy bà như xưa
Áo con thì không mặc
Tóc chỉ còn lơ thơ …”
 
 Họ trêu đùa chọc phá
Chê xấu nhau đủ điều
Tiếng cười như nắc nẻ
Không một lời thương yêu. 
 
Chàng lặng thầm nhận biết
Tấm áo nàng đang mang
Là áo len xưa cũ
Chàng cởi trao cho nàng.
 
 Một ngày đông giá lạnh
Cái thời còn khó khăn
Cái thời còn rét mướt
Cái thời còn đói ăn… 
 
Trong căn phòng sang trọng
Bàn nở đầy hoa tươi
Chàng không hề báo trước
Bỗng gặp thời đôi mươi.
 
P.T.T.N (2008)
 
Đúng là phong cách thơ  của nữ sĩ Hà thành hoa và lệ : lời thơ, tứ thơ quá duyên dáng, thầm kín và sâu thăm thẳm…Không ồn ào, mãnh liệt, bóng bảy…kiểu “hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” hay điệu bộ làm dáng “vờ vịt” kiểu ‘“tây “: chỉ biết yêu thôi chả biết gì !( TMCS đã dịch : I don’t know any thing, except Love! Chả biết sao, anh Tây chị Đầm lại khen: câu này hay lắm ?! Đúng là:  Đông – Tây  thường xuyên trái cựa nhau)… Thơ  Tình của nữ sĩ Thanh Nhàn : không có nụ hôn, làn môi, bờ vai, mái tóc, giọt lệ… cũng chả có từ nào liên quan động chạm đến yêu đương, thương nhớ cả…mà sao đọc lên, nao lòng gấp ngàn lần những bài thơ tình ồn ào, ầm ĩ, phô trương lồ lộ …  khác !!! 
 
Phải chăng đây  là cái tạng “thưởng thức thơ Tình” hiếm gặp, mang gien type “ông cụ lụ khụ phương Đông” còn rơi rớt trong Khốt TMCS ! Vào thời a còng @, hip-hop, rốc, ráp…, gien thuộc type này hầu như không còn mấy… 
 
Theo TMCS: bài Hương thầm (Vũ Hoàng phổ nhạc)  có thể là  bài “đầu sổ” của Thanh Nhàn , sẽ được giới thiệu và dịch trên TTTB@ . 
 
Thực lòng thì TMCS vẫn thích “phát minh” ra những bài “hay” (có thể theo cách cảm riêng của TMCS)- tương tự như bài Không báo trước hoặc Bông hoa không tặng ( lắng đọng và “khớ”… hay , quý vị hãy nhớ đón đọc, đừng bỏ qua,hơihiếm đấy ! Hoa gì ? TN tặng TH, TH là ai vậy? tại sao lại thôi không tặng nữa…??? Và cũng có nhẽ vì bài Hương thầm , nay bàn dân thiên hạ ai cũng biết cả, còn đâu là thầm với thì nữa !… TMCS muốn đi tìm cái THẦM khác: Tuần tới TMCS sẽ “ráng” tiết lộ trên TTTB@ )…đôi điều có thể còn ít người biết đến hoặc những giai thoại thực hư , hư thực như huyền thoại, nghiêm chỉnh mà không khô khan hơn là “ca ngợi”, “tung hô” những bài đã nổi tiếng hoặc những giai thoại nặng về  “phụ hoạ”. Làm mấy việc đó có khác chi “khen phò mã tốt áo“, xưa xửa xừa xưa  mọi người đã chán ngấy, hà cớ gì đến tận hôm nay TMCS còn lặp lại !  … Xin hẹn kì sau sẽ kể hầu quý vị thêm “dăm câu ba vần” lí thú về tác giả Hương thầm…Ít nhiều phải đem lại chút ít thú vị mà  ” thầm dâng lên” bạn đọc thì TMCS mới thấy vui vui mà lạch cạch gõ tiếp được…
                                                                X
 
TTTB@ No132 sẽ giới thiệu hai khổ đầu và các bản dịch bài Hương thầm, một bài thơ Cổ Vn có kèm bản dịch Nôm và Pháp. Các phần khác như thường lệ.
 
Kính thỉnh nhã giám
  TTTB@-TMCS
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CỔNG LÀNG (cả bài) (433)

Bl(433) TTTB@ No131

CỔNG LÀNG (Cả bài)

Bàng Bá Lan

 

DẠO ĐẦU TTTB@ No131
              TMCS

Cho dù dễ “được” coi là khách sáo đến mấy, TMCS cũng vẫn phải xin phép hết sức chân thành cám ơn bạn đọc khắp nơi, cả trong và ngoài nước, nhất là các bạn nước ngoài đã truy cập và đọc “nhiều lần” bài Dạo đầu TMCS ngẫu hứng gõ lan man về Cổng làng.  

Với một tay “gõ” nghiêp dư như TMCS mà có được một vị độc giả người nước ngoài ở xa tít mù tắp, cách nhau nửa vòng trái đất, có phu nhân là người Việt vào đọc và cảm thấy hứng thú với bài về Cổng làng của quê hương bản quán mình thì sung sướng biết bao! 
Niềm sung sướng đó đã được nhân lên không biết bao nhiêu lần khi TMCS nhận được phản hồi của vị độc giả này cho biết ông đã cố dùng vốn tiếng Việt đã “rơi rụng” khá nhiều của mình để đọc  và không thể chờ bản dịch của các cháu sinh viên tình nguyện nên đã phải “năn nỉ” bà vợ ngồi cạnh để giải thích cho ông những chỗ ông thấy mình chưa hiểu cặn kẽ…Thế rồi bất ngờ bà vợ ông cũng bị cuốn hút…Bà là người gốc Bắc di cư vào Nam năm 1954,  dè đâu sau khi giúp đức lang quân hiểu những câu chữ “loằng ngoằng” của TMCS , bà những mong sớm có dịp trở về thăm lại làng quê có cái Cổng làng hao hao như trong bài gõ của TMCS…Hai ông bà bàn nhau: chuyến sau về VN sẽ về ngắm kĩ và quay hẳn một cuốn video Cổng làng…

 Ước  chi ông Giời, ông Bụt cho TMCS còn viết được lâu dài để  cònđược hai ông bà  đọc tiếp….Cũng xin thành tâm cầu mong Giời Phật phù hộ độ trì hai ông bà  được luôn an khang, hạnh phúc, đọc TTTB@ lâu dài…Trân trọng cám ơn ông bà.

…Một số vị ở miền Nam rất thích thú  cái Cổng làng của vùng quê đồng bằng Bắc Bộ và cho biết nếu không đọc bài Dạo đầu  của TTTB@ No130 thì có bạn- chưa ra Bắc lần nào- cứ tưởng Cổng làng cũng chỉ na ná cái “Cổng chào” ở nhiều đô thị, hoá ra Cổng làng có lịch sử lâu dài và thi vị, độc đáo đến thế !

Mặc dầu TMCS đã có lời nhắn trước – đ/n quý vị cho qua , khỏi phải bận tâm về mấy câu lục bát TMCS không nhớ  được phải dựa vào vần mà bịa, vì đây ko phải trọng điểm bài viết…-, nhưng các vị  từ góc trời Âu Mỹ, có vị tận Algérie vẫn …không đành lòng mà cố tra cứu, gửi cho TMCS cất đi để phòng khi lại cần đến , lại còn “khen” qua bao năm mà “vừa nhớ vừa bịa” “gần” đúng thế là “cừ khôi” lắm ! Được người đọc trong nước “thương” đã quý, đằng này bà con Vn hải ngoại lại ở xa lắc xa lơ,  tận đẩu đầu đâu…
Riêng cái đoạn về “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi” với “Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi “ là ca dao hay là thơ BB Lân cũng khiến gần như 100% bạn đọc bất ngờ… Bất ngờ nọ dẫn đến thú vị kia:

Số là do dịch giả TPN thấy  bài Trăng quê của BB Lân hay  đến mức lẫn vào với ca dao, bèn  dịch chớp nhoáng sang  thơ Pháp, nhưng có lẽ vì vội nên lời Việt lại “hơi” bị gõ nhầm, khiến cho một vị khác  tưởng TPN chưa dịch câu gõ nhầm đó mà xin “phép” dịch bổ sung… . Câu Việt mà TPN gõ là :

 TRĂNG QUÊ

Trời cao, mây bạc, trăng tròn,

Dế than hiu-quạnh, tre buồn nỉ-non,

Diều ai gọi gió véo-von,

Cành xoan đùa ánh trăng suông dịu-dàng…

– Hỡi cô tát nước bên đàng!

 Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?
(1934)

( Tre:  “bị” gõ thành trăng
   Véo:  “bị” gõ hành ví )

Thế nhưng TPN đã dịch ra thơ Pháp  đúng nguyên tác đã đăng trên TTTB@ :

LA LUNE À LA CAMPAGNE

Haut ciel,nuages blancs,lune pleine,

Le grillon se plaint de la solitude,

Le bambou languit de tristesse,

A qui le cerf-volant qui appelle le vent mélodieusement,

La branche de lilas du Japon badine avec la lune pâle tendrement …

Ô fille qui irrigue avec son écope au bord de la route,

Pourquoi vous puisez la lune d’or elle même et la jetez?

Song vì chữ “tre buồn nỉ non” trong bản Việt, TPN gõ thành  “trăngbuồn nỉ non” khiến  một vị – cũng là bạn đọc VIP của TTTB@ – ngỡ là TPN dịch sót nên đã rất “nhạy bén” dịch bổ sung ra Pháp ngữ …”La lune tríste roucoule langoureusement ?”- TMCS ngẩn cả người, tưởng chừng nghe thấy tiếng chim hay chú Cuội đang nỉ non, tình tự ( roucouler) với chị Hằng…trên cung trăng ! Thật là một thi cảm và thi hứng rất “sắc” và “bén”, trường hợp này chẳng thật chẳng khác câu ví “lửa với rơm” của các cụ thời xưa !

Biết đâu rồi ra đây lại chẳng trở nên giống hai “giai- thi thoại” mà TMCS xin kể hầu quý vị dưới đây :

Trong văn chương Pháp:

Khoảng 1600, Fr. de Malherbe, xuất thần làm bài thơ điếu 40 câu (10 khổ), chia buồn với một nhà quý tộc ( lâu ngày TMCS không nhớ họ  tên) có cô con gái chết trẻ. Hai câu cuối của khổ thứ tư hay thứ năm gì đó, nguyên tác là:
 
Et Rosette a vécu ce que vivent les roses
L’espace d’un matin

(Nàng Rosette như kiếp hoa hồng/ Sớm nở tối tàn…), 

thợ nhà máy in sắp chữ nhầm thành: 

Et, rose, elle a vécu ce que vivent les roses
L’espace d’un matin

(Là bông hồng, nàng như kiếp hoa hồng/ Sớm nở tối tàn…). 

Câu thơ thật lung linh hình tượng… “hay” đến mức TMCS có lúc trộm nghĩ : hay là…chuyện bịa !

Văn chương Việt nam:

Khoảng đầu những  năm 1960, nhà thơ Xuân Quỳnh- (vợ nhà viết kịch- nhà thơ Lưu Quang Vũ,  gia đình XQ đã gặp tai nạn giao thông bi thảm ở đầu cầu Phú lương gần thị xã Hải dương năm 1968 )- lúc đó đang học  trường Bồi dưỡng những cây bút trẻ của hội Nhà văn , có gửi đến nhà xuất bản Văn Học một tập bản thảo thơ có tên Trời biếc, nhưng XQ – nhà  thơ “lơ mơ”, đã viết chữ “Trời” thành “Chời”, hai biên tập viên lúc ấy của nhà xuất bản là Yến Lan và Khương Hữu Dụng, đã đọc “chời” thành “chồi”. Thế là tập thơ  từ “Chời (Trời) biếc” trở thành “Chồi biếc  – Quả là bất ngờ cái tên tập thơ ngoài ý định của tác giả đã gợi lên sức sống tràn trề  nhờ một lỗi chính tả…

Lần đầu “thưởng thức” hai giai thoại trên TMCS cũng “bật ngửa” và phá lên cười …một mình ! Lâu ngày chả biết còn nhớ đúng không, TMCS ngại nhất là “sai sót, sơ xuất” về nội dung và chính tả trong câu thơ của Fr. de Malherbe … Vài năm nữa có lẽ TMCS không đủ tự tin mà kể lại nữa, càng ngày càng “lú lẫn” là quy luật tự nhiên, ai mà chống lại được ! Bây giờ cho dù “nhầm chút cũng không sao”, vì còn mang máng nhớ ra, chưa đến mức quên “tịt”, mục đích của TMCS chỉ là muốn nêu ra đại ý  nhiều khi vô tình, “Chữ tác () đánh chữ tộ (), chữ ngộ () thành chữ quá ()” lại làm nên tuyệt phẩmQuý vị thông cảm, đỡ phải kì công hiệu đính giúp TMCS như việc TMCS trích “ tào lao” mấy câu lục bát đã “rào trước đón sau” mà vẫn làm nhọc công nhiều vị phải gửi “meo” (mail) phản hồi cung cấp tư liệu cực kì chính xác cho TMCS, lại còn dặn “cất” đi phòng sau này cần đến…

Lần nữa xin cám ơn dịch giả TPN  và người đã dịch bổ sung thơ TPN…

VỀ BẢN DỊCH THƠ CỔNG LÀNG:

Các phản hồi đều nhất chí : “like”. (Thich) 

Có một bạn đọc hỏi về câu: Nông phu lững thững đi vào ban mai.

Vị độc giả  Việt kiều ở Toulouse e rằng câu Pháp ngữ:

Des paysans lentement entrent et sortent sous le soleil matinal.

sẽ được hiểu là những người nông dân đi ra  đi vào (làng) lúc nắng sớm, trong thực tế buổi sáng họ chỉ ĐI RA đồng! (đi theo một chiều)

Vị này nghĩ rằng trong khổ thơ 2 chuyên về buổi sáng , sáng là lúc người nông dân đi RA đồng trong nắng sớm (le soleil matinal) –  cả  khổ thơ bốn câu trọn vẹn này là chỉ dành cho buổi sáng , BBL không nói gì đến cành chiều họ về làng…(Cảnh chiều liên quan đến cổng làng, BBL đã gói gọn  và kết thúc trong khổ đầu) – Tức là BBL rất tách bạch, chiều một khổ thơ, sáng một khổ riêng, không lẫn lộn chút nào. 

 ( chiều mới đi vào, đi về…chứ không thể có cảnh trong nắng sớm kẻ đi ra người đi vào hoặc cũng những người ấy  “đi tới đi lui” -aller et venir”… )

TMCS rất mừng, TMCS chỉ ghé qua Toulouse ít hôm, đó ko phải là thành phố quan trọng ở Pháp -ít nhất về góc độ ĐS của SNCF – thế mà ở nơi ấy cũng có người truy cập TTTB@ ! Mừng quá ! TTTB@ non choẹt mà đã tung hoành, có mặt ở rất nhiều nơi !

Xin kính chuyển tới dịch giả TPN  tham khảo.
 
Riêng TMCS xin được bộc bạch chút suy nghĩ có thể còn chưa chínnhư sau:

Tiếng Việt có sự kì lạ, hiểu xuôi ngược thế nào cũng được, có khi trong Thơ thì được viết thế mà  trong văn viết thì không, có khi lại chỉ nói thế được mà  không ai viết như thế,,,Người Việt có thể hiểu theo tinh thần câu đã viết “trái khoáy” mà người nước ngoài thì ngơ ngác hoặc hiểu sai đi…Xưa nay TMCS hay gọi là “cảm”, và cho là mỗi người có cách “cảm” riêng, khó phân rõ đúng sai…

Câu của BBL : Nông phu lững thững đi vào ban mai.

XIN BÀN VỀ CHỮ ĐI :

Theo TMCS, chữ ĐI  này của BBL quý hơn Nhất tự thiên kim của Lã Bất Vi đấy ! Rất THẦN  và cũng rất TÌNH ! phải hiểu nó kèm với adv. mói thấu hết gan ruột, linh hồn câu thơ và tác giả !

Nếu ta hiểu động từ “đi” là một chuyển động không gian “đi ra đi vào” (sortir et entrer) dưới ánh  nắng ban mai như dịch giả TPN, hay chi đơn giản là đi chậm- không định hướng (cheminer) thì chả lẽ sáng ngủ dậy, người nông dân lại đi vào nhà hoặc qua cổng làng để đi vào làng! Xét với ý nghĩa chuyển động trong không gian vào buổi sáng thì nói chung là nông dân chỉ đi RA ĐỒNG để làm ruộng ! Nhưng than ôi ! nếu một đất nước mà buổi sáng : viên chức lững thững đến cơ quan, trẻ con lững thững đến trường học, bác sĩ lững thững đến bệnh viện, công nhân lững thững đến nhà máy, nông dânlững thững đi ra đồng…thì đất nước TRÌ TRỆ ấy làm sao tồn tại và phát triển được. TMCS tin chắc rằng với ý ĐI là chuyển động trong không gian, thì câu này BBL sẽ không dùng adv. lững thững(lentement)- mà dùng  HỐI HẢ, TÁT TẢ ! Nông dân lững thững ra đồng chỉ có ở thời Hợp tác xã nông nghiệp “rong công chấm điểm”, quản lí lỏng lẻo, cha chung không ai khóc… ! Còn với kinh tế tư hữu trong thời” một nắng hai sương” của Cổng làng ấy, thì chắc  100% BBL khi nói đến chuyển động trong không gian sẽ viết là : Nông phuHỐI HẢ đi ra cánh đồng ! Viết thế chẻ hoe quá , e chất thơ sẽ bay đi ít nhiều, nên thi nhân BBL mới dùng động từ ĐI với nghĩa chuyển động trong THỜI GIAN, nghĩa là người nông dân đi ( bước) vào một buổi sáng sớm, đồng nghĩa với ung dung,  thanh thản bắt đầu một ngày làm việc.  Lững thững trong chuyển động thời gian phản ảnh sự thong thả, thanh thản, thư thái,ung dung về tinh thần, hoàn toàn khác với lững thững trong chyển động không gian là chậm rãi, lề mề, đủng đỉnh về động tác cơ thể, chỉ có thể đúng với khi dạo chơi…Chắc BBL tuyệt đối không có ý mô tả nông “phu” dạo chơi lững thững buổi sáng trong một khổ bốn câu dành riêng !

Ấy là TMCS lẩn mẩn tần mần suy luận thế, có khi chỉ là “năm ăn sáu  thua”  thôi ! TMCS nhát như cáy  đã dịch tránh né là : Nông dân đi ra đồng vào buối sáng  (bản Anh), hoăc nông dân thong thả ra khỏi nhà buổi sáng (bản Hán)… Vật lộn chán, rồi lường sức mình không dịch nổi thì thôi, đành theo binh pháp cổ điển:

                             Ba mươi sáu chước dạy rồi:
                         Sức non, thế yếu tránh Voi xấu gì !

XIN DÔNG DÀI & HUYÊN THUYÊN THÊM TÍ CHÚT:

Thời xưa, khi  Nguyễn Khắc Viện mới công bố bản dịch Kiều ra Pháp ngữ, câu  “Trải qua một cuộc bể dâu”  :

L’ocean gronde là où verdoyaient les muriers
đã làm bao nhiêu nhà x,y,z … của ta ngỡ ngàng : ông Viện đi quá xa ! nhưng nhiều bạn đọc Tây Âu – nhất là trong khối cộng đồng Pháp ngữ – thì nức nở khen là rất THƠ ! thậm chí THƠ NHẤT so với các dịch giả khác (chỉ riêng câu này)

Riêng TMCS thì khoái chí đập bàn, thét tướng :
                        
                             Biển gầm giữa bãi dâu xưa
                    Những điều trông thấy mà chua xót lòng 

Mấy hôm sau có người bạn đến chơi, “vặn” rằng: chua xót với đau đớn khác nhau thế nào, TMCS biết ý, bèn sửa  :
        
                           Biển gầm thay thế nương dâu
                   Những điều trong thấy mà đau đớn lòng.

Hoá ra tuổi tác đã bào mòn cả tính “bạo phổi- to gan” của TMCS, biết đâu với tinh thần  ấy, có lẽ câu

 “Nông phu lững thững ĐI VÀO ban mai”

vào thời chưa  “lụ khụ ông cụ già “ TMCS đã  có thể dám dịch :

The farmers slowly enter into an early morning

Chắc có bạn sẽ thắc mắc chả thấy ai nói Ăng lê- thậm chí tiếng Việt- thế bao giờ !

Lững thững bước vào ban mai và mặt trời đi ngủ sớm (Thơ XD: Hôm nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm ) không phải là cách nói trong đời thường nhưng trong thơ lại HAY, thế thì sao khi dịch ta lại phải né tránh để cho các bạn nước ngoài mất đi một cơ hội hiếm hoi thưởng thức “của lạ” trong ngôn ngữ thơ Việt ! Có lẽ chuyện này phải đợi các nhà “ngôn ngữ học” lên tiếng ! TMCS xin chờ ý kiến của vị G/s Mỹ và quý bạn đọc thạo ngoại ngữ…
(Trong ngôn ngữ thơ Tây thiếu gì cách nói  không gặp trong đời thường : mùa Thu  gọi là mùa Rụng (the Fall ), Đêm đến gọi là đêm rơi !…

– Dịch liều lĩnh như vậy, có lẽ ngoài Bàng Bá Lân có thể thông cảm và khoan dung, e nhiều vị giật mình, nên…TMCS xin … để ngỏ… )

Xin lan man thêm dăm bảy dòng nữa để quý vị thấy  nhũng lúc “Cà phê một mình” (tên một ca khúc) TMCS lẩn mẩn đến mức nào !

Ấy là khi đọc mấy câu của Xuân Quỳnh trong bài Thuyền và Biển :

Em sẽ kể anh nghe 

Chuyện con thuyền và biển: 

“Từ ngày nào chẳng biết 

Thuyền nghe lời biển khơi 

Cánh hải âu, sóng biếc 

Đưa thuyền đi muôn nơi 

Lòng thuyền nhiều khát vọng 

Và tình biển bao la 

Thuyền đi hoài không mỏi 

Biển vẫn xa… còn xa …”

XQ còn kể lể dài dài, nhưng chỉ đến đây TMCS đã thấy “ tréo ngoe” (phương ngữ đàng trong : trái khoáy, ngược đời…).

Thử hỏi : từ lâu lắm đến nỗi không nhớ nổi từ bao giờ, thuyền đã nghe biển để cho hải âu và sóng biếc đưa đi khắp nơi- Khắp nơi đây phải đều là trên biển vì ở đó mới có hải âu ! vả chăng sóng ở sông làm sao  mà biếc  như ở biển ! Thuyền đi mãi như vậy, mà  cớ sao tác giả lại kể : Biển vẫn xa,..còn xa

Đây lại là một cái  “bẫy chữ”  giống như chữ ”Đi” của BBL

Chữ XA ở đây  nếu chỉ dịch là “loin”, là “far”, là “ viễn”, là “далеко”… thì coi chừng : người nước ngoài sẽ đễ hiểu là biển  ở đâu đó, CÒN xa lắm (encore LOIN) , đi thế mà mãi vẫn chưa đến biển ! Khi đi đường dài, người ta hay kêu: đi mãi mà chưa đến,  hãy còn xa lắm…

Quý vị hãy tưởng tượng: AI đi khắp nơi ở Hà nội, đã nhin thấy Tháp Rùa, chợ Đồng Xuân mà còn kêu : Tôi đi hoài, đi mãi , Hà nội vẫn xa,…còn xa … thì thật là “quá đáng” QUÁ !

Hoặc như Tôn Hành Giả, bị Như Lai  đố nhảy qua bàn tay rồi bị “tóm” cho nằm 500 năm dưới núi Ngũ Hành. Lúc còn bị túm trên lòng bàn tay Như Lai mà kêu bàn tay Như Lai còn  xa, thì hoang đường quá !

Chữ XA của XQ trong câu thơ trên ( hay câu nói của du khách giữa Hà thành) lại mang hàm ý không phải là còn khoảng cách lớn mới đến nơi được mà là đi mãi mà chưa hết cái khoảng bao la  ấy !

 

Thú thực là TMCS ngờ là vì XQ cố ý gieo vần với từ “biển bao la” ở cuối hai câu trước đó nên mới dùng “biển còn xa”. Suy rộng ra thì đây cũng là nhược điểm của lối thơ chặt chẽ về vần ! Không vần thì không đúng kiểu thơ đã chọn cho cả bài, mà đúng vần thì lại bị …”TRÉO NGOE” !

Những gã “nhát hơn cáy” như TMCS đã chọn cách dịch “chẻ hoe”: Thuyền càng đi, biển càng mênh mông (… The sea is more and more immmense )- TMCS yên chí là anh Tây chị Đầm nào đọc câu TMCS dịch kiểu “chất phác như bác thợ cày” cũng hiểu ý của câu thơ này là đi mãi  mà thuyền vẫn chỉ loay hoay trong biển, chưa ra khỏi biển, chưa hết phạm vi của biển!

Nghe quê mùa, “cà cộ” quá,  nhưng đỡ …thấp thỏm bị hiểu sai.

(Hình như dịch giả TPN và một vài học giả kiêm dịch giả hải ngoại đã dịch, đại ý :

 Mais l’ocean est encore LOIN – éloigné…v.v…Chả biết có bị “vướng” cái bẫy chữ  “xa” của XQ không? 

(Học giả hải ngoại và học giả trong nước rất giỏi về nhiều mặt khác, có khi cả ngôn ngữ, nhưng dịch thơ thì có lúc  cả đến Nguyễn Trọng Tạo (nhà thơ) cũng cho là “xoàng” và phải dịch lại ! TMCS thì quan niệm đơn giản : Thơ quan trọng nhất là TỨ + TÌNH chứ đâu phải chuyện học Giả với học Thật !)

TMCS tưởng tượng như ai đó đi từ Hà nội xuống Hải phỏng, lúc đến Hải dương bảo rằng : “Biển hãy còn xa” ! thì nghe có lí, chứ đang tắm biển Đồ Sơn mà vẫn kêu : biển hãy còn xa (encore loin) thì…hơi bị RẮC RỐI TỐI NGHĨA ! TMCS nhát như thỏ đế, nên né tránh luôn ! không dám dịch “encore loin” hoặc “still far” ).

Mới nghĩ được  dăm bảy phần chứ chưa đủ 9 (chín), nhưng TMCS xin mạnh dạn “ti toe” mong quý vị chỉ dẫn thêm cho “vỡ” cả hai vấn đề ! ( cả đi vào ban mai  và biển còn xa )

TMCS chợt nhớ đến  vị G/s Huê kì từng viết cho TMCS:

“ Tôi đọc bạn thường xuyên, nếu ko thấy có phản hồi nào tức là tôi đồng ý cả đấy…”- Chả biết về v/đ này, ông ấy và quý vị có thế không ?

LẠI QUAY VỀ BÀNG BÁ LÂN:

 

Sau mấy lần trượt kì thi tú tài, Bàng Bá Lân quay về dạy học ở Vôi, Kép ( Bắc Giang), Đáp Cầu rồi làm quen và say mê nhiếp ảnh…từ đó BBL vừa dạy học vừa làm Thơ kiêm làm ảnh nghệ thuật .

Quả đúng như cụm từ “thi họa đồng nguyên”, nhiếp ảnh và thi ca cũng dường như có mối liên hệ tương tự…Bạn đọc thấy rất rõ hình ảnh trong thơ của BBL đúng là như các “pô” ảnh mà người nghệ sĩ tài hoa đã xuất thần chớp thời cơ, ghi lại được bằng những câu chữ rất thần tình… Theo cách nhìn và hiểu biết lí thuyết “suông” của  TMCS khi tự mầy mò, học lỏm về chọn cảnh, lựa khuôn hình quay phim, khi lướt  toàn cảnh, lúc quay đặc tả…có thử ứng dụng đôi lần quay video trong những lúc lang thang đây đó để nhập vai nghệ sĩ “dỏm” thì quả Bàng Bá Lân đã đạt trình độ siêu việt khi phô diễn nghệ thuật QUAY PHIM xi-nê-ma bằng THƠ, nghĩa là không chỉ chụp ẢNH hoặc vẽ những bức tranh tĩnh….rời nhau.

Bài Trưa hè, một trong hai bài được tuyển vào cuốn Thi nhân VN từ khi chưa xuất bản, tương đối dài. TMCS chỉ xin nêu một “trường đoạn” dưới ống kính THƠ của BBL để làm minh chứng .  

Mời quý vị hãy cùng TMCS tưởng tượng: BBL là tác giả kịch bản, đạo diễn, kiêm nhà quay phim.

Cảnh một: 

Từ xa, BBL thu vào ống kính THƠ của mình bốn câu

                  Quán cũ nằm lười trong sóng nắng !

Chỉ câu đầu khổ, bảy chữ thần tình này khiến “khán” giả thơ phải giật mình :  Chủ thể của khuôn hình là một cái quán cũ chơ vơ nhưng không hề là cảnh “chết”, cái quán  “cũ” tuy già cũ, nhưng vẫn còn sức sống, nó nằm (thí dụ như một chú mèo già nằm sưởi nắng ) và không cựa quậy vì lười . Đến nắng cũng không chịu thụ động, lẳng lặng phủ lên cái quán cũ mà làm từng đợt sóng xô đến, chùm lên cái quán “lười”, nằm im cho nắng trào qua  từng đợt ! Cảnh quay xa mà “sống” vô cùng !

Giời ! TMCS từ thuở học chữ Nho cho đến hết THPT, được nghe giảng bao là áng thơ đông tây kim cổ, chưa có mấy thi sĩ với chỉ  bấy nhiêu chữ mà miêu tả tài tình đến thế. TMCS cứ nghĩ cáí quán cũ như một chú mèo già đáng yêu của nhà ai đó đang nằm sưởi nắng, nó không u buồn, yếu đuối  chút nào mà đẹp lung linh, rất sinh động…

Chỉ bảy chữ này ta có thể hình dung nhà quay phim đang lấy toàn cảnh từ một khoảng cách không gian nhất định…tiến dần đến “ngôi” quán lá kia mà đặc tả rất thần tình – cả cái THẦN  và cái TÌNH hiện ra rõ mồn một, cảnh sau mới thật đúng là ĐẶC TẢ :

Cảnh hai:

Bà hàng thưa khách ngủ thiu thiu

Mỗi từ trong câu thơ là một nét điêu khắc sắc lẹm, không những kĩ thuật hội hoạ 3D mà TMCS đang phải chống gậy leo mạng tìm hiểu chưa xong, mà cả công nghệ 3D cho phép chụp và s/x ra các thứ đã chụp bằng nguyên liệu chọn sẵn ( người ta đã dùng công nghệ này sản xuẩt được một cái chân giả chính xác đến mức nó được lắp ngay vào một người mất chân !) cũng chịu thua BBL ở chỗ tác phẩm đặc tả bằng thơ của BBL đã truyền chính xác được cái thần (hồn vía  !) của cả cảnh và người ! 

Có bảy chữ mà hàm lượng thông tin chật ních :

Chủ quán : một nữ chủ nhân.

Quán : vắng teo.

Bà chủ : ngủ.

trạng thái ngủ : thiu thiu.

BBL chưa dừng lại mà tiếp tục đến gần hơn nữa, đặc tả đến chi tiết.

Cảnh ba:

Nghe mồ hôi chảy đầm như tắm.

Ống kính thơ của BBL tinh vi, tế nhị lắm:

Chủ ngữ của động từ  “nghe” ko phải là BBL đâu, mà là bà chủ quán , vì ngủ chưa sâu, mới thiu thiu nửa ngủ nửa thức để bà còn cảm thấy (nghe) mồ hôi đang chảy trên người , chảy thế nào ? – như tắm ! đúng là đặc tả quá tài tình .

BBL đặc tả “thần thánh” cũng phải nể: đến mồ hôi cũng ở trạng thái “động”, mồ hôi của bà chủ đang “chảy” lại kèm adv. “như tắm” ! 

Chả có ‘thông báo “ thời tiết gì mà người đọc cũng thấy đúng là trưa hè đang nóng hầm hập !

Thế rồi, sau khi đặc tả, BBL lại ôm máy lùi ra xa, lần này thi sĩ chĩa ống kính lên trời … Chỉ một thoáng lia máy :

Cảnh bốn:

Đứng lặng trong mây một cánh diều !!!

Còn ai dám ho he bình lời nào nữa !!! Trời không gió ! cánh diều không nhúc nhích chao đảo trên mây !!! Có ai dám bảo đây là buổi trưa của một mùa khác trong năm, không phải trưa hè không !

Bốn câu thơ là bốn lần BBL lia máy quay: lần đầu tiến dần và lần cuối lùi xa, đều là quay từ xa, hai lần quãng lưng chừng là đặc tả. BBL phải kiêm tất cả : kịch bản, đạo diễn, quay phim mới hoàn thành trường đoạn (épisode) bốn câu này hay thế ! 

( Còn nhớ hồi TMCS thực tập ĐS ở SNCF, theo chân bà đầm Cục phó cục công trình có người em làm đạo diẽn xi-nê đi xem quay mấy đoạn phim dọc sông Seine, thấy họ cứ í ới “épisode No 1, No2, No3…”, liền hỏi thì được giải  thích đại ý theo nghĩa thuật ngữ ngành này thì : épisode – partie d’un récit ayant son unité propre, mais s’intégrant  dans l’ensemble de l’oeuvre. ( Xin lỗi,  nếu TMCS nhớ sai sót, đại để là vậy, quý vị đỡ mất công hiệu chỉnh như chuyện mấy câu câu lục bát lẩm cẩm kì trước TMCS đã chót làm phiền quý vị, đây cũng lại chỉ là vui chuyện ngoài lề, gõ cho vui tay vậy thôi…- rất có thể TMCS ko nhớ  thực đúng  kĩ thuật chuyên ngành xi-nê-ma và cả Pháp ngữ !)…Ngẫm lại BBL đã làm đúng như lí thuyết phim xi-nê:

Trường đoạn (épisode) Quán cũ đúng là một phần riêng, đầy đủ  của tổng thể Trưa hè nhưng được đặt đúng vào giữa cái chung của tổng thể ấy , trong đó các cảnh “quay” lai láng tình và tình bao trùm cảnh, cực kì sinh động !!!

Bây giờ xin mời quý vị nhâm nhi li cà phê hoặc chén trà tuyết thượng hạng mà nhấm nháp từng chữ , từng câu, từng tứ thơ của thi sĩ quay phim, nhiếp ảnh gia, nhà giáo BBL đặng không chỉ yêu quý riêng nhà thơ tài hoa này mà hãy yêu cả nền thơ Việt của đất nước Việt nam mấy ngàn năm văn hiến …

TMCS, cùng cảnh tha hương, xin mời bà con VN hải ngoại cùng dẹp đi trăm chuyện lủng củng , lỉnh kỉnh trong lòng -nếu có–  mà nhẹ nhàng thanh thoát ghé thăm  cái quán nhỏ cũ kĩ của BBL thăm lại quê hương, nung nấu thêm tình cảm da diết với non sông đất nước VN mình….Nước mình có Hạ Long, Sơn Đoòng, Sa Pa, Đà Lạt – ta quyết không cho một kẻ thù nào nhòm ngó – nhưng trong lòng ta phải cố lưu giữ cho được từng góc nhỏ xíu của quê ta…trong đó có cái quán cũ của “bà hàng vắng khách thiu thiu ngủ” …ÔI ! VN – tất cả đều lung linh… Cám ơn, ngàn lần cám ơn BBL ! Chỉ đôi nét chấm phá của người nghệ sĩ tài hoa đủ rưng rưng lòng bao kiếp tha hương !

Quán cũ nằm lười trong sóng nắng, 

Bà hàng thưa khách ngủ thiu thiu 

Nghe mồ hôi chảy đầm như tắm… 

Đứng lặng trong mây một cánh diều. 

( Chắc chẳng cần “vẽ đường mời hươu chạy” hoặc “cầm đèn chạy trước ô tô”, quý vị đều nhận thấy quá rõ rệt là  :

Nội dung, bố cục thơ BBL đã được chia khổ theo phong cách lớp lang của tuồng chèo, cải lương, cảnh hồi của kịch nói và trường đoạn của xi-nê-ma…khiến người đọc,  cứ y như xem phim kinh điển của Mátx-phim, Len-phim thời Xô viết hoặc chí ít cũng như ngồi rạp Tháng Tám thời VnDCCH lâng lâng xem phim Chung một dòng sông hay Vĩ tuyến 17 ngày và đêm… không hề bị “rối loạn tâm thần” vì câu chữ, ý tứ , nội dung lộn xộn, trùng chéo, “đá” nhau…

Về hình thái thi pháp BBL đã dùng thơ đa khổ, mỗi khổ bốn câu hai vần rất thạo và “chuẩn không cần chỉnh”- cứ như làm thơ luật Đường kiểu tứ tuyệt hai vần, hoàn toàn đúng niêm và luật).

TMCS có “mẹo” vặt kiểm tra ( đã ứng dụng thường xuyên khi dịch thơ Việt ra thơ Hán) bằng cách đối chiếu với những câu chuẩn mực cùa bà huyện Thanh Quan:. Trường hợp này ta lấy mẫu chuẩn là các câu sau:

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn chau mặt với tang thương

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ 

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

Bàng Bá Lân đã hoàn toàn đúng 100% : nhị tứ lục phân minh.

Đến nhất tam ngũ bất luận cũng hết ý ! Chữ thứ ba, thứ năm theo “bất luận” cũng chuẩn không cần chỉnh!

Bái phục !!! 

BBL là nghệ sĩ – nhà sư phạm nên thơ ông rất mẫu mực, mô phạm cả về bố cục và hình hái, thi pháp…Nói  rằng TRÊN cả tuyệt vời cũng vẫn chưa  ngoa !!!

                                                       X

TMCS vừa đọc lại : Giời, lan man không tưởng tượng nổi ! TMCS xin nhận đủ tội, nhưng tội lan man thì đành xin quý vị …đặc xá ! không sửa nổi nữa rồi, các ý nghĩ cứ tuôn ào ào ra, hình như không phải TMCS gõ ra  mà chúng nó cứ theo nhau tự tràn  xuống bàn phím….…

                                                     X

TTTB@ No 131 giới thiệu tiếp hai khổ cuối cùng bài thơ Cổng làng của BBL kèm các bản dịch Anh, Pháp Hán.

Các phần khác như thường lệ.

   Kính thỉnh nhã giám

             TMCS

 I – CỔNG LÀNG (toàn bài)
Thơ Bàng Bá Lân
Dịch:
TMCS : Anh- Hán
Trịnh Phúc Nguyên   : Pháp
Phan Hoàng Mạnh    : Pháp
II- Thư hồi âm  Mr Tran Trach(đ/g nhóm quý bạn đọc VIP)
      
 
 
I – CỔNG LÀNG
 
Chiều hôm đón mát cổng làng,
Gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi
Đồng quê vờn lượn chân trời
Đường quê quanh quất bao người về thôn
 
Sáng hồng lơ lửng mây son
Mặt trời thức giấc, véo von chim chào
Cổng làng rộng mở. Ồn ào
Nông phu lững thững đi vào nắng mai
 
Trưa hè bóng lặng nắng oi
Mái gà cục cục tìm mồi dắt con.
Cổng làng vài chị gái non,
Dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm
 
Những khi gió lạnh mưa buồn
Cổng làng im ỉm bên đường lội trơn
Những khi trăng sáng chập chờn,
Kìa bao nhiêu bóng trên đường thướt tha
 
Ngày mùa lúa chín thơm đưa
Rồi Đông gầy chết, Xuân chưa vội vàng
Mừng Xuân ngày hội cổng làng
Là nơi chen chúc bao nàng ngây thơ
 
Ngày nay dù ở nơi xa,
Nhưng khi về đến cây đa đầu làng
Thì bao nhiêu cảnh mơ màng
Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre
 
 
 
THE VILLAGE GATE
(Poem by Bàng Bá Lân – Translation by TMCS)
 
 
Every sunset,  the village gate is a place, where 
People come to get some fresh air
The breeze pushes yellow clouds slightly,
In the field extended to the horizon,
Rice waves are bobbing unceasingly.
On the zigzag paths, they are on the way to the hamlets.
 
Early in the pink morning, the vermilion clouds hang in the sky.
In the gay songs of birds, the sun wakes up on time.
It’s also the time when the village gate is opened wide.
The sun shines onto the noisy farmers
To  the fields they are going together.
 
In summer, at noon even in the shadow it’s very sultry.
The hen leads their chicks to search for food busily.
At the village gate, there are several teen-age girls,
Who are so slack in waiting for a gust of South wind.
 
In the days of cold wind and sorrowful rain,
The  road to the closed village gate is very slippery and muddy.
At night, in the flickering moonlight,
They can see
Many slender human silhouettes 
On the road move to and fro slowly.
 
In the harvest time, from the fields, rice exhales its perfume.
Then after a denuded winter, spring would not come in a hurry.   
During the Spring festival, many naive young ladies
Crowd round the village gate joyfully.
 
On your return from somewhere faraway,
Near by the banyan at the end of the village
When you temporarily  stop on the way, 
At your first sight of the village gate among the bamboos,
So many dreamy images will appear before you! 
 
 
HƯƠNG MÔN
( Bàng bá Lân thi – TMCS dịch)
 
Hương môn, bàng vãn, chúng thừa lương.Cổng làng chiều hôm, mọi người đến hóng mát
Thôi động hoàng vân do quát phong.       Do gió nổi đẩy mây vàng trôi
Thuỷ đạo như ba thiên tế khởi.                   Lúa như sóng dậy lên ở chân trời
Loan loan đồ thượng, chúng quy hương.Nhiều người về làng trên đường uốn quanh
 
Thanh tảo hồng vân huyền kỉ đoá.  Sớm tinh mơ lơ lửng mấy áng mây hồng 
Thái dương lai tỉnh điểu hoan ca.   Trời thức giấc, chim hót véo von 
Hương môn khai phóng nhân huyên náo. Cổng làng mở ra, mọi người ồn ào.
Nhật xuất , nông phu mạn xuất gia.  Mặt trời ló ra, nông phu thong thả rời nhà
 
Hạ ngọ âm trung nhưng muộn nhiệt. Trưa hè có bóng vẫn oi nóng
Mẫu kê tầm thực lãnh kì sồ.            Gà mái dẫn lũ gà con đi kiếm mồi
Hương môn hàm tập đa thanh nữ  Nhiều cô thanh nữ tụ họp ở cổng làng
Bì quyện nghênh phong đãn tuyệt vô. Uể oải đợi cơn gió nhưng không đến.
 
Vũ giáng u sầu, phong lãnh lãnh. Mưa rơi buồn rầu, gió lạnh lẽo.
Hoạt nê ư lộ bế hương môn.        Đường bùn trơn, cổng làng đóng
Mỗi tiêu hư ảo luân quang chiếu, Ánh trăng chiếu chập chờn hàng đêm.
Nhân ảnh khinh doanh lộ thượng bôn. Bóng người tha thướt lướt trên đường
 
Nông mang kim đạo hương điền dã. Ngày mùa lúa vàng thơm đồng ruộng.
Đông tiết tiêu sơ, xuân vị mang.  Mùa đông tiêu sơ, xuân chưa vội.
Xuân tiết ư hương môn tụ tập      Hội xuân họp mặt ở cổng làng
Thiên chân kiều diễm các giai nương.  Những cô gái xinh đẹp ngây thơ.
 
Hồi hương tùng viễn năng quan khán  Về làng từ xa đã trông thấy  
Dung thụ cao cao thuộc thử thôn.       Cây đa cao cao thuộc làng này.
Mộng lí phong quang tằng mục kích Cảnh trong mơ từng  mục kích
Thanh thanh hương luỹ toạ  hương môn. Luỹ xanh của làng có cái cổng. 
 
鄉門 
(傍伯鄰詩-相梅居士譯)
 
鄉門傍晚眾乘涼
推動黃雲由颳風
水稻如波天際起 
彎彎途上眾歸鄉
 
清早紅雲懸幾朵
太陽來醒鳥歡歌  
鄉門開放人喧閙
日出農夫慢出家
 
夏午蔭中仍悶熱
母雞尋食領其雛
鄉門咸集多青女
疲倦迎風但絕無 
 
雨降幽愁風冷冷
滑泥於路閉鄉門
每宵虛幻輪光照
人影輕盈路上奔
 
農忙金稻香田野
冬節蕭疏春未忙 
春節於鄉門聚集
天真嬌豔各佳娘
 
回鄉從遠能觀看
榕樹高高屬此村
夢裡風光曾目擊 
青青鄉壘坐鄉門 

PORCHE DU VILLAGE (Dịch Pháp : Trịnh Phúc Nguyên)
 
Au porche du village,on accueuille le frais du soir,
La brise doucement pousse les nues d’or flotter,
La campagne  ondulée s’étend jusqu’à l’horizon,
Sur les alléees rustiques,on rentre aux hameaux.
 Le matin,flottent à la dérive des nuages vermeils,
Le soleil se lève,les oiseaux gazouillent,
Le porche du village s’ouvre largement.Du tumulte,
Des paysans lentement entrent et sortent sous le soleil matinal.
Midis d’été.Silence dans l’ombre.Chaleur suffocante,
La poule mère caquette,cherchant la nourriture pour ses poussins,
Au porche du village,quelques jeunes filles en bas âge
Se reposent,nonchalandes,attendant la brise.
Les jours de vent glacial,et de pluie maussade,
Le porche au silence complet,les bords du chemin trempés et glissants,
Tandis que les nuits de clair de lune,
Là ,que de silhouettes gracieuses sur le chemin!.
 
Les jours de moisson,s’épanche le parfum du riz mûr.,
Puis,arrive l’hiver dépéri,ne se presse le printemps,
Les jours de fête au printemps,le porche s’anime,     
Là,se rassemblent de nombreuses jeunes filles innocentes.
De nos jours revenu quoique de très     loin,
Des  qu’on s’approche du banian,en tete du village,
Oh!  Que de sites de rêve réapparaissent,
Quand on apercoit furtivenent le porche sous les bambous!
 
                                 Poème CỔNG LÀNG   de BÀNG BÁ LÂN
 
                 Traduction  de TRỊNH PHUC NGUYEN
 
 
 
PHAN HOÀNG MẠNH:
 
 
LE  PORTAIL  DU VILLAGE
 
Le jour en déclin accueille le portail dans sa fraîcheur
Avec un vent léger qui fait flotter des nuages jaunes.
La campagne ondule jusqu’à l’horizon,
Sur la route des champs, reviennent les gens au hameau.
 
Le matin rose s’attarde dans les nuages de vermillon.
Le soleil se réveille dans les gentils gazouillis d’oiseaux.
Le portail du village est largemente ouvert, et bruyamment,
Cheminent des paysans dans la clarté matinale.
 
A midi, les ombres s’immobilisent dans la chaleur étouffante.
Une poule amène ses petits chercher pitance en caquetant.
Au portail du village, quelques jeunes filles
S’arrêtent toutes indolentes dans l’attente d’un souffle de vent
                                                                                       frais.
 
 
 
 
 
 
 
 
Dans les jours de vent froid et de pluie triste,
Le portail reste silencieux à côté des routes boueuses glissantes.
Et dans les nuits de clair de lune tremblottant,
Voilà tant de silhouettes gracieuses sur les chemins.
 
Dans les jours de moisson, l’air est embaumé de la fragrance du 
                                                                                        riz mûr.
Puis survient le maigre hiver qui se meurt, tandis que le 
                                                         printemps ne se hâte guère,
Dans la joie printanière, c’est la fête du portail,
Où se pressent de nombreuses jeunes filles innocentes.
 
Aujourd’hui, bien qu’on vive bien loin,
Chaque fois qu’on revient jusqu’au banian au commencement
                                                                                  du village,
Tous ces spectacles qu’on voit en rêve
Apparaissent soudain, dès que se dessine au loin, dans  les 
                                                  bambous, le portail du village.
                                                        
 
Version française de Phan Hoang Manh
           
II- THƯ HỒI ÂM Mr T TRACH- Đ/g NHÓM ĐỘC GIẢ VIP
 
Xin đa tạ Mr Trạch đã động viên và cung cấp cho TMCS nhiều thông tin quý giá.
Thực ra thì TMCS không “ gõ” khoẻ thế đâu, “vốn cũ” còn sót lại, vét quèn quẹt mãi mới ra, mà chừng như cạn lắm  rồi… nhưng  còn NỢ nhiều lắm ! không nợ tiền bạc đâu, mà NỢ sự quý mến của bạn đọc, số đông là bà con hải ngoại  xa quê lâu ngày, các cháu nhỏ sinh trưởng các thế hệ sau ở nước ngoài, các bạn nước ngoài yêu mến VN, đặc biệt các cựu chiến binh Mỹ, Úc…Ngoài ra còn có cả một vài nhà NC VN học Tây đầm v.v…Có cả học giả và tướng tá SG cũ…
Đối với các bạn đọc trong nước thì mình cũng NỢ, vì nhiều người lúc đầu thì ớn  toàn chuyện “biết rồi , khổ lắm…”, nhưng sau cũng quen  và cũng thấy có nhiều chỗ  thích thú…Có cá nhân, CLB, địa phương  trong nam ngoài bắc còn đăng lại trên nội san…
…Thế là mình đâm lao, theo lao ! để trả nợ “tình cảm” thôi…
…. …. ….
Nói chung thì thi thoại, câu đối thoại, giai thoại…là các loại mình chả bao giờ tin là ĐÚNG cả, sai số cực lớn ! Hay thì nghe, vui thì kể lại thôi…
Cái chuyện Chời biết hay Chồi biếc, Trời biếc… thì mình kể ở Quán Gió khi còn trai trẻ, đạp xe đua Xput-nhích ( tự mình chọn và tậu ở Mát-cơ-va, khâu túi gói ghém, ôm ra ga gửi tàu  hoả liên vận chạy qua Xiberi, Pekin về HN, cả nghỉ  chuyển tàu mất hơn tuần lễ) buông ghi-đông phi qua cả Bảo vệ công viên vào tận quán….Người nghe cũng là lũ KS mới ra trường, nhiều đứa đang còn lương thực tập, bọn nữ tiếp viên Quán Gió thời ấy – thế hệ nón lá, sơmi pô-pơ-lin trắng , quần lụa đen, có đứa còn cặp ba lá, búng ra sữa – hóng chuyện mình bốc bịa thêm, quên cả trời đất…Đến cả Cửa hàng trưởng , phó… cũng “bỏ việc” mà hóng mấy cái giai thoại văn chương của mình…Mình rất thú vị là sau này cửa hàng phó và hai cô tiếp viên  đã học  hàm thụ khoa Văn (đúng ra là học lớp ban đêm: tối thứ hai và thứ năm – thời đó đeo “huy” hiệu sinh viên màu đen) sau này tốt nghiệp khoa văn, dạy cấp  ba hẳn hoi, chị CH phó  lên đến “tận” chức Phó ty Giáo dục (bây giờ gọi là PGGĐ Sở GD)…Họ bảo là nhờ hóng chuyện mình mà thấy môn văn hay, bỏ các môn khác mà đi học văn… Nói chung thì mình VÔ TÍCH SỰ, cùng lắm là lêu lổng, HƯ là cùng, chứ chưa Hỏng bao giờ, nhưng “yếu” văn như mình mà làm người khác thich Văn thì cũng là …một việc tốt !…Mình có đọc bài thơ Chồi biếc của XQ, nhưng thích tán thì cứ tán…Nhưng sau này có thấy đăng báo cái giai thoại “Chời” mà không thấy cụ Yến Lan  hay cụ Dụng, hoặc ai quen các cụ đính chính cả- chắc mọi người đếu cho là “đùa” cả ! Mình thì đoán là  XQ viết chữ Chồi “ngoáy” quá, chữ “ô” giống như chữ “ơ” thôi…chứ làm gì đến nỗi…
Nhưng qua hàng chục lần mình kể, cả “hội” vẫn cứ cười lăn lộn, bò lê bò càng… nên mình nhớ dai mà kể đi kể lại…Cái Quán Gió ở công viên THống nhất những năm ấy đúng là bị minh làm cho “đổ quán xiêu đình “ ! Thời ấy chưa có nhiều chỗ vui chơi, chưa có TV, híp hóp, rốc, ráp gì hết… chỉ có tán róc mà khoản này thì mình luôn ở thế “thượng phong” !
Sau khi đọc email của Trạch mình vào mạng , hoá ra  là mình “phịa” thế mà vô tình đến nay vẫn “còn” căn cứ đấy :
Hai tư liệu a và b dưới đây đúng y sì như mình kể lại và “mắm muối” thêm  ở Quán Gió “thơ” và “mộng” ngày xưa. Chưa biết chừng  hai tác giả này  là các nạn nhân của mình trong quán Gió thời ấy  hay là họ cũng “chớp” ở đâu ra. Mr Trạch rảnh rỗi thì vào mạng xem cho biết và đối chiếu với  đoạn mình viết trên TTTB@ vừa rồi. Mình thì cho qua, vì chỉ tếu táo cho vui, đến chuyện của Tây mình cũng chả tin ! Giai thoại có mấy khi “đúng” đâu ! Bọn Tây bịa các Giai thoại còn giỏi hơn ta…cứ như thật 100% !
a- Báo Văn Nghệ TRẺ  -7 -1999 (Trời biếc —->Chời biếc —> Chồi biếc)
b- Nội dung trang WEB liên hệ GS TS Nguyễn Đức Dân , Điện thoại 0919420274  Trời biếc—> Chời biếc—>Chồi biếc.
Kỹ thuật -trình bày liên hệ 0989091203 , email …
Nếu đúng họ là nạn nhân của mình ở Quán Gió thì mình quả có TỘI ! Tuy rằng mình ko cố ý lừa ai, và mình đã nói rồi : đừng có tin, chị CH phó cũng cảnh báo rồi ! Ôi thế mà Gsư Tấn sĩ hẳn hoi… Nói dại đúng thế, thì Trạch bảo mình phải làm gì?…Chỉ mong rằng ko phải là mình đã “lừa -trêu” ông Gs Ts – có No Phone  của ông ấy đấy,  mình bôi đỏ, nhưng mình chả gọi,…biết nói gì !!!)
 
Những chuyện này mình kể bao giờ cũng có “vuốt đuôi “: Chính Tớ chả tin 100% đâu, kể để các cậu , các mợ cười cho zui thôi…” – Chị CH phó của Quán Gió lần nào cũng cười nghiêng ngửa  mà bảo “ Tin tướng này thì có mà đổ thóc giống ra…” 
Ấy thế mà đã bao nhiêu là năm tháng ! Mình lênh đênh xa tít, cứ ước ao giá mà gặp lại hội Quán Gió ngày xưa,   mấy bà lão tiếp viên “xinh xỉnh xình xinh” ngày xửa ngày xưa, giờ chắc đã móm mém …Tiếp viên bây giờ “hiện đại” quá hoá ra mất đi  cái hồn nhiên của HN thanh lịch thuở xưa…
Nhân gõ đến từ  gặp”, mình thấy gặp lại mấy cô tiếp viên Quán Gió ngày xưa thì chắc khó, mình muốn dịp cuối năm nay về HN sẽ lại đến tụ tập ở nhà bác TPN gặp cả PHM, PT Hồng Vân, XDN… như năm ngoái năm nay thêm Trạch hoặc ta bố trí gặp nhau ở đâu cũng được…cả bác Liên, NK Quốc…càng đông càng vui. Gặp từng vị thì khó…
Gần đến ngày mình sẽ báo ( cho mình số Phone khi về HN mình sẽ liên hệ với Trạch)- Năm nào về HN mình cũng đến thăm bác TPN, PTHV, N Chân… nhưng ko đi hết được…vì mình chỉ chơi HN vài hôm , còn phải về “Cổng làng”, đi thắp hương thăm mộ các cụ, gặp gỡ họ hàng…Năm nay mình muốn chọn một địa điểm rồi hẹn gặp nhau, cụ nào yếu không đi taxi được thì mình mới đến riêng…
Chả biết “Chời” có chiều mình ko?
 
Mình đã tính đến chuyện sẽ phải bàn giao TTTB@ cho ai đó… chắc phải người HN…bên này thì không thể được ! Bây giờ thì mình vẫn túc tắc chăm cả vườn “Thực” và vườn “Thơ”, ít năm nữa  chắc là sẽ gay…chưa biết tính sao …
Thôi , giốc chút tâm sự, mình viết đoảng, nên dài quá…
 Kính
TMCS- NT Tú
TB- 
Ở đây không phải ai cũng biết mình là TMCS, trừ một số thân quen. Hầu hết chỉ biết mình là Mr Nguyễn. Có hôm trong quán café một cụ cựu colonel SG cũ còn tâm sự, bảo mình hãy lên mạng tìm đọc TTTB@ của TMCS, có nội dung và văn phong “kì” lắm ! Cụ này còn bảo ko bỏ kì nào, ở hải ngoại ko có mấy “tờ”  sánh được với TTTB@ đâu!!! Cụ giơ ngón tay cái ra mà bình bằng Ăng-lê : Number One – It’s the best… ( No1 đấy,  hay nhất đấy…) Mình đành phải cám ơn cụ  và hứa : Yes, I’ll do it… ! (Vâng, tôi sẽ làm thế …) – Tội cho ông cụ, vẫn còn nói Ăng- lê giọng Mỹ mà lại đi… “mê” TTTB@ !
Đúng là Ông “Chời” phù hộ TTTB@ của mình !
 
Xin lỗi, chả biết Mr Trạch đọc “phải” mail của mình có “mệt” không ! Chịu khó đãi cát lọc …sỏi vây !
PHỤ TRƯƠNG TTTB@ No131
                             TMCS

TRUYỆN DÍ DỦM

A HALF OF SUCCESS
( Gleaned by TMCS)

“Hey, how about the rendezvous?”
“It can be said that it’s a half of success”
“What do you mean?”
“I came to the dated place but she didn’t.”

TMCS’s comment:

Exactly ! but it’s sorry…what does the other one mean?

THÀNH CÔNG MỘT NỬA
( TMCS lượm lặt và dịch)

“Này, cuộc hẹn  thế nào?”
“Có thể nói là đã thành công một nửa?”
“Nghĩa là thế nào ?”
“Tôi có đến nơi  hẹn, còn cô ấy thì không”.

TMCS bình:

    Đúng là đúng  một nửa thôi,
Nhưng sai một nửa là  “toi” cả rồi !


ĐỐ VUI


Kì trước:

Un jour le bouffon d’un roi fait une remarque impertinente de trop.
Le roi excédé le condamne à mort (à cette époque cela ne rigole pas). Mais puisque le bouffon a tout de même amusé le roi pendant très longtemps, celui-ci, par sympathie, lui permet de choisir la manière dont il mourra.
Comment va faire le bouffon pour se sortir de ce mauvais pas?
 
Ré:
Il va choisir de mourir… de vieillesse !
 
Kì này
         

Grâce à moi elle est belle.
Qui suis-je ?
 
VÈ VÀ ẢNH : TMCS

Theo lệ thường, sau khi thiền với lũ chim trời , TMCS thư thái đi dạo khắp vườn…chợt dừng lại ngắm những chùm hoa mận đang rủ nhau hướng cả về phía TMCS , thầm hứa sẽ cho một mùa mận sai quả, chẳng những bội thu mà còn   cực kì “ ngon và giòn ” như hệt mận Sa-pa! ( Hồi này TMCS cứ tơ lơ mơ ngỡ như là mình nghe được tiếng chim, lời hoa…cứ như nghe tiếng Pháp,tiếng Anh, tiếng Hoa….)

TMCS liền hứng chí nháy pô ảnh và soạn mấy dòng ve vẻ vè ve…
                   
                        VÈ I (TMCS)

         Ngâm thơ, đi dạo, ngắm hoa
  Năm nay hồng mận vườn nhà bội thu !

     
                       Vè II (TMCS)

      Bạc vàng chẳng có mà khoe
  Chỉ còn thơ dịch ti toe mấy vần,
      Ngó qua sau trước, xa gần 
Công hầu khanh tướng cũng ngần ấy thôi!
     Làm vườn mà ngỡ là chơi
Câu thơ, khúc hát thảnh thơi tuổi già…
       Ngắm nhìn hồng mận nở hoa,
Thấy  đời phơi phới như là đang xuân!
           
                Inline image
TIN GIỜ CHÓT:
Sáng nay thăm vườn, bông tulip đầu tiên sau mười tuần đánh luống, gieo trồng đã mỉm cười chào TMCS! Trong giây phút tuyệt vời đó, TMCS đã nghe tiếng HOA thỏ thẻ, thầm thì…Xin ghi lại hầu quý vị thưởng thức Lời hoa ngỏvới TMCS cùng chân dung Nàng do đích thân TMCS chụp .
Lời Nàng TULIP ( Vè và Ảnh : TMCS):
                     Cười trong nắng, đẹp lung linh,
                    Cô Nàng Tulip hỏi mình: Thơ đâu!
                                                                      TMCS
                                                                      
               Inline image
(Dám xin quý vị ghi nhận :
TMCS đã giữ lời hứa từ lần trước, khi giới thiệu sự tích hoa Tulip  và chụp ảnh hai luống tu líp: “Bao giờ tulip trổ bông đầu tiên, TMCS sẽ tự tay chụp ảnh hầu quý vị thưởng lãm. Nay xin được hân hạnh và vinh dự thực hiện việc giữ tròn lời hứa hôm xưa…
Kính thỉnh chư vị thưởng lãm).
Lời nhắn:
Vốn dĩ TMCS chỉ quen vẽ, chưa qua trường, lớp nào về nhiếp ảnh , nên đường nét, hình khối, mảng mầu, sáng tối, đậm nhạt, phông nền, bố cục v.v… trong ảnh, nhất nhất chỉ mới chú ý tuân thủ các nguyên tắc hội hoạ, chưa chắc đã phù hợp và đáp ứng y/c của nghệ thuật nhiếp ảnh, kính mong được quý bạn đọc muôn phương sành về nhiếp ảnh vui lòng chỉ dẫn để TMCS được lãnh hội, ngõ hầu   có sự cải tiến đặng phục vụ quý vị tốt hơn.
Kính chân thành đa tạ.
           TMCS
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cổng làng (432)

Bl(432) TTTB@130

Cổng làng 

(Bàng Bá Lân)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CỔNG LÀNG -BÀNG BÁ LÂN (Khổ 1-2)

Bl(431) TTTB129

CỔNG LÀNG (khổ 1-2) 

Bàng  Bá Lân