Bài thơ về tiểu đội xe không kính PTD (459)

BL(459) TTTB@ NO159

BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH (PHẠM TIẾN DUẬT)

 

DẠO ĐẦU TTTB@ No 159

               TMCS

LAN MAN – TRAO ĐỔI LINH TINH

                  – DỊCH MỘT BÀI THƠ VIỆT & MỘT GÓC NHÌN

CHUYỆN VỢ PHẠM TIẾN DUẬT  VÀ CÁC BÓNG HỒNG QUANH NHÀ THƠ.

TRAO ĐỔI LINH TINH

TTTB@ rất cảm kích trước lời đề nghị của chư  độc giả nước ngoài và một số bạn đọc VN hải ngoại về việc TTTB@ nên có riêng phần Dạo đầu bằng Anh ngữ song song và đầy đủ như bản tiếng Việt, với lí do rất xác đáng là phần này rất hữu ích và cần thiết, nó sẽ giúp bạn đọc nước ngoài và Vn hải ngoại hiểu kĩ hơn những bài thơ Việt được chuyển ngữ từ nguyên tác. Dù bản dịch tóm tắt phần Dạo đầu của các tình nguyện viên có công phu đến mấy , bạn đọc cũng vẫn cần và muốn tìm hiểu thêm nhiều nội dung chi tiết liên quan đến tác giả, tác phẩm và các tư liệu lịch sử, xã hội….khác. Một số bạn đọc hải ngoại còn cho biết: không chỉ người nước ngoài làm công tác  VN học quan tâm đọc TTTB@ mà ngay người VN hải ngoại bình thường cũng xác nhận nhiều tư liệu đáng tin cậy trên TTTB@ hiện nay dù lên mạng hoặc có về VN cũng khó tìm kiếm được. Cũng có một số bạn đọc trong nước nhận xét rằng một vài tư liệu  do TTTB@ cung cấp hầu như chỉ có các vị lớn tuổi biết, lớp trung niên trở xuống hiếm có điều kiện sưu tầm các tư liệu cũ vì hiện nay ít còn lưu hành…nên phần Dạo đầu cũng không hẳn là hoàn toàn “vô tích sự” … 

Tuy đã nhiều lần nhận được yêu cầu này, do điều kiện nhân lực hạn chế chưa có thể đáp ứng nguyện vọng nói trên, TTTB@  chỉ có thể cố gắng dung hoà giữa đòi hỏi của người đọc trong nước và nước ngoài. Mâu thuẫn chủ yếu là nhu cầu tìm hiểu của các bạn trong nước và nước ngoài nhiều khi không giống nhau. Nhiều nội dung với các bạn nước ngoài là hấp dẫn thì với các bạn đọc trong nước là rườm rà, đa phần đã biết từ trước…không cần giải thích kĩ nữa, nêu sơ sơ là đủ…

TTTB@ đã cố thu xếp và có phần ưu tiên nhiều hơn chút ít với  bạn đọc nước ngoài. Đặc biệt dù đã có các bản dịch Anh ngữ do các nhóm sinh viên tình nguyện hải ngoại dịch giúp , trong nhiều trường hợp cần thiết ở mục Dạo đầu, TTTB@ đã chua nghĩa thêm  các ngoại ngữ Anh, Pháp và có khi cả Hán ngữ để bạn đọc nước ngoài tiện tham khảo và nắm bắt nội dung. 

Ghi chú này hữu hiệu nhất là trong trường hợp có sự thay đổi về cách dùng từ trong cùng một ngôn ngữ. Thí dụ: Khi gặp gỡ lưu học sinh Trung quốc tại Liên Xô, Mao Trạch Đông lần đầu nói : “Gió đông thổi bạt gió tây” (một vài bạn đọc trong nước đã lưu ý TTTB@ về từ “bạt” ) để hình tượng hoá sức mạnh của TQ và “phe” XHCN  ngày càng hùng hậu và có xu thế lấn lướt các thế lực phương Tây, nhưng TMCS được biết sau đó ít lâu và cho đến hiện nay chính ở TQ và nhiều phương tiện thông tin đại chúng phương Tây đều  không dùng từ “thổi bạt “ mà dùng  “áp đảo”, có nhẽ nhằm tới một ngữ nghĩa mạnh mẽ, xác thực hơn. Áp đảo trong Hán ngữ gồm  hai ý : đè xuống và quật ngã không cho trỗi dậy, vì lẽ đó TTTB@ đã chua nghĩa Hán theo tư liệu mới “áp đảo”.  Cách trích dẫn dùng từ “áp đảo” này có tính “up-date” (cập nhật), người Tầu đương đại, rải rác khắp thế giới dễ tiếp thu hơn từ cũ (thổi bạt) tận thời “tám hoánh” , khi mái tóc TMCS còn xanh rờn! 

Dưới đây là chứng minh qua bản tư liệu  Trung văn của BBC (5/10/2017) và lời phát biểu chúc năm mới của  Tập Cẩm Bình 11/2/2018, trong đó đều dùng  cách nói Gió đông áp đảo gió tây    東風壓倒西風 thay cho cách nói thổi bạt.

Trích dẫn làm thí dụ (chữ đỏ):

blog.udn.com/paulhsu333/110281777

Feb 12, 2018 – 中國網路世界東風壓倒西風○ 習近平年初發表新年賀詞時,電視鏡頭捕捉到他辦公室書架,放著兩本人工智慧的書。

一帶一路:「東風壓倒西風」令西方擔憂- BBC 中文网(乃超及 … – udn部落格

blog.udn.com/paulhsu333/108732214 –

Oct 5, 2017 – 一帶一路:「東風壓倒西風」令西方擔憂- BBC 中文网(乃超及明毅先生提供) http:// www.bbc.com/zhongwen/trad/chinese-news-41164655?ocid=

Thực tiễn cũng chứng minh không phải lúc nào thói quen trong ngôn ngữ cũng thoả mãn yêu cầu diễn đạt chính xác, nên người ta phải thay đổi- trong đó có cả trường hợp lẳng lặng bỏ cách viết, nói cũ cho đúng với ý nghĩa muốn diễn đạt.

Trước đây  khá lâu, khi TMCS dịch  “ Một vì tất cả, Tất cả vì một ” thành nghĩa “Từng người vì mọi người, Mọi người vì từng người” nhưng do không ghi rõ cách nói này từ đâu, nên đã có vài ý kiến góp ý cho TMCS phải sửa lại cho đúng tiếng Việt là : Mình vì mọi người, mọi người vì mình.

TMCS đã phải giải thích:

Ta viết đi viết lại cả trăm ngàn lần trên các phương tiện thông tin một thời câu : “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”, nên nhiều người không rõ xuất xứ cứ đinh ninh rằng cách viết này vốn  là của ta, hoặc có người đọc được Hán văn lại tưởng là ta đã dịch từ cách viết trên các báo Tàu : Ngã vị nhân nhân, nhân nhân vị ngã. 我為人人,人人為我. Lúc đó, phần nào  ta còn thiên hướng coi như “đồng chí Bạn” đã nêu là đúng, nên cứ thế mà  tin cậy “bà chị hiền” quá mức về độ chuẩn xác. Thậm chí cái câu “ngang phè phè”  trên, biểu lộ quá rõ rệt tính vị kỉ, cá nhân chủ nghĩa lại được nghiễm nhiên coi như một lẽ sống cánh mạng, là một lời răn dạy chí lí !

Khi nghe ai đó nói “Mình vì mọi người” thì TMCS hầu như  không có  gì phản cảm, nhưng nếu nghe nói “Mọi người vì mình” thì cảm thấy rất chướng ! TMCS coi cách nói này là “vị kỉ” , là vơ vào cho bản thân mình, mang ý nghĩa phản giáo dục: coi như  việc “Mình vì mọi người” là chỉ để mong đợi rồi “mọi người sẽ vì mình” !

Theo TMCS, cả câu Nôm và Hán :Mình vì mọi người, mọi người vì mình” hay “Ngã vị nhân nhân, nhân nhân vị ngã” đều không thể chấp nhận, phải xóa sổ càng sớm càng tốt. Không thể dạy nhau mọi người vì MÌNH hoặc vị NGÃ (tôi). Nói như vậy là đặt vấn đề  Vì Mình  (bản thân) thành nghĩa vụ của mọi người, nó mâu thuẫn với cách nói “Quên mình” vì tập thể, vì nghĩa vụ chung. (Bài hát : Vì nhân dân quên mình ).

Thời gian đó, TMCS đã dẫn chứng  câu nói : “Un pour tous, tous pour un” trong cuốn  Ba người lính ngự lâm của Alexandre Dumas cha. Câu nói trên (Một vì tất cả, tất cả vì một) đã được nhân vật chính d’Artagnan vận dụng triệt để, nhất là vế sau nhưng nghe tế nhị hơn vì khống có từ “mình “ ! Tất cả vì một , từ “một” không lộ liễu vì nó có thể chỉ bất kì một người nào !

Sau này, khi có dịp gặp gỡ giao lưu với một vài bạn Tàu người Taiwan, TMCS được họ cho biết cách nói  này không lưu hành ở Taiwan mà chỉ ở Hoa lục. Theo các bạnTaiwan, đa số người Tàu  – nhất là cư dân Hoa lục hầu như thời ấy ít đọc sách nước ngoài, ngại nhất là sách tư bản chủ nghĩa, có thể họ tưởng câu nói trên là lời dạy của lãnh đạo cấp cao về đạo đức cách mạng, về chủ nghĩa tập thể…rồi cứ thế truyền nhau (thậm chí có thể họ nghĩ đây là phát ngôn của vị lãnh tụ nào đó – nếu đó chỉ là câu nói của một cán bộ bình thường chắc là bị vạch ra chỗ sai ngay từ khi phát ra)). Họ thấy báo của đảng cầm quyền “Nhân dân nhật báo”, Đài phát thanh trung ương …sử dụng cụm từ trên như một phương châm sống cao cả, đẹp đẽ…nên chả cần suy nghĩ gì thêm , cứ thế nói theo và yên chí đấy là Chân lí !

Về chuyện này, có lúc TMCS suy nghĩ liên miên: chả lẽ cả tỉ dân Tàu không ai đọc Les trois mousquetaires, không biết xuất xứ câu nói trên. Hẳn 100 % là có khá nhiều người đọc, rất nhiều nữa là khác…nhưng họ biết thời, biết thế mà không “tồng tộc” phản bác, đính chính lại…Chợt TMCS cũng tỉnh ra mà thấy rằng mình vô tình mà hoá ra không hề bị “rắc rối”, trong bao lần tung hoành ngao du khắp đông, tây, nam, bắc trên đất Tàu nhưng tịnh không một lần TMCS  bép xép chuyện này… Ngôn ngữ ngoài tính thời gian còn có tính địa phương, nên các cụ ta có câu “ chửi cha không bằng pha tiếng “! không thể chê phương ngữ dù chỉ đôi khi là “nhược  điểm” về phát âm, ngữ điệu… huống hồ đây là một câu nói mang nội dung “thời đại” ở một đất nước mênh mông xa lạ, chẳng phải quê cha đất tổ nhà mình… Chê bai một làn sóng lớn  đang cuốn theo cả tỉ người là một điều không tưởng, có ai đó đã ví von làm vậy là khác nào “nhổ bọt ngược gió”  !!!

Bởi thế nhiều người chê TMCS nhát, nhưng thà  vậy còn hơn rách việc: đôi co, tranh luận về “ngôn từ” chả để làm gì…từ điển rành rành như canh nấu hẹ, song cũng có lúc không đương đầu nổi mà đành thay đổi cho kịp thời đại, huống hồ… Bởi vậy, chắc quý vị chưa quên nhiều lần TMCS đã công khai đa tạ mọi điều góp ý, từ muôn phương trời với lí do đơn giản: mình cám ơn ý tốt của người đọc là chính, còn chuyện ngôn  từ, nhất là ngôn từ trong  CẢM nhận về thơ ca thì khó kết luận ai sai ai đúng…như vậy thì cãi vã  nhiều khi chỉ là vô tích sự…

Vế phần mình, TMCS xin cam đoan rằng chưa một lần khẳng định bạn đọc nào đó đã sai, không đúng về từ này ý nọ mà cùng lắm là chỉ dám nói TMCS nghĩ thế này, còn chuyện CẢM chưa dám vội vàng…

TMCS đã mấp mé  giới hạn “dài  và dai” rồi, xin “ngoặt lái” chuyển “gấp” sang v/đ khác:

DỊCH MỘT BÀI THƠ VIỆT-  MỘT GÓC NHÌN

Thông thường, người dịch thơ nào cũng từ cơ sở cảm nhận của mình với bài thơ nguyên tác rồi chuyển ngữ thành ra thơ tiếng nước ngoài với hướng chính là để người bản ngữ của thứ tiếng đó thưởng thức bài thơ mình dịch .  Song ở VN, có thể do phương tiện giao lưu còn chưa được tận dụng, nên KHÁ NHIỀU người dịch trong nước thường trước hết nhắm mục đích trao đổi thơ dịch với số bè bạn có chung sở thích với nhau là chính, và ít trao đổi trực tiếp với nước ngoài. Cũng rất ít dịch giả và thậm chí cả một số CLB thơ đa ngữ ở VN có được những cuộc tiếp xúc và giao lưu quốc tế trực tiếp, nên thơ Việt dịch ra thơ tiếng nước ngoài thường chỉ được giao lưu nội bộ giữa những dịch giả trong nước với nhau.  

Do hạn chế về trình độ hiểu biết cả về ngoại ngữ và lí luận dịch thơ, TMCS xin lấy một thí dụ gần nhất trên TTTB@ đặng nêu lên vài ý nhỏ về v/đ “đại cà sa” Thơ dịch và Dịch thơ này !

Đành là chuyện này quá tầm, nhưng TMCS thử liều “ kiễng chân, nghển cổ” mà bàn  “ chới với”, “ăn theo nói leo” một phen xem sao !

Ngã đau chắc mau tiến bộ ! Phải thắng nỗi sợ hãi ban đầu như khi TMCS mới tập bơi hay trượt tuyết , TMCS cứ mạnh dạn bàn kiểu “năm ăn mười thua” vì … có thua cũng coi như “huề”,  chả sao cả !

Bài thơ Vòng trắng của PTD:

… PTD đã ra đi mãi mãi… 

Trước đó và gần đây, vẫn có một số người nước ngoài và Việt kiều ham dịch thơ PTD…

Lần này khi  quyết định dịch thêm một bài thơ nữa của người bạn đã quá cố, TMCS chợt nhớ đến câu thành ngữ mà TMCS đã dịch cho PTD nghe khi tiếp đoàn cựu chiến binh Mỹ đến gặp PTD trước ngày PTD sang thăm đất nước họ. Câu ấy như thế này : “ It takes two to  tango “ – Phải có hai người để nhảy vũ điệu tăng-gô. ( TMCS có “thuyết minh” thêm rằng cách nói này tương đương với : il faut deux mains pour applaudir – phải có hai bàn tay mới vỗ tay được –  một câu cửa miệng của người Pháp trong ngữ cảnh tương tự – TMCS toàn học kiểu tán róc thóc mách, hóng chuyện công trường đường phố rồi tự nhiên mà nhớ, chứ chữ nghĩa học theo sách vở kinh điển đã cho “đóng bè trôi sông “ từ lâu  hết cả rồi !). Ý các bạn Mỹ muốn nói với PTD là cần có sự hợp tác của hai bên về Thơ thì mới có kết quả được, đó là lí do hội CCB Mỹ muốn tổ chức mời PTD sang thăm Mỹ.

Vào một ngày đẹp trời, đúng giờ hoàng đạo,  TMCS mở laptop vừa lúi húi bắt đầu dịch “Vòng trắng” vừa lẩm  bẩm : “ PTD, our tango begins ! PTD ơi, điệu tango của chúng mình bắt đầu đây…”

TMCS đã dịch bài Vòng trắng ra ba bài thơ Anh, Pháp, Hán với  niềm cảm xúc hao hao như xưa từng trao đổi với PTD. Tuy trình độ ngoại ngữ hạn chế, nhưng TMCS hoàn toàn tự tin là mình đã từng CẢM giống tác giả, đó sẽ là cơ sở thuận lợi để lột tả được phần HỒN của các bài thơ nguyên tác trong các bản  dịch đa ngữ. Lời dịch dù vụng dại nhưng TMCS sẽ cố đưa bản dịch đi đúng theo điệu tâm hồn chung của  người dịch và tác giả…nói văn vẻ thì có thể ví von đây là một điệu tango chung mà người dịch “tay ngang” vô danh tiểu tốt TMCS cố hoà nhịp  theo nguyên tác của PTD, một nhà thơ đã nổi danh lừng lẫy…

 

Và may mắn thay, TTTB@ của TMCS đã đón nhận một bản dịch rất hay của dịch giả PHM để dùng làm tấm gương soi mà nhìn ra tì vết của mình- PHM là một dịch giả cao niên, kì cựu lão luyện chuyên dịch  thơ Việt ra thơ Pháp đã cộng tác giúp đỡ TTTB@ khá lâu. Ngay cả khi cảm nhận có đôi chỗ không giống nhau, TMCS cũng vẫn nhận ra sự già dặn về tay nghề và vốn ngoại ngữ “khùng” của vị dịch giả lão thành…mấy năm nay vẫn cũng một số vị cao tuổi khác  “ngự “ trên “cao tịch” (chiếu cao) trong “xóm” dịch Pháp ngữ ở HN mà TMCS được hân hạnh quen biết, giao du… Lời thơ dịch của PHM rất gần gũi với cảm nhận nghệ thuật trong thơ của các bạn Pháp dịch với sự tham gia của một vài Việt kiều bên đó. Sinh thời, PTD rất trân trọng những bài thơ của các bạn nước ngoài dịch thơ mình, và thường nói cá biệt đôi chỗ không giống mình viết, vì họ đã bao giờ ở rừng như bọn mình đâu…Nói chung PTD rất ưu ái, và rất khen ngợi…những bài thơ dịch có dáng dấp  “Tây”.

 

Bản dịch Pháp ngữ của PHM có nhiều chỗ hay như hoặc có lúc hơn cả thơ “Tây”, nhưng xin miễn choTMCS khỏi phải “té nước theo mưa” làm công việc thường được các cụ gọi là  khen “phò mã tốt áo”, để mạnh dạn tập trung  nêu ra đôi điều cảm nhận khác nhau của hai luồng cảm nhận trong khi dịch làm cho cách hiểu và cảm về nguyên tác thêm phong phú…    

Để tiện nêu v/đ, TMCS xin chọn chỗ đứng cho mình là một độc giả VN , võ vẽ ít vốn liếng ngoại ngữ – trong bài này là Pháp ngữ.

Sở dĩ TMCS không dám chọn vị trí của một người bản ngữ Pháp vì trình độ viết ngoại ngữ còn rất non, (TMCS chỉ khá thạo trong văn nói “ba bị “ của thứ tiếng Pháp công trường, đường phố) , vả chăng “nhập vai Tây” thì sao còn bám vào nguyên tác thơ Việt mà bàn được. Tất nhiên việc chọn vị trí của một người chỉ đọc được nguyên tác tiếng Việt thì không có gì để thưa thốt về bản dịch cả !

BÀI VÒNG TRẮNG.

MỘT VẤN ĐỀ NHỎ : 

SAU CHIẾN TRANH ? hay SAU TRẬN ĐÁNH ?

Câu nguyên tác:

Tôi với bạn tôi đi trong yên lặng

Cái yên lặng bình thường đêm sau chiến tranh

Một thí dụ nhỏ, lấy trong nguyên tác Vòng trắng : vào những ngày  Mỹ phải buộc ngưng ném bom miền Bắc, từ  Trường sơn vẫn ngày đêm rung chuyển bom đạn, PTD ra Hà nội, đi dọc phố Khâm thiên tan hoang  trước đó ít ngày, với cảm giác yên lặng như   cuộc chiến tranh đã lùi xa mà  viết:

Tôi với bạn tôi đi trong yên lặng

Cái yên lặng bình thường đêm sau chiến tranh

Bài thơ này của PTD  xuất hiện trên báo vào 1973 tức là trước

đại thắng mùa xuân 1975 những hai năm. Tại sao PTD lại viết

sau chiến tranh mà không sau trận đánh? Nhà thơ lính – cử 

nhân Văn học PTD lẽ nào không biết một cuộc chiến tranh thường 

bao gồm nhiều trận đánh.

   

Thi nhân đãng trí chăng?

Đãng trí sao được, bài thơ ấy quan trọng lắm, PTD nói: mình 

choáng người khi đọc bài phê phán trên Tạp chí CS ngay sau 

khi bài Vòng trắng lên báo, tiếp đó là một loạt bài viết “hội

đồng ” như B52 rải thảm xuống đầu mình

Như thế là đã rõ: PTD không nhầm và không đãng trí, xin

khẳng định: Ý của PTD, đây là sự yên lặng sau chiến tranh, chứ không phải sau trận đánh  ! Khi sang Mỹ, PTD gặp một cựu chiến binh Mỹ có 

vợ là một luật gia người Việt đã cố vấn cho chồng mình dịch

câu trên theo nghĩa “after the battle” – sau trận đánh. PTD phải

 giải thích cho họ hiểu phải là “after the war” – sau chiến tranh

mới đúng cảm xúc của mình đêm đó… Sau này, PTD thường

bảo: Trách sao được, họ có phải là chính mình đâu !

Còn TMCS, chả phải “ăn may”, cũng chả phải “tài cán” gì, mà

chỉ nhờ cái điệu “tango” chung nhau với PTD, bởi lẽ có hoàn

tương tự mà trong cả ba bản dịch ra thơ Anh, Pháp và Hán của TMCS đều 

là sau cuộc chiến tranh : after the war, après la guerre,

戰後平安夜 – chiến hậu bình an dạ  (xem lí giải phần dưới ).

    

Cách Hoa kì nửa vòng trái đất, PHM đã dịch khớp 100% bản 

thơ Mỹ của cặp phu thê Hoa kì :

Moi à côté de mon ami, nous marchons dans le silence, 

Un silence habituel dans la nuit après la bataille. (PHM)

TMCS vốn quen với sự dị biệt và trùng hợp, nhận ra ngay đây chính là chỗ sáng tạo hoặc cố tình hoặc có dụng ý khác   của PHM. PHM cũng thừa khả năng cân nhắc giữa la guerre ( chiến tranh ) và la bataille (trận đánh)… 

Vậy cớ chi …? 
TMCS trộm nghĩ rằng :

Trong lời dịch của PHM “sau chiến tranh” của nguyên tác đã chuyển ngữ thành “sau trận đánh” với cách hiểu thông thường là cuộc chiến tranh bao giờ cũng gồm nhiều trận đánh, và ta hiểu ngầm đây là sự  “yên lặng” giữa hai trận đánh – trận đã trải qua và trận sắp tới… Cách diễn đạt theo tư duy này rất hợp với cách diễn đạt thông thường trong các tác phẩm hậu chiến ở Âu châu và nhất là ở Nga sau thế chiến II, trong đó người ta mô tả rất tỉ mỉ và cũng rất “hay” về những trạng thái cảm xúc của những người lính, đa phần họ tranh thủ  những lúc yên lặng ngoài mặt trận, giữa hai trận đánh để viết thư hay đọc thư của vợ, cha mẹ hoặc người yêu…khắc khoải , hoài niệm về người thân ở hậu phương, mơ ngày đoàn tụ…Cả phim và tiểu thuyết nhiều nước đều như vậy, nên đã hình thành một ước lệ: cứ yên lặng là phải giữa hai trận đánh, chứ yên lặng sau cuộc chiến thì có gì mà nói ! còn PTD và TMCS thì lại gặp nhau trong cảm xúc của cuộc chiến đặc biệt ở VN, có thể hơi khác và khó hiểu với bạn đọc phương tây… Chỉ có vài ngày từ khu IV ra Hà nội họp trong thời kì chiến tranh phá hoại mà TMCS cũng có cảm giác  hao hao từa tựa như PTD : Hà nội yên lặng quá, trong kia – chỉ cách HN vài trăm km về phía nam : ầm ầm suốt ngày đêm ! Bom có thể “ập” xuống bất kì lúc nào, chả kịp báo máy  bay cách…km ! Cá biệt có lúc máy bay sà sát mặt biển, loạt bom đầu tiên nổ trước cả pháo phòng không… Cho nên cứ về đến HN là có cảm giác như hết chiến tranh rồi

Theo PTD kể thì đó là vào cuối 1972 sang đầu 1973, PTD được tướng ĐSN – tư lệnh binh đoàn Trường Sơn – cử ra miền Bắc trong một đợt công tác và viết câu thơ trên trong khi đi qua phố Khâm Thiên từng hứng trận bom B52…PTD viết bài thơ này trước ngày kí hiệp định Paris (27-1-73), nhưng đăng báo sau ngày đó. Vừa ở nơi bom đạn khốc liệt ra  Bắc vào cữ hội nghị Paris , Mỹ buộc phải ngưng chiến tranh phá hoại miền Bắc  và PTD trình bày rằng mình nói sau chiến tranh là về chiến tranh phá hoại ở miền Bắc , chủ yếu là với cách nhìn của người đang từ TSơn bom đạn ra Bắc mà thấy Hà nội “yên lặng “ quá. Cái yên lặng đặc biệt này là sự cảm nhận ở giữa thủ đô HN, chứ không phải là cái yên lặng tạm thời, ngắn ngủi giữa hai trận giao chiến ngoài mặt trận thường mô tả trong các hồi ức chiến tranh.. Nhưng PTD không phải là người khó tính, PTD luôn giải thích với bạn bè : qua tiếp xúc với các bạn tây đầm, với những người ở Pháp, Mỹ, mình càng thấy làm sao mà đòi hỏi họ dịch đúng như mình cảm nhận…

Nếu TMCS nhớ không nhầm, PHM cũng kể là mình chỉ dịch theo cảm nhận của một người đọc bình thường, không biết đến chi tiết bối cảnh, tác giả… ( xin lỗi nếu nhớ nhầm, vì TMCS nhiều việc “mọn” hơn cả mấy bà “con mọn”…)

PTD  cũng là một cử nhân khoa Văn tốt nghiệp trường ĐHSP hẳn không lạ gì cái “yên lặng tạm thời giữa hai trận đánh” ít nhất trong phim và tiểu thuyết Nga, nhưng PTD muốn tô đậm lên cái cảm giác của người lính chiến vừa từ chiến trường về hậu phương lớn…

Đây là v/đ cảm nhận. Cảm không giống tác giả như  câu dịch trên của PHM, và cũng rất có thể PHM lường trước nếu dịch đúng như câu của PTD sẽ là khó tiếp thu với người đọc phương tây, dù mò mẫm theo hướng nào, TMCS cũng phải thừa nhận tính sáng tạo độc đáo của PHM khi dịch câu trên – Phải kinh qua bao năm tháng mới có sự từng trải, già dặn … để đạt đến sự sáng tạo này !

Nhưng TMCS vẫn quyết một lòng chung nhịp tango với PTD…Một điệu tango rất đặc biệt trong cuộc chiến VN rất đặc biệt…TMCS đã cố ý hữu tình bám sát sạt từng ý , từng lời để “Bạn đọc muôn phương” qua lời dịch của TMCS (chắc chắn còn non vụng) thấy thơ thời chiến của lính chiến VN cũng rất đặc biệt và độc đáo cả trong mỗi cảm xúc riêng tư…Trong một đêm đặc biệt:  nửa nước còn chiến tranh , nửa nước im tiếng súng, nhà thơ lính bước từ nửa nọ sang nửa kia mà còn mang theo cảm xúc bồng bềnh…tưởng như lẫn lộn. TMCS cố tình dịch ý này, vì cho rằng đây là một trong những chỗ HAY NHẤT của nguyên tác…Đó đúng là chất thơ PTD ! 

Bởi vậy, tuy đến “mùa cam quýt, mít ổi ” cũng chưa dám mơ với tới tầm của dịch giả CCB Mỹ hay PHM, nhưng TMCS cứ xin được bướng bỉnh bảo lưu ý “sau cuôc chiến tranh” là after the war, après la guerre, 戰後平安夜 – chiến hậu bình an dạ, bởi có cảm xúc rằng:

                     Cùng ai chung điệu tăng – gô,

                  Thấy như hay nhất là câu thơ này !

Chưa gặp, chưa giao tiếp, chưa nghiên cứu …. PTD khó mà hiểu sâu thơ PTD ! TMCS xin mạo muội  nhận xét : Có nhiều bản dịch thơ PTD – kể cả của các bạn Pháp, Mỹ – rất cao cường về lời lẽ, về thi pháp và hiển nhiên là HAY hơn rất nhiều so với các bản dịch “cà cộ”, kiểu “cào cào, châu chấu” dân dã của TMCS. Hình như trong các dịch phẩm “tầm cao” ấy rất giàu chất THƠ nhưng bị thiếu – dù là chỉ chút ít – chất  PTD , so với những lời thơ dịch như vè của TMCS !!! Đôi khi suy ngang, ngẫm dọc, TMCS tự thầm nhủ: Có nhẽ gạn đi chút chất thơ PTD thì các bản dịch dù là Anh, là Pháp, là Hán…của mình cũng chỉ còn lại chất “cào cào, châu chấu” mà thôi, Giời đã sinh ra thế rồi , chả lẽ bỏ cuộc… Chỉ đành “bắt cá hai tay “: vừa noi theo các bậc già làng (trước mắt cỡ : cặp vợ chồng CCB Mỹ – Việt, PHM…), vừa cố khư khư “vũ điệu” tang-gô !

Đã có lúc TMCS suy nghĩ rất quê mùa rằng:

Phải chi câu của PTD 

Tôi với bạn tôi đi trong yên lặng

Cái yên lặng bình thường đêm sau chiến tranh

được viết rành mạch  hơn:

Tôi với bạn tôi đi trong yên lặng,

Yên lặng bình thường NHƯ đêm sau chiến tranh…

 

thì đã chả có chuyện gì để bàn vơ vẩn như TMCS, cũng chả có cớ chi để cặp vợ chồng Mỹ-Việt và dịch giả PHM phải loay hoay chỉnh lại nguyên tác, song Thơ phải có chuyện lửng lơ, thế mới là…Thơ ! Chẻ hoa tách bạch như cái giả thiết của TMCS thì chỉ là VÈ ! PTD là thi sĩ chứ đâu phải là vè sĩ !

Như vậy, từ bài Vòng trắng TMCS rút ra bài học:

Việc dịch thơ tuỳ thuộc trước hết vào cảm nhận và tiếp theo là trình độ diễn đạt sự cảm nhận ấy trong quá trinh chuyển ngữ thành thơ tiếng nước ngoài.

Qua đây, ta càng thấm thía: chuyện Hay, Dở, Đúng , Sai thường không có ranh giới chẻ hoe trong Thơ nhất là thơ dịch. Quá chỉn chu, không chút xê dịch… không nhất thiết có thể coi là dịch đúng và hay. Đôi thí dụ khập khiễng : nón lá nghiêng che, lọn tóc rối nhẹ, tà áo phai màu, thậm chí chút rỗ hoa, vết nhăn nhỏ…trong nhiều trường hợp lại là những sự nghiêng lệch, sơ ý cố tình để  tôn vinh nét đẹp vốn có, khiến nó thêm hấp dẫn với những ai sành điệu, cao tay trong khoa thẩm mỹ…Võ vẽ chút Pháp ngữ, săm soi nguyên tác, TMCS càng thấy dịch thơ Việt đã khó, mà thưởng thức được bản dịch để nhận ra hết chỗ Hay, vẻ Đẹp  lại càng muôn phần khó hơn…Thấy được thoáng ĐẸP ở chỗ cố tình “chỉnh sửa” nguyên tác của PHM mới thấy đọc thơ dịch cũng là một thú vui khá công phu…Đọc lười biếng, chểnh mảng …. chắc khó thấy được nét đẹp TRÁI KHOÁY và ĐỘC ĐÁO này !

TMCS được biết đã có vài dịch giả VN sáng tạo ra  những bản dịch “Đẹp” hơn cả nguyên tác, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là một thí dụ rõ rệt khi dịch một số bài thơ Đường…Chắc sẽ có dịp TMCS bộc bạch đôi điều…

Dịch như PHM cũng là mang một dáng Đẹp, nhưng có lẽ còn cần qua thử thách và khảo nghiệm của thời gian, với chỗ đứng của mình TMCS chỉ dám nhận xét chung chung là “ĐẸP” thôi mà chưa dám bàn gì hơn…

Với cái đầu bất kham của mình, TMCS chợt liên tưởng đến Ông đồ trong thơ Vũ Đình Liên (TMCS cũng đã liều dịch ra thơ Anh và Hán).  Các ông đồ Nho “thứ thiệt” đã hầu như thành muôn năm cũ cả rồi, các ông đồ Tây ( của văn hoá Pháp ở nước VN ta) cũng đang thưa thớt dần…TMCS có ít nhiều lo lắng… Liệu có xuất hiện một VĐLiên nào để ghi lại chút gì về lớp Ông đồ Tây học “bậc thày” như NC, TPN, PHM…những cộng tác viên kì cựu về thơ Pháp của TTTB@ !

Quay lại chuyện thơ dịch, có lẽ phải đến hàng chục lần, TMCS xin có nhời nhắc  chung rằng :

        Thơ ca vốn dĩ đa chiều

Chớ nên võ đoán nói liều đúng sai !   

                                                        X

CHUYỆN VỢ PHẠM TIẾN DUẬT VÀ CÁC BÓNG HỒNG QUANH NHÀ THƠ.

Có quá nhiều tư liệu, nhưng TMCS xin trích bài của Thạch Bảo trên TRÍ THỨC 2/3/2011 để quý vị đọc mà không mệt như thưởng thức món “văn Việt” ba bị cuả TMCS:

…Ngay từ trước khi lấy vợ, Phạm Tiến Duật đã trở thành thần tượng trong trái tim nhiều cô gái xinh đẹp thời ấy. Đến nỗi khi anh ra Hà Nội, chị Vân lại dạy trên Quảng Oai, rất nhiều cô gái ở bên cạnh anh, chăm lo cho anh từng li từng tí. Cũng rất nhiều người mai mối cho anh chỗ này chỗ kia, nhưng khi đó anh chỉ cười và nói rằng anh đã có chị. Ngày cưới, có một người đã “cảnh báo” chị rằng lấy một người đàn ông tài hoa như thế thì phải lo mà giữ chồng đi. Chị cười. Nhưng sau ngày nên vợ nên chồng, việc đầu tiên chị làm là đưa cho anh một tờ giấy trắng trống cả mặt giấy, nhưng bên dưới lại có chữ ký của chị. Chị bảo: “Anh hãy giữ tờ giấy này cẩn thận. Sau này anh muốn bỏ em để đi theo người khác, anh chỉ việc viết đơn, em đã kí sẵn vào đó. Em phải làm thế ngay bây giờ – khi em còn tỉnh táo. Chứ sau này khi đã sống với nhau rồi, em sẽ yêu anh đến nỗi không đủ can đảm để rời bỏ anh nữa”. Sau này, dù cuộc sống có lúc cơm không lành, canh không ngọt, dù những năm tháng cuối đời, cuộc hôn nhân của anh chị có nhiều dạn vỡ, dù anh có hàng trăm bóng hồng vây quanh và nổi tiếng với sự đa tình của mình thì họ vẫn chưa bao giờ dùng đến lá đơn đó như nhiều người vẫn nhầm tưởng.

… Im lặng và hi sinh

Như nhiều nhà thơ khác, Phạm Tiến Duật cũng nổi tiếng đa tình. Và chính chị Vân là người thấm thía điều đó hơn cả. Là phụ nữ, là vợ, chị không thể không ghen tuông hay không đau đớn khi biết trái tim của anh không chỉ có mỗi mình chị. Nhưng chị hiểu sự lãng mạn của những nhà thơ, hiểu tâm hồn đa cảm của họ, nên chị thông cảm cho trái tim nhiều ngăn của anh, thông cảm cho sự đa tình của anh. Chị bảo, nếu cứ cố tìm cách ngăn chặn tính cách đa tình của anh, nếu chặt đứng những bông hoa tình yêu nảy nở trong anh, thì có nghĩa là chị sẽ giết chết sự lãng mạn của anh, giết chết tâm hồn thi ca của anh. Điều đó sẽ hủy hoại ngòi bút của anh. Đó là điều chị chẳng bao giờ mong muốn. Chị biết nhiều vợ nhà thơ, và chị cũng biết nhiều người trong số đó hi sinh và chấp nhận người chồng thi sĩ đa tình của mình. Chị cũng chọn cho mình một cuộc đời hi sinh như thế.

… Những năm chiến tranh, có một câu chuyện đến bây giờ vẫn được nhiều người nhắc đến. Một đơn vị bộ đội bị địch bao vây bốn bề. Họ không có thức ăn, không có nước uống và đang phải đối mặt với cái chết cận kề. Nhưng khi tiếp viện bên ngoài đến hỏi họ cần gì trước nhất, những người lính ấy đã nói họ cần thơ của Phạm Tiến Duật. Phạm Tiến Duật đã có những năm tháng được coi như người anh hùng trong thi ca. Tài năng và sự nổi tiếng đã mang lại cho Phạm Tiến Duật nhiều cái. Một trong những cái đó là tình yêu và sự ngưỡng mộ của nhiều bóng hồng. Rất nhiều cô gái mê thơ anh, yêu sự đa cảm, lãng mạn của anh. Chính vì thế, suốt cả cuộc đời mình, Phạm Tiến Duật đã không thể dành chọn tình yêu cho riêng người vợ của mình. Anh được yêu nhiều và đáp lại những tình yêu đó cũng nhiều không kém. Là vợ anh, chị hẳn đã không ít lần nghe người này nói đi, người kia nói lại về những chuyện tình của anh ngoài cuộc sống vợ chồng. Mỗi lần nghe những chuyện đó, chị không về dằn vặt anh mà chỉ nói với anh một cách nhẹ nhàng và ý nhị: “Ai cũng có những mối quan hệ riêng. Em có nhờ một đồng nghiệp nam nào đó chở ra ngoài đường, người ta nhìn thấy cũng không nghĩ gì, không bàn tán gì. Nhưng anh chỉ cần đèo một cô gái đằng sau xe, họ sẽ đồn đại, sẽ thêu dệt, sẽ nói rằng anh có người khác ở ngoài”. Chị bảo chị là người bình thường, còn anh thì quá nổi tiếng. Đôi khi chị thương anh vì sự nổi tiếng tuy đem lại cho anh nhiều thứ, nhưng cũng khiến anh phải trả giá nhiều. Cái giá đắt nhất là có quá nhiều người theo dõi cuộc đời anh, phán xét sự đúng sai của anh trong cuộc sống – những phán xét đôi khi quá nghiêm khắc với một con người, dù đó là người nổi tiếng như Phạm Tiến Duật.

… Suốt những năm tháng sống với anh, chị đã không ít lần phải ở trong thế “mặt đối mặt” với những người phụ nữ đi qua cuộc đời anh. Có lần, chị biết anh có quen biết một người phụ nữ ở trong miền Nam. Chị không ghen tuông, cũng không làm ầm ĩ mọi chuyện. Chị viết thư cho người phụ nữ đó: “Tôi và cô, cả hai hãy cùng làm những việc để cho anh Duật có thể hạnh phúc”. Sau chuyện đó, người phụ nữ đó không còn liên lạc với Phạm Tiến Duật nữa, vì cảm phục cách cư xử của chị. Không hiểu bằng cách nào đó, Phạm Tiến Duật cũng biết được câu chuyện đó. Anh đi nói với một số bạn bè: “Bà Vân nhà tôi ghen “cao cấp” lắm”.

… Có lần, anh yêu một cô gái trẻ chưa chồng. Cô gái ấy cũng yêu anh say đắm. Họ công khai đến nỗi anh còn mời cô gái đó đi nghe nhạc mà không hề giấu diếm chị. Chị biết chuyện, chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở anh: “Cô ấy chưa có chồng. Anh làm gì thì làm, đừng khiến cuộc đời người ta sau này dang dở vì anh”. Vì yêu Phạm Tiến Duật quá, nên có lần cô gái đó đã đến nhà gặp chị để nói chuyện “phải trái” với chị. Không hiểu chị nói gì với cô gái trẻ đó, nhưng đến hết buổi nói chuyện, cô gái kia chào chị ra về và nói: “Sau này em đến đây chơi là đến chơi với chị, không phải đến chơi với anh Duật”. Chị bảo cô gái ấy đã rời bỏ Phạm Tiến Duật ngay sau đó. Nhưng chị và cô ta đến bây giờ vẫn là những người chị em thân thiết của nhau, cùng nhau chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống.

… Những năm thời kinh tế thị trường, Phạm Tiến Duật chông chênh trong cuộc sống. Thời điểm chị Vân nhận ra điều đó ở chồng mình, chị đã bảo anh hãy bỏ qua những sân siu, muộn phiền của đời người để trở về nhà sống cuộc sống an nhàn, yên phận. Chị đã đứng ra nhận gánh vác phần gánh nặng trong gia đình, từ chuyện nuôi nấng con cái đến chuyện cơm áo gạo tiền. Nhưng anh đã không chọn cuộc sống đó. Anh chọn cách lấp đầy chỗ trống trong cuộc đời mình bằng cách đến với những người đàn bà khác, tìm cách lấp đầy lỗ hổng thi ca bằng những cuộc tình ngoài vợ ngoài chồng. Chị biết hết, nhưng không trách mắng anh. Vì chị hiểu anh yếu đuối đến nhường nào, hiểu rằng nếu không tìm cách lấp đầy những hố sau trong tâm hồn mình, hẳn anh sẽ tìm ra những cách khác để hủy hoại cuộc đời mình. Chị muốn bao dung cho anh, vị tha với anh, để anh luôn biết rằng anh sẽ luôn có một nơi chốn quay về với chị và các con và anh sẽ luôn có chị ủng hộ anh dù mọi chuyện có như thế nào đi chăng nữa. Chị đã có thể ghen tuông, dằn vặt anh như những người vợ bình thường khác. Nhưng chị lại chọn cách im lặng để chờ anh nhận ra tất cả. Chị im lặng bởi anh là bố của các con chị. Chị không muốn làm những việc khiến những người con của chị tổn thương.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật là người đàn ông yếu đuối, đa cảm. Sau mỗi cuộc tình ngoài xã hội, sau mỗi sai lầm trong cuộc sống, anh lại trở về nhà, đứng trước mặt vợ con mình và khóc. Có những lần anh vừa khóc vừa nói với con trai: “Bố có lỗi với mẹ con. Mẹ Vân con là người phụ nữ tuyệt vời”. Anh lại sống trong ngôi nhà của mình, lại ăn bữa cơm gia đình với mẹ con chị, lại đi đi lại lại trong nhà như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Nhưng chỉ được một thời gian, anh lại thấy trống vắng, lại thấy những hố sâu trong tâm hồn và lại cố lấp đầy những hố sâu đó một cách tuyệt vọng, bằng việc đi kiếm tìm những cuộc tình mới. Những ngày tháng cuối đời khi anh lâm bệnh nặng cũng là lúc chị bị gẫy chân phải nằm nhà. Khi chị vào được bệnh viện chăm sóc anh, anh đã chỉ còn một chút sức tàn lực kiệt. Bạn bè thương anh, đến thăm anh đều mang theo quà cáp, vật chất để giúp đỡ anh, nhưng chị dặn các con từ chối nhận tất cả những sự giúp đỡ đó. Chị rút những đồng tiền tiết kiệm không nhiều nhặn của mình để lo chi phí cho anh những ngày bệnh tật. Sau ngày anh mất, tuyển tập Phạm Tiến Duật được mẹ con chị đem tặng cho những người thân chứ tuyệt đối không bán. Chị đã làm nhiều thứ trong cuộc đời mình để chứng tỏ tình yêu mà chị dành cho anh. Và hành động đó chỉ là một điều nhỏ trong tất cả những điều chị đã làm và đã hi sinh vì anh. Có người phụ nữ đã từng lên báo để nói về tình yêu của họ với anh, đã từng nhận anh là chồng một cách công khai. Nhưng chị Vân lại chọn cách im lặng trước những thông tin đó, vì chị biết, cuối cùng chị vẫn là vợ anh, vẫn là mẹ của các con anh, vẫn là người con dâu được cả gia đình anh thừa nhận và yêu quý. Cuối cùng, sau khi anh ra đi, chị và các con vẫn là những người thân yêu nhất, quan trọng nhất trong cuộc đời anh. Là vợ anh, chị đã chọn cách yêu anh bằng sự im lặng của mình.

                                                 X

TTTB@ kì này sẽ giới thiệu bạn đọc “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” cùng các bản dịch.

Các phần khác như thường lệ.

Kính thỉnh nhã giám

   TTTB@-TMCS

Advertisements
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

VÒNG TRẮNG Phạm Tiến Duật

Bl(458) TTTB@ No158

 
 

DẠO ĐẦU TTTB@ No158 

                  

                     TMCS

LAN MAN – NGỎ CÙNG BẠN ĐỌC.

PHẠM TIẾN DUẬT- MỐI TÌNH THƠ.

NGỎ CÙNG BẠN ĐỌC

Trước hết,  xin phép quý vị nhắc lại câu của nhà văn, nhà thơ kiêm nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Đình Thi đã được  dịch giả lão thành TPN (xem ảnh bên dưới) nhiều lần quan tâm nhắc nhở TMCS: Hạnh phúc lớn nhất của người viết là có người đọc.

Đối với TMCS, lời nói đó mang nhiều ý nghĩa rất sâu sắc, đồng thời cũng là một bài học rất hay về trách nhiệm  và bổn phận của người cầm bút hay gõ phím dù chuyên nghiệp hay không ( gõ trên computeur hoặc laptop chứ không phải trên piano ! ). Cầm bút hay gõ phím thì vẫn đều là người viết (writer) cả…Mấy năm nay, TMCS có cảm giác : xét riêng về tư thế và động tác  thì hình như mình đã có chút  mẽ ngoài  của một thợ đánh máy chuyên nghiệp ( un dactylo – a typist ), riêng về mặt hình thức, điệu bộ chắc  là đã có khá nhiều nét để  mấy ông, bà đạo diễn có thể dùng làm mẫu hướng dẫn các diễn viên mới vào nghề, tập sự đóng  vai một gã viết nghiệp dư trong phim xi-nê-ma hoặc trên sân khấu kịch nói , vì ngày nảo ngày nào TMCS cũng gõ, gõ miết, gõ đều đặn, gõ say sưa, gõ mê mệt… mà mãi chưa hết những điều muốn gõ…thì ắt hẳn  đã “biến tướng” – tức là đã thay đổi tướng mạo !!! … Nhưng tất cả mới chỉ là “biến đổi” cái bề ngoài, cái vỏ, tương đương như hoá trang – nói một cách khác – là đã vô tình mô phỏng được phần nào cái  nghĩa ĐEN và nghĩa  HẸP của từ Writer = The man, who writes ,  còn v/đ chính là phải viết ra được nội dung gì cho xứng với từ Writer lại là chuyện “một trời một vực”, cực khó, TMCS chưa dám màng tới, dù cho có gắn thêm  tính từ nghiệp dư (non-professional) !  Không phải cứ ai cầm bút hay gõ phím là  thành Writer- người viết cả, mà phải viết thế nào để có người ĐỌC và quan trọng hơn: nội dung viết ra PHẢI CÓ ÍCH cho người ĐỌC. Đấy mới là MẤU CHỐT, CÔT LÕI của v/đ ! Câu của NĐT mà TPN nhắc TMCS chắc chỉ thực sự đúng với NGƯỜI VIẾT  đã đạt chuẩn “có ích cho người đọc”.

Ôi, chuyện lớn quá, chả dám lạm bàn…TMCS xin rút lui vào cái vỏ ốc nho nhỏ, thủ thỉ thù thì đôi chuỵện bé tí xíu tì xiu…loanh quanh căn lều cỏ đìu hiu : TTTB@ tí hon – TMCS hằng yêu quý, chăm bẵm “NÓ” như một bông hoa, hơn thế nữa, như một đứa con  mình rứt ruột sinh ra !

Với đôi vai còm của tuổi tác, lại là định viên “cưng” duy nhất của TTTB@, một mình TMCS gồng mình ”gánh” cả ba cái “thúng” : Dạo đầu, Thơ dịch và Phụ trương. Có lúc cũng ê vai, mỏi gối…nhưng vẫn còn muốn nuôi hi vọng một ngày nào đó mon men , chạm được đến ranh giới  “Hạnh phúc”  của người gõ phím có ích cho người đọc, nên TMCS cứ kẽo cà kẽo kẹt, lẽo đẽo “gồng gồng – gánh gánh” hoài…Hướng đi  và đích đến thì đều đẹp đẽ, nhưng liệu TMCS còn đi được bao xa và bao lâu nữa…để hòng đạt đến, – Thôi thì đành chép miệng : cứ đi…may ra “khắc đi khắc đến” *. 

( Khắc đi khắc đến * : là cách nói rất quen thuộc của các pì noọng – chị em người Tày – khi chỉ đường cho TMCS hồi ở đại ngàn chiến khu Việt bắc, có ngụ ý là cứ đi theo chỉ dẫn rồi ắt sẽ đến. Tuy đã quá quen mấy con đường rừng ấy rồi, TMCS vẫn thích hỏi pì noọng mỗi khi chợt gặp, để phá tan cái im lặng của rừng già. Dù đường còn bao xa, các pì noọng xinh tươi hơn hoa rừng lần nào gặp  cũng khúc khích động viên TMCS: “ Cái cán bộ cứ cố đi một  thôi nữa , khắc đi khắc đến…”…Ôi ! đã hơn nửa thế kỉ trôi qua, kể từ cái thời ở rừng, những chuỗi cười giòn tan của pì noọng kèm theo cụm từ  hồn nhiên, duyên dáng “khắc đi khắc đến” còn lưu giữ tận đáy lòng, trong sâu thẳm tâm hồn TMCS suốt từ thời ấy đến nay. Biết bao là biến động trong cuộc sống, nhưng lời nói, tiếng cười, hình ảnh con người xưa, cánh rừng cũ…tất thảy vẫn nguyên vẹn trong tâm tưởng TMCS và quý giá hơn muôn vàn kho báu trên thế gian này )

Không biết TMCS đã ra sao, nếu không được đại huynh TPN nhắc nhở cho câu bất  hủ nêu trên   của NĐT – có rất  nhiều khả năng là đã bỏ cuộc …

GÕ GÌ ? tức là viết gì ? mục đích gì? viết thế nào ?

TMCS vốn không được học hành bài bản về văn chương, thơ phú. Từ cấp ba trở xuống, TMCS học đều đều các môn, chả sở trường môn nào. Từ cấp “bốn” và “hậu” cấp ấy trở đi là TMCS lang thang “du” học và bổ túc, tu nghiệp chuyên ngành KHKT, cả lí thuyết và thực hành, nhưng vẫn hoàn toàn vô duyên với nghiệp  văn chương…Hình như đi đâu, TMCS cũng thích “la cà” xi-nê, hội hoạ   , nhưng  ở LX cũ và Pháp thì dường như TMCS đã có thời gian trong lòng “chớm nở” tình yêu Nàng thơ Nga và Nàng thơ Pháp…Ở Anh thì đặc biệt chỉ mê bóng đá, xin được cái Thẻ đi công tác trên ĐS của BR (British Raiways), cuối tuần TMCS “lạm dụng” nó, thoải mái vi vu nhảy tàu đi tất cả  nơi nào có những “trận cầu đinh” nẩy lửa của bóng đá ngoại hạng Anh, xem tất tần tật đến tan cuộc mới cuống quít tìm nhà trọ gần ga, cốt ghé gẩm “măm”,”ngủ” qua loa, cho kịp “nhảy tàu” của “Hoả xa Anh quốc”, để lộn về chuẩn bị bài vở  tuần sau… Vì ham bóng đá thế, nên chả học thêm được tí teo nào về văn thơ Anh! Mãi khi về “hiu” mới đua đòi chúng bạn làm “blog”, viết lung tung rồi quay ra dịch thơ…mới đầu dịch xuôi các thứ thơ ra thơ Việt, rồi dịch ngược từ thơ Việt ra thơ các thứ…trong đó có dịch ra thơ Anh – không phải TMCS ”giỏi” món này, mà nhờ xông xáo “khắp hang cùng ngõ hẻm”, chui cả xuống đường hầm đáy biển Manche, nên có chút “lưng vốn” văn nói “ lém lỉnh- tỉnh bơ ” cộng vào cái vốn hờ “L’Anglais vivant”- Carpentier – Fialip , “L’Anglais sans peine”- Méthode Assimil, đã mốc thếch từ hồi học cấp 2, và 3… 

Sau này sang Liên bang Chuột túi  ở với con cháu, tiếp xúc với các thày cô tây đầm dạy chúng môn Văn, TMCS mới có dịp trao đổi hỏi họ về số khá nhiều bài thơ Việt mình dịch ra “thơ” Ăng- lê theo cách đem Anh ngữ công trường, đường phố hoà trộn vào Anh ngữ Giáo khoa thư cổ điển… Điều bất ngờ cực lớn đã xảy ra: Mọi người hoan nghênh nhiệt liệt, vì nội dung và hình thức thơ Việt dịch theo kiểu này lạ hoắc, cả những vị Cử nhân, trên Cử nhân Văn khoa, đã kinh qua hàng chục  năm bạc đầu đứng trên bục giảng , họ hầu như chưa một lần biết đến, mà chỉ có ấn tượng khá sâu sắc về Vietnam War – Chiến tranh Việt nam với hậu quả hàng đoàn Thuyền nhân (boat-men) lếch thếch, nhếch nhác đổ bộ lên các vùng duyên hải Xứ Chuột túi…. 

Chuyện đến tai thày Hiệu phó Tây…Dài dòng văn tự lắm…Họ không  “ ứng xử” với TMCS như một nhà thơ nổi tiếng từng dắt “Thần đồng Thơ” một thời làm đệ tử đi  “diễn thơ” khắp miền bắc nước ta mà làm theo một “phương pháp luận” rất Khoa học  và Nhân văn: Thày Hiệu phó và mấy thày cô dạy Văn đã “mượn” một số thơ dịch của TMCS, cùng nhau nghiên cứu kĩ lưỡng, rồi gặp gỡ, trò chuyện , khảo sát, thăm dò… thấy TMCS “lém lỉnh” có chút vốn Ăng-lê cũ kĩ nhưng “khớ” dày, cổ kim hỗn độn, tuy là người ham chơi nhưng lại rất chăm chỉ học hành, biết nghe  điều hay lẽ phải, liền nhiệt tình hướng dẫn  cho TMCS đọc thơ Ăng-lê thật đúng kiểu để tránh “khổ đọc” khi dịch…Từ đó mỗi lần dịch xong một bài mới, TMCS đều chép và in ra gửi các thày cô, có khi phấn khởi quá không kìm được, còn Phone để “xin ý kiến” họ, cả  vào lúc đêm hôm khuya khoắt. Tình cảm mỗi ngày một gắn bó, thân thiết…TMCS và họ trở thành TRI ÂM TRI KỈ  với nhau lúc nào không biết. Khi thấy TMCS  nhanh chóng tiến bộ rõ rệt, thày Hiệu phó tổ chức một số buổi toạ đàm về thơ Việt do TMCS dịch, thày thân chinh thuyết trình và “mời” TMCS đọc theo cách các thày cô đã hướng dẫn… . Sau nhiều buổi như vậy, cử toạ Tây Tàu gồm nhiều giáo viên và phụ huynh học sinh cùng một số văn nghệ sĩ địa phương, tuy chả biết nguyên tác thế nào, nhưng bỗng chốc rồi lần lượt, dần dà…  bị cuốn hút bởi rất nhiều bài thơ Việt ” mê li ” từ phong trào Thơ mới hồi đầu thế kỉ 20, trải qua hai cuộc chiến tranh đến những năm hậu chiến… thuộc đủ mọi loại đề tài, nhưng có lẽ đa số là thơ Yêu, thơ Tình và Thất tình… 

Năm ngoál, dịch giả Trịnh Phúc Nguyên cũng tập hợp thơ dịch của mình và TMCS chọn lọc, in ra một tập thơ tam ngữ gửi tặng bạn bè trong nước. Sao đời TMCS lại có những phút “thăng hoa”  đến thế, thảo nào ai cũng khen là YÊU ĐỜI & ĐỜI YÊU kể cả các bạn nước ngoài sơ ngộ lần đầu…

 
Xin mở ngoặc lan man: giới thiệu ảnh  dịch giả TPN và TMCS  trong cuốn sách Thơ Việt- Anh- Pháp do dịch giả TPN tự lo mọi chuyện để làm kỉ niệm Tình Thơ, đồng thời làm quà tặng bạn đọc hồi  đầu năm ngoái. Dưới đó là bài thơ TMCS viết đa tạ TPN đã dịch một bài thơ của TMCS ra thơ Pháp đăng trang đầu cuốn sách trên và cũng đã được “triển lãm” thơ ở một trường THPT sở tại và “lên” bưu thiếp ở đây với minh hoạ hình đại bàng tung cánh.
Inline image
Inline image
Ảnh trong cuốn Thơ Việt Anh Pháp : TMCS (trái) và Trịnh Phúc Nguyên ( mặc quân phục).
 

 Bài thơ  CHUNG NHAU:

 

CHUNG NHAU

(TMCS gửi TPN)

Tuyệt vời bác dịch thơ tôi

Đại bàng chắp cánh tung trời cùng bay.

Ô! Tôi đang tỉnh hay say?

Đang đứng dưới đất ? đang bay lưng trời ?

Đâu thơ bác ? Đâu thơ tôi ?

Chỉ là một…của một đôi trên Đời…!

IT IS OURS

(To my dear TPN – by TMCS)

With your wonderful translation from my poem,

One more Eagle takes its flight to the high sky!

Oh ! Am I awake ? Am I tipsy ?

Am I standing on earth or flying in the sky ?

Which verse is yours ? Which one is mine ?

It is only one…one of a couple in the world !

Thày Hiệu phó và các thày cô khác, cả thày cô dạy các môn chả liên quan gì đến thơ như Thể dục, thể thao, Sinh học, Địa lí…cũng thống nhất với nhau rằng : 44 nhà thơ trong tập Thi nhân VN  ( do Hoài Thanh, Hoài Chân viết) mà TMCS đã giới thiệu rất sơ lược Thơ của họ – mặc dù còn nhiều hạn chế về rào cản ngôn ngữ – là 44 vì sao sáng  không riêng trên bàu trời thơ Việt nam…

Lắm lúc TMCS cứ nghĩ lẩm cẩm : tại sao các bậc thày về ngoại ngữ và văn chương ở ta, không ai dịch thơ trong cuốn này nhỉ, suy rộng ra là còn nhiều bài thơ hay thời KC chống  Pháp, thời chống Mỹ cứu nước và cả tiền chiến, hậu chiến nữa…chưa mấy ai dịch. Phải chăng có sự ngăn cách quá lớn giữa  THƠ và NGOẠI NGỮ. Người hay thơ thì xa lánh ngoại ngữ và người tài ngoại ngữ thì ngoảnh mặt với Thơ…Bao giờ hai loại NHÀ  này mới bắt tay nhau ??? TMCS chỉ còn nước ngửa mặt hỏi  ông GIỜI : sao lại thế , ÔNG  GIỜI  ơi là ÔNG GIỜI ???  Đơn lẻ từng người, lại cô đơn, yếu sức…như TMCS làm sao đảm đương nổi công việc của bà Nữ Oa đội đá vá “giời” !!!

 
…..
 

Và đến nay, blog năm xưa đã “nghiễm nhiên”, đường đường trở thành TTTB@, mới đầu là tuần san, sau có thêm phần Dạo đầu và Phụ trương, khối lượng nhiều quá, kèm theo công việc giao lưu email với bạn đọc rất tốn kém thời gian, nên phải chuyển thành bán nguyệt san. 

 
 

Từ vài chục, đến vài trăm, vài ngàn, và con số người truy cập TTTB@ vẫn còn đang tăng, v.v…con số to hay nhỏ vẫn chỉ là con số câm lặng, im thít như thịt nấu đông. TMCS tập trung kiên nhẫn nghiền ngẫm nội dung các phản hồi…cả thuận chiều lẫn trái chiều…để lắng nghe các con số nói !

Trái chiều…nhưng …ít nhiều cũng cái lí của sự trái chiều…

Có nhiều người nước ngoài…người Việt hải ngoại…người Việt trong nước…họ tình cờ “lạc” vào “TTTB@“ rồi sinh nghiện, sinh “ghiền”, lúc  “yêu”, lúc “ghét”, khi  “giận”, khi “thương”…

Họ yêu, họ ghét,.. họ giận, họ thương:

                  …mấy trang dở dở ương ương,

              Dạo đầu, Thơ dịch, Phụ trương mỗi kì ! 

Lại nhiều phen, nhiều người lẫn lộn xen kẽ: nửa “yêu” nửa “ghét”. Đây là cảm giác chung chung của khá nhiều bạn đọc trong bảng thống kê, sắp xếp của TMCS.

Thú vị nhất, ấy là khi họ  viết :

Đọc cái Dạo đầu tràng giang đại hải, liên miên lan man của TTTB@…đa số thoạt đầu đều “ớn tận mang tai và tức anh ách”, vì nó dài lê thê, nhẩn nha, nhấn nhá, khề khà, kề cà như các ông, bà già kể chuyện, chả biết nội dung là gì, hướng vào đâu… nhưng không bỏ được vì mỗi khi “Giời đi vắng”, của đáng tội  “nó” cũng có đôi chỗ khá lí thú,   và nhất là có nhiều thi thoại, giai thoại liên quan đến tác giả , tác phẩm, hay ho, hiếm gặp …có thể coi như những tư liệu hiếm có, bây giờ ít ai còn nhắc tới …. 

Thú vị nữa, còn là sự  biện bạch rất Khốt -ta-bít về cái CẢM chung quanh các bài thơ nguyên tác hoặc thơ dịch trên TTTB@, xem ra lắm khi còn chưa được hay ho, thậm chí nhiều khi vô lí “đùng đùng”, nhưng đôi lúc lại khá có tình có lí…rất mềm mỏng và thật thà theo cốt cách “phương Đông”: rành mạch và công minh, vô tư và khiêm tốn, khác hẳn mấy chuyên san nước ngoài, lâu lâu lại bỗng dưng có vụ bút chiến kiểu “tây” , thường hay có chuyện ông này chê bà nọ, chưa đâu vào đâu đã phủ đầu, vỗ mặt đưa “phăng” ra cái KL “thánh tướng” rất chủ quan : Ông / bà sai toét rồi ! Bình luận mà cứ như ngồi lên đầu, lên cổ người khác mà chiếm thế “thượng phong” để sổ toẹt : Chưa đúng! Không đúng! Sai hoàn toàn ! … phải thế này, phải thế nọ…Thấy ai trái ý mình là chỉ lăm le, rêu rao, tìm đồng minh chứng kiến mình hạ “đo ván” (knock-out) đối phương ! Ở ta, cụ Phan Khôi xưa xếp những ai viết bài bình luận văn chương, học thuật  kiểu này vào giới “học phiệt” – 學閥 – tức là giới có thế lực, chuyên lũng đoạn, làm vương làm tướng trong lãnh vực học thuật ! TMCS thì coi “khinh” thế lực này, nó chả khác gì các thứ  “ tặc” (lâm tặc, tin tặc, sa tặc, “cẩu tặc”…), chắc gọi họ là  “học tặc”, “văn tặc”, “thi tặc” cũng chẳng oan…TMCS đôi khi còn gặp trên một số ấn phẩm phương tây  một từ tương đương  với “học phiệt” thời cụ Phan Khôi là: Scholar-autocrat với nghĩa là S-a: who wants to monopolize scholar-lines, to suppress other’s ideas for self-advancement-

“Học phiệt”: kẻ muốn độc quyền về học thuật, trấn áp ý tưởng người khác để tự mình thăng tiến ). 

Có lẽ do sự tiến hoá của xã hội loài người, nền dân chủ đã phát triển, nên từ này ngay nay cũng hiếm thấy dùng…

Lại còn chuyện “tâm sự” thân mật “lục vấn” nhau đến mức này nữa :

TMCS đang viết thể loại gì đấy ? Dài là một chuyện, nhưng chả hiểu là theo thể loại, kiểu cách  gì, vì món nào cũng có phần cả : hồi tưởng chuyện xưa, chú giải  điển tích đời nảo đời nao, tiểu luận, phiếm đàm, kí truyện, phóng sự, tự truyện, tuỳ bút… lẫn lộn linh tinh cứ như một món “lẩu”…Tất tần tật, mọi thể loại, mọi nội dung có khi trong cùng một bài viết, một đoạn văn của TMCS, đều được cho cả vào một nồi “lẩu” “sôi sùng sục trên bếp lò đang cháy đỏ rực”…Tóm lại, bạn đọc đọc mãi mà chưa hiểu TMCS viết thể loại gì , đây là một câu hỏi mà chính TMCS cũng khoanh tay, chịu cứng, không cụ cựa gì được !

ÔI ! Ai hỏi câu “hóc hiểm” này là đã đưa TMCS vào ngõ cụt !  vô phương lí giải…

Gọi là gì ư…chắc chắn chả phải tuỳ bút, tuỳ hứng. Vì có bao giờ viết bằng bút như thời xưa đâu ! cứ đến hẹn là phải có bài  thì đâu phải là tuỳ hứng nữa… Càng không phải là “tuỳ tiện” vì những gì viết ra là TMCS phải đắn đo lắm đấy chứ…

Vậy gọi là gì ???. – Xin giữ lễ khoanh tay mà rằng :  “Tuỳ bạn đọc “ – 

Gọi là chi cũng ĐÚNG CẢ ! miễn là nội dung viết ra ít nhiều hữu ích…  

(TMCS nói chung thường xuyên là “CỐ NGOAN” – song khó tránh khỏi có lúc “NGOAN CỐ” trong những chuyện  vô thưởng vô phạt, không có phương hại tới ai cả, mong quý vị thông cảm, đại xá…)

Ngoan cố: 頑 固 – stubborn – obstiné. Cố ngoan: Cố gắng để trở thành ngoan ngoãn.

Nhân đây cũng xin kể rằng:

Trong rất rất nhiều phản hồi TMCS nhận được, cá biệt có phản hồi rất DỊ THƯỜNG. Vị này viết thẳng cảm nhận của mình:

Tôi cảm nhận là TMCS có chính kiến riêng, cố ý không nêu trực diện, nhưng tôi biết là hoàn toàn trái ngược với tôi. Chúng ta đã và vẫn đang ở hai phía khác nhau hoàn toàn, tương lai chắc cũng không thay đổi được…nhưng không hiểu sao, tôi vẫn CẢM thấy trong các tác phẩm, tác giả TMCS thường giới thiệu ròng rã mấy năm nay có hàm chứa điều gì đó rất dân tộc, rất thuần Việt, có nhiều khi đạt mức lí tưởng về thẩm mỹ nghệ thuật, tinh hoa của văn thơ nước Việt mà không một người VN nào không say mê , yêu thích… Dù ai đứng về phía nào, cũng cứ phải yêu đất nước và dân tộc mình đã, đó là lí do vì sao tôi cứ phải đọc TTTB @ mãi ! chẳng  bỏ được…

Có lẽ khỏi phải dài lời thêm:  TMCS đã xác định từ đầu TTTB@ không phải là công cụ để thuyết phục, biện hộ, truyền bá một hệ tư tưởng, một chính kiến, một tôn giáo, một tín ngưỡng… nào mà chỉ muốn đưa Thơ Việt thông qua các bản dịch của TMCS và các cộng tác viên uy tín giúp đỡ… ra năm châu bốn biển, để bè bạn quốc tê , người Việt hải ngoại biết về thơ Việt, mà Thơ Việt là đại diện khách quan cho non sông , đất nước và con người Việt nam. Yêu thơ Việt và nước Việt, dân Việt chỉ là MỘT TÌNH YÊU !

Đúng là TMCS đang làm dâu “ngàn “ họ. Gần đây lại rộ lên yêu cầu Đố Vui nên cải tiến, thêm phần đố vui tiếng Anh , tiếng Hán… Cần sắp xếp  “top ten” riêng, vì người Pháp (Cộng đồng Pháp ngữ nói chung) lợi quá, kì nào cũng ở thế “thượng phong”,… không để lộ Réponse…sau khi vừa công bố câu đố….Chỉ nên công bố bảng  xếp  hạng theo từng khối Vip, tuỳ nhóm ngôn ngữ, tuỳ từng múi giờ, vì tuy TTTB@ tự động post câu đố cùng lúc nhưng các nhóm bạn đọc lại sinh sống ở các múi giờ khác nhau, nên có người đang ngủ, lại có người đang thức, bởi vậy sẽ không công bằng khi xếp thứ tự chung trên cùng BXH (bảng xếp hạng) ! Quả thật là TTTB@ không thể liệu trước mọi bề … …TTTB@ đã giao TMCS nghiên cứu g/q chuyện này. 

Trước mắt chỉ có thể than rằng:

          Thân này ví có ngàn tay,

     Chắc là mọi việc xong ngay, tức thì !

Nói thế, chứ TTB@ vẫn đang cố , nhưng chưa dám hứa hẹn  điều chi ! TMCS định đưa ra một dạng Đố vui thăm dò nhắm “triệt tiêu” lợi thế riêng của nhóm Pháp ngữ, mời quý vị đón xem trong Phụ trương kì này !

Thôi, mục Lan man kì này xin dừng lại đây để “trả nợ” kì trước về chuyện tình PTD…và xin tóm tắt thay lời kết, khép lại bài gõ “tràng giang đại hải” trên:  
       
        Dù ai nói ngả nói nghiêng, 
  Tương Mai cư sĩ như kiềng ba chân: 
       Vẫn khề khà giữ giọng văn, 
 Kiên trì Thơ dịch khó khăn không sờn.
 
Tuy không phải là “lưỡng cư”, TMCS xin phép đôi lúc được ngẫu hứng giữ lại chút “tính cá” (cá tính !) để góp vui hầu quý vị, chỉ là chuyện “gõ” thoải mái không phải tỉa tót câu chữ, sắp xếp chi cả, dài hay ngắn, gọn gàng hay lủng củng…đều bất thành v/đ, có thế thôi mà !

                                                                                       X

PHẠM TIẾN DUẬT – MỐI TÌNH THƠ

May quá TMCS đang vò đầu bứt tóc, tìm cách “vượt “ qua khó khăn về khả năng văn chương của bản thân để kể chuyện bằng lời văn Việt gọn ghẽ nhất, bỗng sực nhớ ra hình như trên mạng có ai đó, cũng kể chuyện này chỉ vênh váo chút đỉnh so với những gì khi xưa TMCS từng nghe hóng  nghe hớt…

Hú vía , đây rồi ! Bạn đọc cũng đỡ “bị” một phen ớn mệt bởi món văn kể chuyện “dây cà dây muống “ của TMCS…

Nhời kể là của “đương sự” , ảnh chụp và văn ghi là của người khác – TMCS không “nhúng” tay vào, chỉ đánh dấu chữ đỏ để quý vị lưu ý  tới nhân chứng, vật chứng và “mật mã “ (chữ ngải đỏ) trong bài thơ mà mấy chục năm sau, khi gặp lại nhau, đấng nam nhi PTD còn rơi nước mắt ướt cả bài thơ và mối tình thuở ấy, nơi đại ngàn Trường sơn…

Xin quý vị “xua đi” – xua tan cũng được, thậm chí càng tốt – mối nghi hoặc : TMCS đã thêm gia vị vào chuyện tình thời chiến để thi vị hoá cuộc đời  chiến sĩ trong cuộc chiến đãu vĩ đại của dân tộc VN ta !

Bản thân tất cả giai đoạn lịch sử này đã và sẽ mãi mãi rực rỡ – huy hoàng rồi, chuyện tình thời ấy cũng vậy,  đâu cần THI VỊ hoá nữa, mà có thành tâm THI VỊ hoá thì có sao đâu…

Chuyện kể rằng:

MỐI TÌNH THƠ GIỮA LỆ NGẢI VÀ     PHẠM TIẾN DUẬT

 

GiadinhNet – Cuối năm 1971, khi ý định vào Tây Nguyên để phục vụ anh em chiến sỹ trong đó không thành do có quá nhiều thành viên trong đoàn bị ốm và sốt rét. Đoàn văn công dã chiến buộc phải quay ra Bộ Tư lệnh tiền phương ở Savanakhet (Lào) để chữa bệnh và đón Tết.

Người hát quan họ trên đỉnh Trường Sơn 

 
 
 
Đó cũng là cái Tết xa nhà đầu tiên của bà Lệ Ngải khi bà vừa bước vào tuổi 19. Cũng trong dịp này, một mối tình thơ ngắn ngủi nhưng đầy lãng mạn giữa bà với nhà thơ Phạm Tiến Duật đã diễn ra. Cho đến bây giờ bài thơ của nhà thơ Phạm Tiến Duật làm tặng bà sau 37 năm vẫn được bà thuộc làu làu từng câu chữ.
Dù đã về hưu nhưng bà Lệ Ngải vẫn là một “cây” quan họ có tiếng ở Bắc Ninh.
Đón giao thừa dưới lòng đất

Lần đầu tiên, sau những tháng ngày vật lộn trên khắp các chiến trường, đoàn văn công dã chiến được ưu tiên về ăn Tết cùng cán bộ và chiến sỹ Bộ Tư lệnh tiền phương ở Savanakhet (Lào). Không khí ấm cúng, gần gũi của tình quân dân đã giúp mọi người trong đoàn nhanh chóng lấy lại cân bằng để đón một cái Tết thật ý nghĩa. 

Bà Ngải kể, toàn Bộ Tư lệnh tiền phương được đón Tết trong một hội trường cực kỳ rộng lớn. Hội trường được thiết kế chìm dưới lòng một quả núi để giữ an toàn, có sức chứa tới hàng mấy trăm người. Bên trong hầm đèn nêông, đèn màu được lắp đặt đầy đủ, sáng rực như Nhà hát lớn Hà Nội thời bấy giờ. Ngoài ra, còn có sân khấu, phông màn và hệ thống âm thanh rất hiện đại. Cùng ăn Tết lúc đó có rất nhiều anh em chiến sỹ thuộc các tiểu, trung đoàn và một số tướng lĩnh. Đặc biệt là có tướng Đồng Sỹ Nguyên – lúc bấy giờ là Tư lệnh Đoàn 559.

Mặc dù không thật đầy đủ như khi đón Tết ở miền Bắc nhưng các cán bộ, chiến sỹ đã cố gắng hết sức có được bánh chưng, dưa hành, thịt kho tàu, mứt, bánh qui, kẹo, trà… để anh em được đón một cái Tết thật đầy đủ như ở quê nhà. Toàn bộ những thực phẩm này đã được các đoàn xe bí mật chở vào từ cách đó hơn một tháng. Càng nhìn thấy thức ăn, bà Ngải lại càng thương anh em nơi các chiến trường ở xa. Nhớ lại những lúc cùng anh em sẻ chung một bát cơm nguội, húp chung tô canh đắng nấu bằng nước lã với măng rừng mà bà chảy nước mắt.

Thấy thế, tướng Đồng Sỹ Nguyên vội vàng giới thiệu bà cùng nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng có mặt trong hội trường hôm đó lên đọc thơ và hát quan họ cho anh em chiến sỹ cùng nghe. 

“Lúc đó tôi đang đứng lẳng lặng bên một góc phòng thì nghe thấy tướng Đồng Sỹ Nguyên giới thiệu anh Phạm Tiến Duật  và tôi lên sân khấu. Ông bảo: Đón Tết với chúng ta hôm nay ngoài nhà thơ còn có cả một số anh chị em văn công của miền Bắc, để thay đổi không khí xin mời các đồng chí bước lên sân khấu để thể hiện một vài tiết mục cho không khí xuân thêm vui vẻ… Tôi lúc đó vì quá bất ngờ nên lau vội nước mắt, chân bước lên sân khấu mà mặt thì đỏ nhừ. Một số chiến sỹ thấy thế đứng ở dưới cứ trêu “con gái quan họ có khác, má hồng môi thắm duyên ơi là duyên”!” – bà Ngải nhớ lại.

Hôm đó, lần đầu tiên bà gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật – người mà bà từng thần tượng qua những trang thơ đẫm chất lính khi bà còn học cấp III. Sau khi đọc xong một số bài thơ, nhà thơ Phạm Tiến Duật nhìn bà nở một nụ cười đầy ẩn ý rồi lẳng lặng bước xuống sân khấu, còn bà với người bạn đồng nghiệp lại tiếp tục với những khúc dân ca quan họ quen thuộc của mình.

Bài thơ tình không kịp trao tay

Sau đêm giao thừa đón Tết “dưới lòng đất”, nhà thơ Phạm Tiến Duật trở lại đơn vị cách đó khoảng 3km còn bà Lệ Ngải thì quay về Bộ Tư lệnh tiền phương cùng với các bạn đồng nghiệp trong đoàn. 

Một hôm, giữa lúc trời đang nắng to, anh chị em trong đoàn đang sửa soạn để chuẩn bị đi xuống một số đơn vị biểu diễn thì nhà thơ Phạm Tiến Duật tay cầm một bó lá méo (một loại lá mọc trong rừng sâu, có vị chua chua, thường dùng để nấu canh hoặc ăn sống – PV) rất to mang đến tặng bà Ngải.

“Lá méo là loại lá chị em chúng tôi thường rất thích ăn vì nó mọng nước, lại có vị chua chua. Nhiều lần mấy chị em rủ nhau vào rừng tìm loại lá này mà không tìm được. Hôm anh Duật mang lá đến chị em chúng tôi, ai cũng bất ngờ vì không hiểu sao anh ấy lại biết chúng tôi thích ăn loại lá này. Khi đến nơi, miệng anh cười tủm tỉm, rất duyên. Anh trao bó lá méo cho tôi rồi bảo như phân trần “không biết các em thì thế nào vì anh thấy các cô miền Bắc vào đây rất thích lá này nên anh mang cho các em một ít ăn cho đỡ thèm”. Mọi người trong đoàn lúc đó ai cũng đổ ánh nhìn về tôi khiến tôi bối rối khôn cùng…” – bà Ngải cho biết thêm.
Bài thơ cũ được bà Ngải chép lại và cất vào album như một kỷ vật quý giá của cuộc đời.

Chiều hôm đó đoàn đi xuống đại đội phục vụ các chiến sỹ, còn bà Ngải không được khỏe nên xin ở nhà. Sau một lúc trò chuyện, nhà thơ Phạm Tiến Duật rủ bà qua đơn vị, nơi ông đang đóng quân chơi và giao lưu cùng các anh em chiến sỹ. Mặc dù rất mệt nhưng vì nhà thơ Phạm Tiến Duật mời mọc quá nhiệt tình nên sau nhiều lần từ chối không được, cuối cùng bà Ngải cũng đồng ý đi theo. Vậy là dưới ánh trăng vằng vặc của đêm hè xứ Triệu voi, một cô gái vừa bước sang tuổi 19 đang căng tràn sức sống và một nhà thơ nổi tiếng “thừa” lãng mạn nắm tay nhau, vượt 3km đường rừng để đến nơi mình đang đóng quân… 

Bà Ngải nhớ lại: “Vừa đặt chân đến đơn vị anh ấy thì thấy toàn đơn vị đã chờ mình từ lúc nào rồi. Nhìn quanh quất lúc đó toàn con trai… Đang mệt lại bị khản tiếng nhưng  vì mọi người nhiệt tình quá nên  tôi vẫn hát; Mặc dù rất khó khăn vì ngạt mũi và vì hát một người (thường quan họ phải hát đôi – PV). Tôi cố hát bài “Gọi đò”, “Tuấn Khanh”, “Xe chỉ luồn kim” và  kết thúc là bài “Giã bạn”. Sau đó chúng tôi ngồi lại nói chuyện với nhau một lúc rồi anh Duật lại đưa tôi về. Trước khi chia tay, anh Duật có nói với tôi rằng hôm nay là một buổi gặp rất ý nghĩa, qua đêm nay mà anh ấy cảm xúc anh sẽ làm một bài thơ tặng tôi”.

Bài thơ trong đêm chia tay đầy kỷ niệm ấy đã được nhà thơ Phạm Tiến Duật “tuôn trào ” ngay sau khi trở về đơn vị. Tuy nhiên, do sáng hôm sau đơn vị nhà thơ Phạm Tiến Duật phải lên đường hành quân gấp nên ông đã không kịp trao tặng bài thơ này cho “người tình” quan họ của mình. Mãi đến tận khi bà Ngải trở về quê hương, trong một lần đọc Báo Văn nghệ bà vô tình đọc được bài thơ này. Bài thơ này đăng trên Báo Văn nghệ lúc đó còn có cả bút tích và chữ kí của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Đề từ của bài thơ ghi rõ ràng “Tặng L.N – con chim sơn ca giữa đại ngàn Trường Sơn”. 

Trong bài thơ, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã ý nhị mượn cảnh vật và cỏ cây để nói lên tình cảm của mình đối với cô gái quan họ có giọng hát mê đắm lòng người. Đặc biệt, ông đã khéo léo lồng một cách kín đáo tên cô gái mà ông có cảm tình vào bài thơ mà khi đọc lên chỉ hai người trong cuộc mới hiểu được mà thôi. Sau khi bắt gặp được bài thơ, bà Ngải đã không khỏi bồi hồi, xúc động. Bà thực sự không ngờ “anh Duật” không chỉ giữ đúng lời hứa với mình mà còn dành cho bà một tình cảm thật đẹp qua những trang thơ. 

Sau này trong lần nhà thơ Phạm Tiến Duật về giao lưu với Hội Văn học Nghệ thuật Bắc Ninh, hai người đã có dịp gặp lại nhau. Trong phút giây xúc động tột cùng của ngày tái ngộ, bà Ngải đã đọc lại bài thơ này cho nhà thơ Phạm Tiến Duật nghe. Khi tiếng ngâm của bà cất lên theo những cung bậc nhẹ nhàng, sâu lắng của tiếng nguyệt cầm, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã khóc. Ông nói với bà trong nước mắt: “Tôi không ngờ bao nhiêu năm rồi mà em vẫn nhớ, vẫn thuộc những lời trong đáy sâu con tim tôi”.

Gần 40 năm qua, dù người xưa đã khuất xa nhưng bà Ngải vẫn còn thuộc làu làu từng câu chữ của bài thơ. Tiếng nói của ông, nụ cười của ông và cả những câu thơ chan chứa tình của ông hãy như còn đầy sức nặng trong kí ức hào hùng của bà.

NGƯỜI ƠI NGƯỜI Ở…

(Phạm Tiến Duật)

Bao nhiêu người đã hát

 Bây giờ lại đến em,

 Bao nhiêu người hồi hộp 

Bây giờ lại đến anh.

Ở hai thung lũng xanh, 

Kề nhau thành hàng xóm. 

Công việc như nước cuốn, 

Chẳng bao giờ thăm nhau. 

Nắng đã tắt từ lâu, 

Tiếng ve như kéo mật,

Dáng em ngồi trước mặt,

Như cây nhỏ trong vườn, 

Chẳng thể gặp nhau luôn, 

Hãy ngồi thêm lát nữa, 

Hai người hai cánh cửa, 

Khép mở hai vùng trời.

Gặp biết bao nhiêu người, 

Quen nhau bao gương mặt,

Con đường thì tít tắp,

Mặt trận thì mênh mông,

Chẳng nhớ nữa mùa đông, 

Đi qua bao hang đá, 

Cũng quên rồi mùa hạ, 

Ở bao nhiêu ngăn hầm, 

Công việc cùng tháng năm, 

Hát vui cùng chiến sĩ, 

Những ngày đi đánh Mỹ, 

Bao nhiêu người quen nhau.

Anh chẳng nói sai đâu, 

Em là cây “ngải” đắng, 

Mọc trên triền núi vắng,

Góp vị thuốc cho đời 

Tiếng em hát “Người ơi…” 

Người gần nhau mãi mãi.

Tiếng em hát “Đò ơi…” 

Sông đưa đò gần lại, 

Tiếng em hát “Cây ơi…” 

Cây nhú thêm mầm mới, 

Tiếng nồng say em gọi, 

Náo nức tuổi trăng lên. 

Cái giọng thì của em 

Mà lời anh đấy nhỉ?  

Giữ em chẳng được nào,

Hẹn nhau ngày thắng Mỹ,

Lại hát tặng tiễn nhau,

Như bạn bè quan họ, 

Rằng: Người đi người nhớ/ 

Rằng: “Người ơi người ở đừng về…”.

Hà Tùng Long viết 

Nhời bình của TMCS:  Miễn bình. Chuyện đúng sự thực 100%. Cả hai đương sự đều xác nhận.

Sưu tầm và thẩm định  : TMCS.

Chắc là quý đọc giả hài lòng với sự cải tiến này. Gọn ghẽ và khách quan ! lại đáng tin cậy hơn cả phải đọc câu chuyện lòng thòng do TMCS kể bằng lối văn viết rất … “cũ kĩ – cà cộ”…

                                                    X

TTTB@ kì này giới thiệu bài thơ Vòng trắng của PTD cùng các bản dịch.

Các phần khác như thường lệ.

Kính thỉnh nhã giám.

 TTTB@ -TMCS

VÒNG TRẮNG
Thơ Phạm Tiến Duật
 
Dịch
 
TMCS :   Anh, Pháp và Hán
Phan Hoàng Mạnh:  Pháp
 

VÒNG TRẮNG

Phạm Tiến Duật

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong yên lặng
Cái yên lặng bình thường đêm sau chiến tranh

Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang, vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.

                                            8 – 1974
                         (in lần đầu trên tạp chí Thanh niên) 

 

TTTB@-TMCS

WHITES CIRCLES

(Poem by Phạm Tiến Duật – Translation by TMCS)

Flying to the high sky

The bomb’s smoke makes a black circle,

But on the earth appear countless circles

Which are white*.

You and me – side by side,

in silence – we walk together,

That is the ordinary silence 

Of one night after the war!

  

Is there any loss comparable to death?

The circle looks like a mourning- turban on a head.

My dear ! Under each circle being white

Is a head with the fire inside.

Note

*White – In Vietnam white is the colour of mourning.

LES CERCLES BLANCS

(Poème de Phạm Tiến Duật –

Traduction de TMCS)

La fumée de chaque bombe forme au ciel un cercle noir,

Sur la terre – ça et là –

Apparaissent les cercles blancs.

Mon ami et moi,

Nous marchons en silence.

C’est le silence bien ordinaire

D’une nuit après la guerre. 

 

Y-a-t-il une perte comparable à la mort?

Chaque cercle ressemble à un turban

Qu’on porte dans le deuil,

Comme un zéro, il est rond  et blanc !

Sous chaque cercle  blanc, mon cher, 

Est vraiment une tête enflammée …

Remarque: Au Vietnam, le blanc est la couleur des vêtements de deuil.

BẠCH KHUYÊN                                      VÒNG TRẮNG

(Phạm Tiến Duật thi – TMCS dịch ) Thơ PTD – TMCS dịch

Thiên thượng hắc khuyên – oanh tạc yên.  Vòng đen trên trời do khói bom

Địa gian vô số bạch viên khuyên.                Dưới đất có vô số  vòng  tròn trắng.

Chính  thường chiến hậu bình an dạ           Đêm yên tĩnh bình thường sau cuộc chiến

Ngã tẩu vô ngôn  quân tại  biên.                   Tôi lặng lẽ đi bên cạnh bạn.

Hà tổn thương năng như tử thống             Có thương tổn nào đau như chết chóc

Tang cân viên bạch khán như “linh”          Khăn tang tròn, trắng như con số không

Bạch khuyên chi hạ, thuỳ tri đắc                Dười vòng trắng ai biết được

Tán nhiệt nhân dầu tự hoả sinh.                 Là mái đầu bốc nóng như lửa sinh ra.

白圈 

(范進矞詩-相梅居士譯) 

天上黑圈轟炸煙 

地間無數白圓圈

正常戰後平安夜 

我走無言邊 

何損傷能如死痛 

喪巾圓白看如零

白圈之下誰知得

散熱人頭似火生      

  

   LE CERCLE BLANC

Les fumées des bombes montant au ciel forment un cercle noir,

Et sur la terre, naissent tant de cercles blancs.

Moi à côté de mon ami, nous marchons dans le silence, 

Un silence habituel dans la nuit après la bataille.

Y-a-t-il une perte aussi grande que la mort?

Le turban de deuil est un cercle rond comme le chiffre zéro.

Mais mon ami, au-dedans du cercle blanc,

Est toute une tête enflammée à l’intérieur.

                                                  6-2018

                            Version française de Phan Hoang Manh

PHỤ TRƯƠNG TTB@ No158

                        TMCS

TRUYỆN DÍ DỦM

FAMOUS SAYINGS OF @ ERA

(Gleaned  by TMCS)

1. Money is not everything. There’s also MasterCard & Visa.

2. One should love animals. They are tasty too.

3. Save water. Drink beer.

4. Studying is healthy. So leave it for the sick.

5. Books are holy. So don’t touch them.

6. Love your neighbour. But don’t get caught.

7. Every one should marry because happiness is not the only thing in life…

TMCS’s comments:

The modern sayings are very justified !

top-nhung-cau-chuyen-cuoi-an-tuong-ve-gia-dinh-2

Money is not everything, There’s Master & Visa.

Tiền chẳng phải là tất cả. Đã có thẻ Master & Visa.
 
 

DANH NGÔN THỜI @

(TMCS lượm và dịch)

  1. Tiền chẳng phải là tất cả. Đã có  thẻ Master & Visa.
  2. Mọi người nên thương yêu súc vật. Thịt chúng ăn cũng  ngon.
  3. Tiết kiệm nước thì uống bia !
  4. Học tập rất bổ ích, lành mạnh. Thế thì hãy dành nó cho người ốm !
  5. Sách vở rất thiêng liêng, cao quý. Thế thì đừng có đụng chạm vào 
  6. Hãy yêu thương hàng xóm, láng giềng. Nhưng chớ  mắc bẫy nhé !
  7. Mọi người nên kết hôn vì hạnh phúc chẳng phải là điều duy nhất trong cuộc sống…

TMCS bình:

   

                  Chí lí là chí lí thay,

      “Ranh” ngôn thời đại ngày nay : tuyệt vời !

ĐỐ VUI
TMCS
 
Kì trước.
 
Classement (BXH: Bảng xếp hạng)  des participants à “ĐỐ VUI”:

Mr T .Trach : le 1er des groupes des VIPs  de HN –  le 4ème des groupes des VIPs du VN, avec sa correcte réponse: la lettre “m”.

 
Qu’est-ce qui vient une fois dans une minute, deux fois dans un moment, mais jamais dans un siècle? 
 
Ré: La letter “m
 
Kì này:
 

Il y a une maison verte, à l’intérieur de la maison verte, il y a une maison blanche. À l’intérieur de la maison blanche, il y a une maison rouge. À l’intérieur de la maison rouge, il y a beaucoup de bébés. Qu’est-ce que c’est?

 

INFORMATION: 

La devinette suivante est un tout petit essai visant le but d’amélioration des “Devinettes récréatives – Đố vui ” du TTTB@:

INFORMATION:

The following riddle is a very small essay aimed at improving the TTTB @’s  ” Recreational riddles  – Đố vui”:

THÔNG BÁO:

Câu đố dưới đây là một thử nghiệm rất bé nhỏ nhằm cải thiện mục “Đố vui” của TTTB@:

“ Puisqu’il nous est donné de vivre ce jour-ci,

plus de brume au portail, l’azur s’est éclairci.”

Qui  a dit ces mots? à quelle occasion ? Et qui a répété ces mots ? à quelle occasion ?

Donnez la réponse, s’il vous plait, pour nous aider à nos premiers pas de cet essai  – selon votre désir et si vous avez du temps.

Give the answer, please, to help us at our first steps of this test – according to your desire and if you have time.

Kính mời quý vị giải đố để giúp chúng tôi trong bước đầu thử nghiệm này – Xin tuỳ thuộc ý muốn và điều kiện thời gian của quý vị.

Avec nos remerciements. With our thanks.  Đa tạ

                         TTTB@-TMCS

VÈ & TRANH

 (TMCS)                                              

                                                   GỌI

 

 PHI LỘ – 引言 – FOREWORD

 
GỌI là tên một bài thơ ngắn, hay, rất giản dị, rất tế nhị …Nó hay đến mức khi đọc xong ít ai biết là  nó hay ở chỗ nào, tại sao mình thích nó…Dưới đây, là  PHI LỘ của TMCS, bây giờ theo tập quán né  các từ Hán Việt, ta quen gọi là Lời ngỏ – Người Tàu hiện đại cũng hay dùng DẪN NGÔN引言  thay cho Phi lộ 披露 . Xin quý vị hãy nhấp chút Phi lộ ( Lời ngỏ – nghĩa hiện đại :  phát biểu, tuyên bố )  – coi như món khai vị TMCS dâng tặng quý vị – ngõ hầu giúp quý vị thưởng thức THI VỊ của bài thơ GỌI được êm tai, ngọt giọng và thú vị hơn…
( Quý vị đừng quên xem phần VĨ NGÔN – LỜI CUỐI của bài này – giới thiệu giọng ngâm bài thơ GỌi do diễn viên Nhã phương thực hiện trong vai Hạ của bộ phim Ngày ấy mình đã yêu (trích đoạn- phim này có bản gốc là Discovery of love của Hàn quốc)) và thưởng lãm chân dung tác giả bài thơ  Gọi -Trần Hữu Việt –  Phần Vĩ ngôn coi như chút quà mọn đặc biệt dành cho các bạn nước ngoài và VN hải ngoại ít điều kiện xem phim VN như bạn đọc trong nước. TMCS tự coi mình là một lệ ngoại, luôn luôn bám sát mọi sự kiện lớn nhỏ…dù lang bạt, trôi dạt đến đâu…)

                           X

Gọi…xa xưa chỉ là í a í ới… chuyển sang thời  “a còng”  @ – bỗng phổ biến là  A lô, A lô… Hê lô – Hê lô…bằng ĐTDĐ đời Smartphone (ĐT thông minh), cài đặt nhiều phần mềm tiên tiến, đắt tiền và kiểu dáng sang trọng, quý phái làm bọn “cướp giật” thèm đến “mắt đỏ rỏ dãi”…

Ôi mới ngày nào, có điện thoại riêng tại gia, để trên bàn, hoặc đầu giường ngủ, đã là “oách” lắm…Trước đó, khi thật cần thiết mới dám ra đăng kí ngày giờ gọi qua máy Bưu điện gần nhà nhất, hoặc linh động “nhờ “ điện thoại cơ quan …lại còn phải qua “tổng đài”, phải “giữ ý- giữ tứ” v.v…không dám “nói dải nói dai- người ngoài thóc mách”,  nhất là khi gọi” Em”, kẻo “tổng đài” mà bép xép, lộ “bem” thì mang tiếng thiếu  “gương mẫu” : “máy công – chuyện riêng – lại “vi phạm” kỉ luật giờ hành chính…” Có thời Gọi” là ĐT tự động nhưng vẫn cứ phải quay xè xè, bấm số đối phương…lỉnh cà lỉnh kỉnh…nào là sổ tay chi chít số  điện thoại, nào là cả hộp “cạc vi-dít”, sau này theo mốt Ăng-lê gọi là “nêm cạc” (name card) hoặc bi-di-nit cạc (business card) để tìm số ĐT gia đình hoặc cơ quan . Lại còn Fax No , phone No (gọi theo mốt là “Phách nơm bờ” hoặc “Phôn nơm bờ”, phải biết ỡm ờ chút chít tiếng “ngoại” để còn “ô kay, thanh kiu, gút bai, xi i-u xun, see you soon: à bientôt – sớm gặp…” khi phôn, thế mới là “oách xà lách”….)

Lại còn chuyện gửi thư, dán tem… chao ôi…có mà cả tuần, cả tháng…Nhà TMCS vắng tanh, vắng ngắt, vợ con tít mù tắp phương xa : tận nước Nga-la-tư, xa lắc  xa lư !…chỉ đành tháng tháng đỏ mắt chờ “tâm sự” của nhau qua mấy dòng “giấy vắn tình dài”…TMCS đi đâu về, đến trước cổng nhà, chưa kịp xuống xe, cứ ngồi nguyên trên yên, thõng một chân xuống, tim đập thình thịch theo nhịp máy  “con xe” Hon- da “bãi”, đang “hổn hển” phình phịch, phì phèo phả “khói” và “hơi ấm” bên dưới,  đã vội “hồi hộp” ngó vào kẽ hở thùng thư xem có gì không… Cứ nghĩ thế đã tưởng là  “sung sướng” chán, hơn ông bà mình thời xưa, nhiều lắm lắm…rồi ! Sức mấy mà mơ, mà dám  gọi “nửa cú phôn” sang Nga cho bà xã và con cái…Hàng tháng được lá thư như vậy, coi như Tiên giáng trần rồi…Hàng xóm thời “tiền a còng @ “, ối người mơ mộng được như  thế !

Hồi tưởng xa xưa, vật đổi sao rời…Mọi sự thay đổi đến chóng mặt…không tưởng tượng nổi. Mới thuở nào… TMCS lang thang bên Tàu, nghe dân Pekin, Shanghai… nhí nhố  tự hào “ Đại nhảy vọt – một ngày bằng hai mươi năm” ( 大躍進- 一天等於二十年 :  Đại dược tiến, nhất thiên đẳng ư nhị thập niên : Great leap forwards – one day is equal twenty years – Le Grand bond en avant  – un jour  = 20 ans !” )…sau vài năm quay lại thấy họ “đói”, “rét”…nhếch nhác, teo tóp, bảo nhau “thắt lưng buộc bụng”, nghe thật thê thảm, rùng cả mình…Lúc ấy, VN mình còn đang chiến tranh, nhưng nghĩ đến dân Tàu vỡ mộng : Gió Đông thổi bạt gió Tây – Đông phong áp đảo Tây phong ( 東風壓倒西風 – Estern wind overwhelms Western Wind ) mà thấy chuyện các nước phương Đông “qua mặt” được Âu Mỹ là chuyện xa vời mà cũng lơ mơ thầm lo  cho những khó khăn kinh tế của VN sau ngày chiến thắng …

… Rồi đến thời: bùng nổ thông tin, cái gì cũng bùng, cũng nổ cả !… Sang Tàu, thấy trẻ con thành phố  đa số béo phì, da dẻ hồng hào, má phinh phính, môi đỏ như  son, tung tẩy lon lon như con lợn sữa, quan chức, doanh nhân, đại gia, thiếu gia lũ lượt bỏ “mốt đại cán” – đồng loạt lên “com-lê, cà-vạt”…vừa phát tài, phát lộc vừa phát tướng , phát phì… bụng to vượt cả bụng bà chửa…đi lại, lên xuống xe cộ, hai tay bơi bơi như đôi mái chèo khua nước trên “không”…

Mãi đến khi nước họ “lạm phát” bệnh nhà giàu trọc phú, các chứng tim  mạch, tiểu đường, mỡ máu…”bung ra”, mới thấy họ “kháo” nhau ” béo tốt ” là một khái niệm sai lầm do trước đây quá nghèo, quá gầy, bây giờ đâu cũng quảng cáo “thuốc giảm “péo”, nói ngược lại ngày xưa : không phải là “béo tốt” mà béo là “pú hảo” (không tốt)… 

Sau “bùng nổ péo”  là bùng nổ “mô bài phôn” (mobile phone) – điện thoại di động  (ĐTDĐ)- rẻ quá trời, VN có Nokia (Bắc Ninh), Samsung (Thái Nguyên)…mà cũng không rẻ bằng… Hỏi dân Tàu, họ bảo khó gì đâu, cứ “liên doanh liên kết” với bọn nước ngoài, là mình “tháu cáy” được ngay cái “niu – tếch” (new technology) của tụi nó… 3G, 4G rồi 5G gì gì cũng có cả…Lúc đầu nhìn dân Tàu, đến cả người “ăn xin”  dẫu mấy tả tơi rơi rụng, thều thào nói chẳng còn hơi, cũng có ĐTDĐ, TMCS ước ao đến lúc nào đó thì trẻ trâu và mấy bà đồng nát, mấy chị “ô -xin” Vn cũng có ĐTDĐ cho đỡ tủi với cánh láng giềng “ trưởng giả – kẻ cả” phương Bắc…

 

Thế  rồi ngày ấy đã đến với nước mình, dân mình, còn sớm hơn cả háo hức mong đợi…Dường như quả là thời gian có trôi nhanh hơn…Chả biết một ngày ở mình bây giờ đang bằng bao nhiêu năm ngày xưa, nhưng ĐTDĐ ở VN đã phát triển rất nhanh, quá nhanh…hầu như nhà nhà , và ai ai cần cũng có, chả khó khăn gì. Nghe nói theo số liệu thống kê thì mình đã chớm “ngưỡng”, vào  loại các nước Phát triển cũng phải thèm…Viettel mò sang tận châu Mỹ latin, châu Phi kinh doanh ĐTDĐ chứ chẳng chịu “gà lành” kiếm quẩn, quanh quanh Lào , Myanmar…Nghe nói mình đang có những hai “quả” Vinasat (vệ tinh VN) lượn vù vù “suốt ngày dài lại đêm thâu” trong vũ trụ, chưa kịp “phát huy” hết tác  dụng, nhưng các nhà bác học VN ở Hoà lạc đã lại “ đi trước đón đầu” thiên hạ, đang thiết kế mấy “quả” nữa, “bự” hơn và “hiện đại hơn” hai quả hiện dùng – niềm tự hào của một thời – bị chê là “Hơi” cũ rồi, nay ta tự làm lấy được những bộ phận hệ trọng nhất, chỉ còn phải thuê Tây phóng hộ và gia công vài linh kiện lặt vặt …ta chả bõ công làm, một tiền gà ba tiền thóc, thuê “phóc” cho nhanh… Thế là cánh chuyên gia Tây, Nhật “bỗng chốc” thành ra kẻ làm thuê, phóng mướn cho ta, lấy chất xám và tiền công làm lãi mà …ham sống cuộc đời no đủ hơn ta, nên mới hay bị xa hoa, kiếm bao nhiêu đô la cũng chả hơn ta mấy tí… !

Gần đây, tuy mới chỉ nghe mấy vị lãnh đạo cao cấp, dạo nhạc sơ sơ trên VTV về Cách mạng “bốn chấm không” 4.0, đón tiếp cô rô-bốt Xô-phi-a diện áo dài trắng mượn của VN ta, yểu điệu thướt tha, nhưng TMCS dỏng tai tò mò nghe, vẫn thấy Nàng ỏn a ỏn ẻn “bắn” tiếng Tây kiểu … “máy” ! mắt nhấp nháy, miệng mấp máy, nghe và  xem đều thấy Nàng giỏi, nhưng hơi…”bùn” cười, ( Nàng có tư cách công dân và “pat-xpo” – hộ chiếu- như người thực), có thể đây là một trong nhiều sự chuẩn bị cho bước khởi động tràn trề hi vọng về AT ở nước ta ( AT: artificial intelligence – trí tuệ nhân tạo ). Thấy bà con bên nhà háo hức vô cùng, nên TMCS hàng tuần đã phải bắt đầu mò mẫm tự đọc SGK về Robotics cho biết sơ sơ, kẻo tụt hậu,  cũng may con gái lại đang dạy môn này cho sv ,  nên khi cần có thể tiện hỏi, song cũng chỉ là để “biết i tờ lờ mờ ” là đủ…Cũng có thể tin tưởng, từ mấy cái HCV trong các cuộc thi Robotcon quốc tế hàng năm, mình “chấp” thiên hạ, chỉ dùng linh kiện, mấy con chip, mạch IC, đồ bán dẫn… chợ Giời, chợ Mơ… mà đã vượt cả sinh viên Nhật, Ấn, Mỹ, Tàu, It-xra-en…thế thì biết đâu một ngày nào đó, cả nước họ chả phải “xuống nước”, gạt bỏ “sĩ diện hão” mà cạy cục, “năn nỉ” nhờ  vả VN mình viện trợ chất xám. Thôi chuyện này gác lại, tính sau…Không có nhân tài, thiên tài thì mới lo, chứ thừa thãi rồi thì dễ ợt, để sau tính cũng chưa muộn… trước mắt hãy lo dạy bảo con cháu mình để chúng nó chăm chỉ học tập đã, có thực đỗ ông Nghè hãy  đe hàng tổng (không kể loại “tiến sĩ giấy”),  “mơ” trước tính “sau”, tỉnh táo, kĩ lưỡng vẫn hơn !!

                                                        X 

…Ông Giời đã “khéo” sinh ra TMCS là một tay rất hay hoài cổ, kiêm cả lãng mạn, nhân “vớ” được bài thơ GỌI của nhà thơ Trần Hữu Việt, thấy ý hay hay, ngồ  ngộ, chả biết có phải chủ đề là chuyện người ta gọi A lô hay không (như bài thơ Một cú phôn của PTHVân), nhưng TMCS cứ nổi hứng dịch ào ào cả ra “Anh thi”, “Hán thi” lại nhân nguồn hứng thơ cuồn cuộn, bùng phát thành  “Cao trào”, ngoài cả khả năng tự kiềm chế, bèn viết luôn hai đoạn CẢM , có dịch một đoạn ra đa ngữ Việt, Pháp, Anh thi…Bản Anh bài Gọi và Cảm, chỉ mới qua phôn đã được mấy bạn tây bạn đầm không tiếc lời động viên “ ý hay, lời đẹp, vần điệu mượt mà”, Bạn Tàu già thì lụ khụ như cụ Taiwan, cả hai vợ chồng đều lên “dây cót” cho TMCS mà rằng: “TMCS gõ được bài GỌI cả Anh , cả Hán, nghe qua phôn đã thấy “xịn”, cứ “tưởng” như thơ của thi sĩ Tây – Tàu, chứ đâu phải là dịch nữa”…TMCS gọi bạn Pháp mãi để khoe “nốt” bài “Cảm” còn chưa được. Thôi thì đang mùa đông Nam bán cầu, gặp khi phấn khởi run lên “cầm cập” thì cứ ào ào post lên mạng cái đã… Tranh minh hoạ thì chưa kịp vẽ như cho bài “Một cú phôn” ngày xưa, nên “kều” trên mạng được cái tranh màu  vẽ một cô “xinh xỉnh xình xinh” đang vừa cười tình vừa làm duyên cầm máy  GỌI “ A lô “ – chắc ruột gan ả cũng đang hớn hở, nở nang như  khi mình được tây tàu động viên món bánh “phờ” về khoản dịch thơ, xem ra nội dung bức tranh cũng có phần  hợp với nội dung bài thơ “GỌI”…đành mạn phép tác giả “khuyết danh” dùng làm tranh minh hoạ cho bài GỌI. Mời quý vị bớt chút thời giờ vàng ngọc…

Chắc là  đoạn “hồi ức” lãng mạn ,” hơi “ ẩm-ướt” nhưng chưa kịp “mốc meo”  của TMCS điểm lại tình hình từ phone thời bao cấp ở ta, qua “đại nhảy vọt” bên Tàu, rồi đến  “mô bài phôn” thời @, sẽ “kích hoạt” (activate) thi hứng của quý vị… (activate= activer – thuật ngữ tin học. Ex: Activer un module – kích hoạt một mô-đuyn ) khi đọc bài gõ “tuỳ phím” này…mà ngó qua Vè và Ảnh tuần này của TTTB@ -TMCS cho thêm phần hào hứng.

 
GỌI (thơ Trần Hữu Việt _ TMCS dịch)
Image result for Ảnh Gọi điẹn thoại
 
 
Tranh minh hoạ : Khuyết danh (TMCS sưu tầm)
 
                         ĐỀ TRANH “ Tố nữ A lô”
                
               Người đâu xinh xỉnh xình xinh,
             Vừa cười rất Tình, vừa GỌI a-lô.
                    Người ngoài tấm tắc  hoan hô                                                       
           Người trong thích chí, cứ  a lô hoài…  
                                                  
                                                        TMCS (Đông 2018)
 
GỌI                             
Trần Hữu Việt      
 
Lúc nào thấy nhớ          
Thì gọi cho anh              
Hãy gọi cho anh             
Cả khi không nhớ…       
Có một con đường       
Gọi là quá khứ              
Có một lọn gió             
Gọi là tóc bay                 
Có một người say        
Một người mắt ướt      
Có một lỡ bước            
Gọi là đến sau               
Có một mưa mau           
Rụng rời quán nhỏ       
Có một ngõ cỏ               
Cho nụ hôn đầu            
Có một bể dâu              
Cho lòng bớt tủi            
Có một sợ hãi               
Gọi là mất nhau             
Có một niềm đau           
Đã thành dĩ vãng…     
 
 
ANH THI – TMCS:
 
THE CALL 
Poem by Trần Hữu Việt
Translation by TMCS
 
Call me, please,
When you miss me.
And call me, please, 
Even when you don’t miss me.
There is a path
Called the Past !
There is a gust of air
Called the fluttering hair.
Someone is a drinker of wine
While the other has the tearful eyes. 
The late arrival
Caused by the steps which are false.
There is a small inn becoming tattered
By a heavy shower.
There is a  grassy small street
Being for the first kiss.
There is a vicissitude of life
For reducing the grief of mankind. 
There is a fear
For the loss of someone  dear
There is a pain from the heavy heart
Sank into  the past 
 
HÁN THI – TMCS
                            HẢM (GỌI)
     Trần Hữu Việt thi – TMCS dịch
 
Đương tưởng chi thì                     Vào đúng lúc nhớ      
Thỉnh hảm nhất thanh !                Xin gọi một tiếng.
Bất tưởng chi thì                          Vào lúc không nhớ,
Diệc hảm nhất thanh !                  Cũng gọi một tiếng !
Hữu nhất điều lộ                           Có một con đường
Quá khứ thị danh.                         Tên là Quá Khứ.
Hữu nhất trận phong                    Có một cơn gió
Phiêu phát thị danh.                      Tên là Tóc Bay.
Hữu nhất tuý nhân                        Có một người say
Lưu lệ tha nhân.                            Rơi lệ người khác
Thất túc nhất nhân                        Một người xảy chân,
Thành trì đáo nhân.                      Thành người đến chậm.
Thiên giáng đại vũ                        Trời làm mưa to,
Tiểu  quán lam lũ                           Quán nhỏ rách nát.
Hữu nhất thảo hạng:                     Có một ngõ cỏ:
Đầu thứ vẫn hạng.                         Ngõ Nụ Hôn đầu.
Hữu nhất tang thương                  Có một bể dâu
Vị giảm quý thương.                     Để giảm tủi thương.
Hữu nhất cụ phạ:                          Có một nỗi sợ:
Tương li nhĩ ngã.                          Tôi bạn xa nhau.
Hữu nhất thống bi                         Có một buồn đau
Thành dĩ vãng thì.                         Thành thời quá khứ.
 
 
( 陳友越詩-相梅居士譯 ) 
 
當想之時
請喊一聲
不想之時
亦喊一聲
有一條路
過去是名
有一陣風
飄髮是名
有一醉人
流淚他人
失足一人  
成遲到人
天降大雨 
小館襤褸
有一草衖 
頭次吻衖 
有一桑蒼
為減愧傷
有一懼怕
相離你我
有一痛悲
成已往時     
 
 
Dưới đây là mấy dòng cảm xúc của NDịch :
 
 
 
LIÊN CẢM CỦA TMCS … 
TMCS
      
      Ý thơ ngồ ngộ, hay hay
Nghe như ai Gọi,  muốn bay tung  trời* !
      Gọi khi nhớ, cả khi nguôi…
Thì ra ai cũng như tôi thuở nào,
     Cũng mang lá số hoa đào,
Để như  hoa sẽ rụng vào đời ai… 
 
 
*Chú .
Mượn ý Nguyễn Công Trứ :
       
      Kiếp sau xin chớ làm người
Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay.
 
                                                        TMCS, Juillet-2018
 
 
CẢM CỦA TMCS:
 
 GỌI 
TMCS
 
…” Có một con đường 
Gọi là quá khứ “…   
 “ GỌI “ – Thơ:Trần Hữu Việt
 
     Bài này xin gửi những ai
Cũng  qua đường ấy, thẳm dài cõi mơ.  
    Mấy câu chưa dịch thành thơ,
Đã nghe vẳng tiếng ai xưa gọi mình” :
    “ Non non, nước nước, tình tình,
Mình bao nhiêu tuổi vẫn mình ngày xưa…”
 
                                                     TMCS   7-2018
 
THE  CALL
TMCS
 
…”There is a path
Called The Past”…
From “  THE CALL ” – Poem by Trần Hữu Việt
 
This translation is for everyone 
Who in a long past
Also stepped the same path. 
When my translation of this poem is not yet finished,
I hear from the past someone calls me
With the voice resounding gently :
 “ Oh ! Our mountains, rivers and  love !
Regardless of age, You are still like before…“
 
                                                          TMCS,  July-2018
   
L’APPEL 
TMCS
…”Il y a un chemin
Appelé Le Passé”… 
“ L’APPEL” – Poème de Trần Hữu Việt
 
 
Cette traduction est pour tous
Qui autrefois – comme moi –
Sur ce même chemin ont aussi marché.
Quand la traduction de ce poème n’est pas achevée,
J’entends  quelqu’un m’appelle du passé
Avec une voix qui retentit doucement :
“ Oh! Nos monts, nos rivières et notre amour !
Peu importe l’âge, Tu es toujours comme avant…”
 
                                                          TMCS, Juillet- 2018 
 
VĨ  NGÔN   FINAL WORDS
THAM KHẢO:
 
1 – Diễn viên Nhã Phương đọc bài thơ Gọi (phim Ngày ấy mình đã yêu ). Nháy  chuột dưới đây (nháy tiếp edit, test) hoặc vào Google rồi nháy chuột để xem trích đoạn phim:
 

Nhã Phương đọc thơ gây bão trong ‘Ngày ấy mình đã yêu’ – Báo Tri …

https://baomoi.com › Giải trí › Điện ảnh – Truyền hình

 

Translate this page

Jun 27, 2018 – Trong tập 6, Hạ (Nhã Phương) đã đọc cho Nam (Lương Thế Thành) nghe một bài thơ. Đây là bài thơ ‘Gọi’ của nhà thơ Hữu Việt.

 
2- CHÂN DUNG TÁC GIẢ GỌI – TRẦN HỮU VIỆT
Bộ phim truyền hình Ngày ấy mình đã yêu đang phát sóng trên VTV. Tác phẩm Gọi của Hữu Việt được chọn làm bài thơ chủ đề cho phim. Qua giọng đọc thơ của nhân vật Hạ (Nhã Phương đóng), bài thơ được yêu thích và lan truyền trên mạng xã hội. Tác giả Hữu Việt chia sẻ câu chuyện viết bài thơ Gọi, cũng như mối liên hệ giữa thi ca và điện ảnh. (Kì này dài quá, hẹn khi khác TMCS sẽ quay lại tác giả này)
Tac gia noi gi khi Nha Phuong doc tho gay bao? hinh anh 1
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Trường sơn Đông Trường sơn tây PTD (toàn bài)

Bl(457) TTTB@ No157

DẠO ĐẦU TTTB@ No157

                     TMCS

 

LAN MAN :  

VỀ NHÀ THƠ – NGƯỜI DỊCH 

PHẠM TIẾN DUẬT VÀ MỐI TÌNH THƠ

VỀ NHÀ THƠ – NGƯỜI DỊCH

 
Nhời quê xin phép lạm bàn
Chuyện “thơ dịch” – vốn muôn vàn khó khăn…
Ngoài kia, giá rét căm căm,
Trong này, sưởi chuyện thơ văn tâm tình…
 
A lô ! A lô !…
Xin mời quý khách “xuôi” dòng cảm hứng, cùng “guider” (hướng dẫn viên du lịch) của Cty TTTB@ – TMCS – la cà, ngao du, lan man một số bến bờ một thời lừng danh nức tiếng,  khi chớm mệt hay ngán ngẩm,  quý vị có thể tuỳ nghi “stop”  ở bất kì đoạn nào…
 
Tiên đoán của BTC:
Du khách nước ngoài  và bà con VN hải ngoại chắc  dễ “say” cảnh lạ đường xa, “khách nội” ắt  chép miệng, thở dài: … “khổ lắm, gõ mãi !”… 
 
Chuyến đi này : FREE – Miễn phí 100% ! A lô !  A lô ! …Trên hành trình có nhiều chặng  LẠC ĐỀ cố ý, vô bổ nhưng lí thú…có đi mới biết…
 
                                                 TTTB@ No157 – TMCS

HỒ CHÍ MINH – NHÀ THƠ & XUÂN THUỶ – NGƯỜI DỊCH

Chủ tịch Hồ Chí Minh (HCM) có tập thơ Nhật kí trong tù ( 獄中日記 – Hán-Việt: Ngục trung nhật ký) viết trong khoảng thời gian 1942-1943  và nhiều bài thơ trong hai cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại. Trong khuôn khổ eo hẹp, TTTB@ xin nêu  trường hợp ông Xuân Thuỷ dịch một bài thơ do chủ tịch HCM sáng tác vào tháng 2/1948.

Đó là trường hợp bài thơ Nguyên tiêu  nổi tiếng của chủ tịch HCM với bản dịch  của ông Xuân Thuỷ. Nhiều vị có thể chưa biết đến bản dịch được người dịch chỉnh lí sau đó.

Vốn chỉ quen “bẻm mép” và rất đuểnh đoảng về khoản viết văn xuôi (dài dòng – hay bị lạc đề…), TMCS xin trích lời kể sau đây của GS Hà Minh Đức để  giới thiệu với bạn đọc thay cho những lời lẽ rườm rà, “cà kê dê ngỗng” của mình… Toàn văn đăng ở báo ND  5 – 2010  (xem dưới đây ). Sau đó, TMCS mới xin thưa thốt “gõ leo” đôi điều, hi vọng sẽ đỡ quấy quả  quý vị bởi thứ “văn phong” tràng giang đại hải, là “ đặc sản “ đã từng và đang rất nối tiếng” khắp hoàn cầu của TMCS.

Nguyên tác.

胡志明 

NGUYÊN TIÊU (HỒ CHÍ MINH)
 

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

 

Dịch nghĩa (TMCS)

RẰM THÁNG GIÊNG

Đêm nay, rằm tháng giêng, trăng vừa tròn,

Sông xuân, nước xuân  tiếp  với  trời xuân.

Giữa nơi khói sóng sâu thẳm, bàn bạc việc quân,

Nửa đêm trở về,  ánh trăng đầy thuyền.

 

Tháng 2 năm 1948.

Nội dung và quá trình dịch, chỉnh lí bản dịch bài Nguyên tiêu của ông Xuân Thuỷ theo Gs Hà Minh Đức, nguyên văn  là như sau:

“…Người dịch bài này là nhà thơ, nhà báo Xuân Thủy có nhiều dịp được gặp Bác. Ngoài những ý kiến chỉ đạo của Bác cho Xuân Thủy về chính trị nhất là trong công tác ngoại giao còn có chuyện về thơ văn.

Chuyện kể về một chuyến công tác ở rừng Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Bác Hồ đi kiểm tra chiến dịch trên một con thuyền. Cùng đi có nhà thơ Xuân Thủy và một số cán bộ. Công việc xong, khi trở về trời đã khuya, trăng rằm vẫn tỏa sáng vằng vặc trên bầu trời. Khung cảnh thiên nhiên rất nên thơ, chuyện quân đã bàn xong có thể thanh thản ngắm cảnh đẹp trong đêm trăng. Mọi người đề nghị Bác làm thơ. Bác không từ chối và đọc một bài tứ tuyệt chữ Hán :Nguyên tiêu – Đêm rằm tháng giêng. Tháng giêng có nhiều lễ hội nhưng ngày rằm tháng giêng có ý nghĩa quan trọng. Với làng quê đây là ngày dân làng còn đang nghỉ ngơi, ruộng đồng đã cày cấy xong, xóm làng vào hội tôn thờ thần thánh, tổ chức các trò vui. Riêng trăng rằm tỏa sáng trong không khí hơi se lạnh nhưng ấm áp của ngày xuân. Bác Hồ đọc, lời thơ ngân vang:

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

Mọi người thưởng thức chất nhạc của thơ nhưng không hiểu hết nghĩa.

Bác Hồ bảo có Xuân Thủy đây, Xuân Thủy dịch đi. Nhà thơ Xuân Thủy vâng lời Bác đã dịch nhanh và đọc:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về  bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Bác Hồ khen Xuân Thủy dịch lưu loát nhưng thiếu của Bác một chữ Xuân. Ðúng là ở câu thứ hai:

Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên

được dịch là:

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

vẫn thiếu một chữ xuân hay nói đúng hơn là một chữ xuân được hiểu ngầm.

Từ đấy nhận xét của Bác làm cho nhà thơ Xuân Thủy băn  khoăn và tìm cách dịch cho đủ ý, đủ câu chữ. Trong một lần khi viết về thơ Xuân Thủy tôi có dịp gặp ông. Tôi đến tòa nhà ở phố Lý Thường Kiệt, cạnh trường Trưng Vương gặp ông chuyện trò về thơ Xuân Thủy. Tác giả rất tỉ mỉ về câu chữ và khi chuẩn bị ra về ông tặng tôi bài thơ dịch Nguyên tiêu qua hai bản dịch mới. Tôi đọc và cảm phục tài thơ của ông.

Rằm xuân vằng vặc trăng soi
Xuân sông, xuân nước, xuân trời đẹp thay
Việc quân bàn giữa sương dày
Khuya về bát ngát thuyền đầy ánh trăng

Rằm tháng giêng trăng tròn vành vạnh
Hòa sông xuân, nước xuân, trời xuân
Nơi khói sóng luận bàn quân sự
Khuya thuyền về bát ngát trăng ngân

Nhìn chung cả ba bản dịch đều hay. Bài thứ ba tác giả cố gắng dịch theo thể thất ngôn tứ tuyệt phù hợp với nguyên tác có đặc điểm và giá trị riêng. Tôi muốn luận bàn nhiều hơn đến bản dịch đầu.

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Câu thơ đẹp nói được không gian cổ kính và linh thiêng của căn cứ địa Việt Bắc. Hai chữ lồng lộng hàm ý đó. Lồng lộng vừa nói lên một không gian rộng lớn, không u tịch, nặng nề mà bát ngát nên thơ. Câu thơ đó tuy không thật sát nghĩa với nguyên bản

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

(Ðêm nay, lễ nguyên tiêu vầng trăng tròn ở chính ngôi vị trên bầu trời)

Ở bản dịch thứ hai câu thơ đầu được dịch sút kém hơn.

Rằm xuân vằng vặc trăng soi

Hai chữ vằng vặc quen thuộc gần gũi như vốn được dùng trong tục ngữ ca dao. Lồng lộng là từ ngữ có phần hiện đại hơn. Câu thơ thứ ba Giữa dòng bàn bạc việc quân là câu thơ dịch hay nhưng chưa thật sát với ý trong nguyên bản “Yên ba thâm xứ đàm quân sự”. Hai chữ “Thâm xứ” chưa được diễn tả đầy đủ. Cũng vì thế nhà nghiên cứu GS  Hoàng Xuân Nhị đã nói một cách ý nhị là câu thơ còn thiếu cảnh giác khi miêu tả việc quân giữa dòng trong không gian thiếu kín đáo. Bản dịch thứ hai đã dịch sát hơn với nguyên bản.

Việc quân bàn giữa sương dày

Câu thơ thứ tư của bản dịch đầu gây ấn tượng đẹp về ý nghĩa và ngôn từ ngân vang.

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền. Câu thơ có mô phỏng câu thơ cuối trong bài thơ cổ Trung Quốc.

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bài Nguyên tiêu, nhất là hai câu kết làm chúng ta liên tưởng đến bài thơ Phong kiều dạ bạc của Trương Kế.

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

(Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn)

Bài thơ của Trương Kế có những hình ảnh gợi cảm vầng trăng tà, ngọn lửa chài, tiếng quạ kêu sương, tiếng chuông chùa Hàn Sơn. Nhưng tất cả gợi cảm hứng buồn, cô đơn của du khách. Mượn lại một đôi hình ảnh nhưng Rằm tháng giêng là bài thơ ra trận với cảm hứng hào hùng mà kín đáo. Vầng trăng về khuya  đẹp nhưng không buồn mà chứa chan cảm hứng trữ tình hòa hợp giữa con người và thiên nhiên:

Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Một bản dịch sát đúng nguyên bản và đẹp, đó là đóng góp nhỏ của Xuân Thủy trong việc dịch thơ Bác.” 

GS Hà Minh Ðức

Phần nhận định của Gs Hà Minh Đức – nguyên văn như trên- khá tinh tế, TMCS xin nhường phần bạn đọc xem xét, thẩm định. 

Riêng bản dịch thứ ba, Gs HMĐ  gọi là “thất ngôn tứ tuyệt hợp với nguyên tác có đặc điểm và gíá trị riêng”, TMCS thấy là chưa hẳn như vậy, vì  có v/đ về niêm , luật . 

Cũng có thể là ông Xuân Thuỷ đã cố ý dịch theo kiểu Thơ mới, song như vậy là trái với quy ước về dịch thơ luật Đường: Một bài thơ luật Đường, nếu muốn dịch thành thơ, chỉ được dịch thành thơ nôm cùng thể loại (luật Đường ) hoặc lục bát, chứ không được dịch sang bất kì thể loại nào khác  ! Còn nếu phải coi đây là bài dịch theo thất ngôn tứ tuyệt luật Đường thì rõ ràng đã bị “thất niêm , luật”.

Thực tế, theo TMCS thì bài dịch đầu tiên, chưa chỉnh sửa tuy thiếu một chữ xuân, thiếu ý bàn việc quân trong khói sương dày sâu…nhưng toàn bộ bản dịch đã là một bức tranh toát lên vẻ đẹp nên thơ, đúng như cái thần của nguyên tác, nên vẫn được lưu hành rộng rãi nhất. Ai cũng yêu thích.

Cả nguyên tác và bản dịch đều rất nên thơ, không chỉ vì thiên nhiên đẹp  mà vì chính vì người đọc qua lời nguyên tác và lời dịch đã cảmthấy  hồn Việt nam, tinh hoa dân tộc VN bàng bạc trong toàn bộ bức tranh mà những nhân vật trong tranh  không được nói đến  cụ thể mà chỉ nêu ra là đang “đàm quân sự” (bàn việc quân). Thời đó- những năm mở đầu đầy gian khổ, khó khăn của cuộc KC chống thực dân Pháp – bàn việc quân (đàm quân sự), tức  bàn việc Nước( đàm quốc sự) là vô cùng hệ trọng, liên quan đến vận mệnh, tồn vong ngàn cân sợi tóc của Tổ quốc thiêng liêng, khiến mỗi người VN yêu nước, yêu Thơ đều CẢMthấy nao lòng mến cảnh, kính người…Bài thơ đã hay và đẹp lên bội phần nhờ cái CẢM của người đọc trong bối cảnh lịch sử đó !

Bài thơ thành công chính nhờ yếu tố truyền CẢM  trong bối cảnh lịch sử ấy.. Chỉ có người Việt nam yêu nước và người nước ngoài yêu Việt nam thực sự như những  người Việt nam chân chính, khi đó mới có được  nỗi niềm CẢM này.  CẢM một cách tự nhiên, chả cần mổ sẻ , phân tích câu chữ làm gì … đã thấy được cái ĐẸP lung linh của bài thơ và bản dịch ! Cảm  là từ trong “tâm” 心 mà ra, xem chữ Hán, chữ Tâm 心 làm nền cho chữ CẢM. Khi cả một dân tộc đứng lên giữ nước thì còn gì sánh nổi hình ảnh bộ tư lệnh tối cao của họ trong đêm trăng rằm đầu Xuân, đang bàn chuyện đánh tan bọn xâm lăng, gìn giữ non sông đất nước…

Thảo nào Tagore đã chỉ ra : ngôn ngữ THƠ quan trọng đến từng chữ, từng từ, từng dấu chấm, dấu phảy, nhưng có lúc không được quá LỆ THUỘC chúng, cả khi sáng tác, dịch thuật hay phê bình ! Câu của Tagore có chút gì đó phảng phất thành ngữ “ ý tại ngôn ngoại” mà TMCS muốn Nôm hoá và chỉnh lại chút xíu để lí giải nguyên do tại sao như vậy : “ … ấy là khi niềm CẢM XÚC đã trào dâng, vượt ra khuôn khổ lời nói, cũng là lời văn hoặc lời thơ… “ !

TMCS đã nhiều lần nhắc đến khái niệm CẢM 感 này, chả biết từ CẢM này có “lọt” mắt xanh bạn đọc nào không ??? Khi đã CẢM phù hợp với đạo lí, chính nghĩa thì tự nhiên trong cảm đã hàm chứa không chỉ có tình mà cả trí tuệ nữa, vì trước tiên muốn cảm đúng phải có cái TÂM trong sáng. Hèn chi, trong chữ Hán Việt, cái nền của chữ CẢM 感 là chữ TÂM 心 ở bên dưới,  chữ mà Nguyễn Du từng đánh giá là : Chữ TÂM 心 kia mới bằng ba chữ TÀi 才!  

( Xin mở ngoặc  – lạc đề chút xíu để làm rõ ý này – phần dưới sẽ “gõ” thêm : Tố Hữu dịch Жди меня – Attends-moi – Đợi anh về của Konstantin Simonov từ bản thơ Pháp, nếu đem soi kĩ  cả về từ ngữ, giai điệu thì như ý Thuý Toàn đã nhận xét, nguyên văn sẽ nêu ở phần riêng bên dưới, trước mắt TMCS tạm diễn đạt như sau ”… nhiều chỗ khác xa nguyên tác, nhưng lại là thành công nhất, so với hàng chục bản  dịch tiếng Việt khác, bài thơ do Tố Hữu dịch nhiều chỗ đã không câu nệ câu, chữ nguyên tác mà nhắm thẳng vào lòng người đọc Việt nam nhất, và làbản dịch duy nhất được ghi nhớ trong lòng người đọc Việt nam, những bản khác chả được mấy ai nhớ đến !”. Từ cái thuở xa xưa ấy, lạc vào vườn Thơ, nhất là Thơ DỊCH, như một “chú nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô “, TMCS ngay thoạt đầu đã NGẨN NGƠ (có lẽ là TRÁI KHOÁY nhất trong hằng hà sa số người đọc thời ấy) vì phát “minh” ra cái tiêu đề của Tố Hữu dôi ra từ về”, cả nguyên tác và các bản dịch khác chỉ là “Đợi anh”, “Hãy đợi anh”.   Theo TMCS dịch như vậy đúng là “đặc xệt” Mode Impératif” của ngữ pháp phương Tây, còn thêm VỀ vào như Tố Hữu thì không phải là Mode “mệnh lệnh” phát ra như bằng một “Ton impératif” (Giọng điệu sai khiến, ra lệnh) nữa, mà là Mode “nhắn nhủ  yêu thương”. ÂM ĐIỆU nghe cũng tràn trề tính dịu dàng, âu yếm ! tất cả được Việt nam hoá 100%, đồng thời cũng có lẽ Huế “hoá” 100% !  Tuổi càng cao, “tương cà mắm muối” thấm càng sâu, đến mức hiện nay TMCS vẫn càng không thích nghe ai đó nói “Đợi anh”, “Hãy đợi anh”, đúng như “Mode mệnh lệnh” kiểu tây, mà phải uyển chuyển, dịu dàng  kiểu Việt nam, hơn nữa: kiểu “  Huế” của Tố Hữu, cả ý, cả lời, cả âm điệu… nghe thấm thía lắm…Xin  nhấn mạnh: Với NHẠC CẢM của TMCS thì từ VỀ  của Tố Hữu trong Đợi anh VỀ vang lên như một nốt nhạc thần kì… góp phần đưa bản dịch này vượt lên tất cả các bản dịch khác ra thơ Việt…( Chợt bỗng dưng TMCS nhớ đến lời cụ Văn Cao buổi sinh thời: Tôi cố trang bị cho mình cỗ xe tam mã : Thi, Nhạc, Hoạ để rong ruổi trên con đường Nghệ thuật của mình! Với từ Về trong Đợi anh về, bằng tính NHẠC của từ về- la Musicalité du mot “về”– nó đem chất Nhạc vào ngay từ tiêu đề , Tố Hữu đã có cỗ xe song mã tuyệt vời !!! nó vượt qua hàng chục bài khác, bất chấp dăm ba chỗ dịch giả CỐ TÌNH, CÓ DỤNG Ý  “xộc xệnh” về chi tiết để Việt hoá cho bài thơ dễ vào lòng người thời đó ). Dù có bị  “thiểu số tuyệt đối” TMCS vẫn bảo lưu sự “cảm” này ! Đó là quyền bất khả xâm phạm của người đọc thơ cũng như người làm thơ vậy. … Tất nhiên đếm xỉa làm chi, những kẻ ở bên kia chiến tuyến, bọn khốn kiếp ấy bao giờ cũng CẢM ngược lại… ! Càng ngẫm nghĩ, TMCS  càng thấm thía:  Nhìn bao quát cả bài, “ Đợi anh về ” của Tố Hữu rất trung thành với nguyên tác và hợp với  cách “CẢM” 感 của người VN nhất….Trong lòng ( tâm: 心 ) người VN nào cũng ngầm hiểu cái tiêu đề trong lời dịch của Tố Hữu ngụ ý là : Đợi anh chiến đấu trở về, Đợi anh chiến thắng trở về, chứ không phải là Đợi anh đi bất kì đâu, làm bất cứ việc gì… Cả bài, nói chính xác hơn là rất nhiều câu trong bài,  cũng tương tự như vậy… Theo TMCS, dịch như  Tố Hữu trong trường hợp này, quả là một tài năng, biết CẢM  và truyền CẢM theo cung cách rất dân tộc, rất VN, hơn nữa dịch giả biết “bắt mạch” thời đại, dịch như thế nào để vào lòng người đọc khi đó, thế mới xứng đáng là CAO THỦ ! người ta biết là thơ dịch , nhưng khi đọc lại quên đi là đang đọc thơ dịch và xúc cảm, rung động hệt như khi đọc những bài thơ khác mà Tố Hữu sáng tác… ! TMCS từ lúc mái tóc còn xanh, đọcChinh phụ ngâm của Đoàn thị Điểm chỉ mươi, mười lăm câu là quên “phắt” đây là bản dịch từ nguyên tác của Đặng Trần Côn ! Xin khẳng định 100% TMCS là kẻ ngoại đạo, văn chương kém cỏi, nhưng có lẽ nhờ chữ TÂM 心 trong chữ CẢM mà thường hay “hú hoạ” cảm được cái hay, vẻ đẹp trong văn thơ. Trường hợp “CẢM” được chữ VỀ trong Đợi anh VỀ của Tố Hữu chắc cũng nhờ lí do “ăn may” vậy ! Người khác không cảm như vậy, chẳng mấy ai bàn đến chữ VỀ này, nhưng TMCS thì thấy rất yêu quý vì nó rất VN ! Chả biết có phải “Đợi anh về” của Tố Hữu tuy chưa  giống hẳn thì cũng “hao hao”,”na ná “ như khi TMCS đọc CPN- nhưng ở cung bậc khác nhau – chăng ? Cũng rất có thể nhân dân ta thích  và thuộc thơ Đợi anh về vì tâm trạng  nhiều người ở ta lúc ấy tương tự tâm trạng của Ximonov  khi xa vợ mình là chị Valentina Serova để đi chiến đấu. Hàng chục bản dịch khác chỉ nặng về dịch đúng từ và ngữ, nhưng về “nghệ thuật” không khớp lắm cách truyền  CẢMđậm tính dân tộc VN như trong bản dịch Tố Hữu…Hình như dịch “đúng” là thiên về ý niệm từ-ngữ, còn dịch “hay” là thiên về nghệ thuật “chinh phục”lòng người- nhưng hai ý niệm này không đối lập, tách rời  nhau mới dung hoà được, tổng hợp lại để đi đến hiệu ứng chung: đem lại cảm xúc thơ đích thực và phong phú nhất cho người đọc …)

Với TMCS, bản dịch ứng khẩu ban đầu của Xuân Thuỷ chả cần chỉnh sửa đã đẹp, về nghệ thuật đã có những nét hao hao,na ná, tương tự như ĐTĐ dịch Chinh phụ ngâm, hay TH dịch Đợi anh về…  

TMCS xin nhấn lại : Điều kiện tiên quyết để CẢM được cái ĐẸP của áng thơ tuyệt tác  NGUYÊN TIÊU  là lòng yêu nước Việt nam ! Không có điều kiện này,  đọc bài thơ cũng VÔ CẢM, chẳng khác nhìn bức vách !!!(ngoài điều kiện tiên quyết nêu trên ra, còn  cần gì nữa, điều đó không thuộc phạm vi bàn bạc của TMCS…ít nhất trong phạm vi bài này ! )

Khi còn ở VN, TMCS đã nhiều lần “phượt” * xe máy với bộ đồ nghề lỉnh kỉnh giá, bút, thuốc màu…đi vẽ nhiều vùng miền, thấy đất nước mình quanh năm, cả ngày lẫn đêm, đâu cũng có cảnh đẹp, nhưng… ĐÊM NGUYÊN TIÊU vào tháng 2 năm 1948 trong bài thơ  của chủ tịch HCM  và bản dịch của ông Xuân Thuỷ  sao lại đem đến cho mọi người cái CẢM về một vẻ ĐẸP kì diệu đến vậy ??? TMCS ngâm nga và ngẫm nghĩ…Thì ra cái ĐẸP hiện ra, xuất phát từ ba chữ “ ĐÀM QUÂN SỰ”, “BÀN VIỆC QUÂN” . Bộ tư lệnh tối cao – linh hồn của cuộc KC đang bàn cách diệt giặc xâm lăng , cứu nguy cho Tổ quốc…Đó là công việc truyền thống của VN ta…Nhờ đó ta đã có chiến thắng Bạch đằng, Chi Lăng, Ngọc Hồi, Đống Đa,…  rồi Điện biên phủ, rồi đại thắng 30/4/1975… Với TMCS, bài thơ này sẽ được hậu thế ngàn đời ghi nhớ cùng các chiến dịch lớn nhỏ trong cuộc KC giữ nước với chiến công ĐBP lừng lấy năm châu, chấn động địa cầu…

 
(* Phượt: 

TMCS hiểu phượt là đi “du lịch bụi” chủ yếu bằng  xe máy. Có người giải thích “phượt” là tiếng lạch phạch, lượt phượt do gió thổi vào áo mưa khi ngồi xe máy, TMCS thì chú ý đến âm “ượt” trong “vượt” nói chệch đi….

Người đi phượt gọi là Phượt thủ.

Nguồn gốc: có nhiều, nhưng chưa xác minh được (có người bảo  từ này xuất hiện lần đầu trong  truyện Me tây, do ông Doãn Dũng khởi xướng, nhưng nhiều Phượt thủ lão làng cho TMCS biết từ này có từ lâu, trước khi Truyện Me Tây ra đời  v.v…). TMCS cũng chưa gặp từ này trong từ điển  Việt-Việt nào, nhưng dùng mãi thành quen và thấy …HAY ! chả có gì là không “đứng đắn”, “lưu manh”, “ hạ đẳng” hay lộn xộn cả… 

Ngược lại, cùng chung một đam mê, rủ nhau đi “PHƯỢT” thấy thân mật, ruột thịt, chí cốt  lắm…Nghe thấy từ “Phượt “ của nhau dù mới chỉ hẹn hò qua phone là đã NHƯ CHUNG MỘT HƠI THỞ CỦA NHỊP SỐNG…Các “bác” Tháp Ngà trên cao ” tít mù tịt “, tự coi mình là các nhà thông thái, chuyên vùi đầu vào sách vở và bộ nhớ cũ mèm, cứ thấy tiếng “lóng” là ghét lấy ghét để, thậm chí khinh miệt, chả hiểu gì về cuộc sống sôi động chung quanh, nhưng luôn luôn muốn dạy bảo CUỘC ĐỜI, thật đáng thương hơn là đáng giận ! 

Từ Phượt thủ không dùng cho Tây ba lô, du lịch ba lô chung chung ( backpacking tourism ).

Ôi! biển học mênh mông lan đến mọi ngõ ngách của cuộc sống, các học “giả “ Tháp Ngà coi đây là ngôn ngữ bụi (street language) tương tự như tiếng lóng “thấp kém”, không thèm màng tới, nhưng TMCS thì “học tất tần tật ” ! Với TMCS, ngôn ngữ đường phố nước nào cũng HAY như bóng đá “phủi” (street football) – đến bây giờ đôi khi TMCS vẫn tham gia – gặp nhiều “tài tử” chơi rất hay. Về kĩ xảo họ chuyền bóng, đi bóng, đánh đầu, sút phạt ” vòng cầu quả chuối ” đưa  bóng bay vượt hàng rào vào khung thành đối phương… như “nghệ sĩ”, đặc biệt có người tâng bóng cả nửa giờ đồng hồ không rơi bóng bằng nhiều tư thế rất “hiểm”, TMCS đã tôn làm họ “sư phụ”, dù trên sân cỏ bây giờ, hôm nào TMCS cũng là “anh” già khụ khị nhất, luôn cười khì khì mỗi khi để mất bóng, đẩy đội mình vào tình thế chao đảo , ngàn cân sợi tóc, THẾ MÀ CÁC ĐỒNG ĐỘI NHÍ TUỔI TEEN (học sinh cấp hai) KHÔNG AI NỠ LÒNG OÁN GHÉT, người xem đa số là phụ huynh các em h/s LẠI CÒN VỖ TAY KHEN MÊ LI… !

Xin lỗi quý vị, lại chót quá đà… )

KL nhỏ xíu của TMCS:

Những ai hờ hững với sự nghiệp vĩ đại của nhân dân VN trong cuộc KC chín năm sẽ không thấy gì trong bài thơ Nguyên Tiêu, những kẻ ở bên kia chiến tuyến, bọn xâm lăng và bè lũ tay sai liếm gót giặc là những tên đui mù, thong manh, điếc lác trước vẻ đẹp vừa hoàng tráng vừa thơ mộng của bài Nguyên tiêu, cả trong nguyên tác lẫn thơ dịch.  Giọng ngâm âm vang hào sảng của các nghệ sĩ ta trong mục Tiếng Thơ, trên đài TNVN một thuở xa xưa, chắc đã làm chúng siêu hồn bạt vía như sấm sét nổ trên đầu khi nhận ra những người chỉ huy cuộc chiến đấu thần thánh này ắt hẳn phải nắm chắc thắng lợi trong tay ngay từ buổi đầu mới có thể ung dung thư thái mà làm mà dịch ra những câu thơ tuyệt vời như Nguyên tiêu- Rằm tháng giêng !… 

Bài thơ Nguyên tiêu và bản dịch (ban đầu) đã có  tiếng vang lớn và đem lại một gợi ý rất thi vị để hàng năm vào dịp Rằm tháng Giêng ở Văn Miếu lại mở HỘI THƠ do Hội nhà THƠ VN chủ trì. Nghe nói, đôi khi có những thiếu sót , hời hợt khiến người dự chưa được hài lòng… Nếu quả vậy, mong các nhà tổ chức quan tâm khắc phục ! Nó có nhiều ý nghĩa văn hoá hơn nhiều thứ lễ hội “lỗi thời” khác, cần dẹp bỏ.

TAGORE- TẦM VÓC & ẢNH HƯỞNG – ẤN TƯỢNG

Rabindranath Tagore, hay Rabindranath Thakur, (6 tháng 5 năm 18617 tháng 8 năm 1941).

Tagore là một nhà thơ Bengal, triết gia Bà La Môn, nhà tiểu thuyết, nhà viết kịch, nhà sáng tác nhạc, hoạ sĩ, nhà dân tộc chủ nghĩa … được trao Giải Nobel Văn học năm 1913, trở thành người châu Á đầu tiên đoạt giải Nobel.

TMCS xin trích mấy con số ấn tượng về sự nghiệp đồ sộ của Tagore:

Thơ: 50 tập – hơn 1000 bài, bài sớm nhất đăng năm 14 tuổi.

Tiểu thuyết: !2 bộ dài và vừa.

Truyện ngắn và kí : hàng trăm.

Kịch: 42 vở

Tranh vẽ : 2000 bức.

Bài hát: hơn 2000 bài

Quốc ca: 2 bài. Một bài là quốc ca Ấn độ. Một bài là quốc ca Bangladesh.

Gandhi (cũng như mọi người Ấn Độ) gọi Tagore là “Gurudev” – Thánh sư.Thơ ông đến với độc giả người Việt qua các bản dịch của Đỗ Khánh Hoan, Đào Xuân Quý và một số dịch giả khác.

Đặc biệt là Tagore đã sáng tác chủ yếu bằng tiếng mẹ đẻ rồi sau đó tự mình chuyển ngữ sang tiếng Anh, và nhiều khi ngược lại, tuy nhiên, số tác phẩm ông dịch sang tiếng Anh cũng chỉ chiếm non nửa. Trong khi, tiếng Bengali chỉ là một thổ ngữ trong hàng trăm thổ ngữ của Ấn Độ nên đa số người Ấn Độ học vấn trung bình thời đó không đọc được thơ Tagore. Có lẽ vì thế mà ý kiến của bà Shamila Tagore – cháu gái nhà đại thi hào – là cần phải dịch các sáng tác của Tagore sang tiếng Hindi (thứ tiếng hiện được trên 40% người dân Ấn Độ sử dụng) hơn là sang tiếng Anh, là một ý kiến nghiêm túc rất cần được lưu tâm.

TMCS có cơ duyên vài lần tới Ấn độ, được các bạn Ấn thân quen tặng một số tác phẩm của Tagore và một số bài viết về Tagore. Điều lí thú với TMCS là trai gái Ấn độ rất thuộc thơ Tagore và thường tỏ tình qua thư từ và khi gặp gỡ bằng những câu thơ đẹp đẽ của Tagore ( tương tự như ở Vn, người ta lẩy Kiều…). TMCS đã được đọc những dòng này trong một cuốn sách tiếng Anh : Toàn bộ thơ của Tagore là những lời tâm sự của kẻ đang yêu, chính Tagore đã tự nhận : Tôi là người Tình của nhân loại – I’m the sweetheart of mankind ! Câu chuyện sau minh chứng cho nhận xét trên của học giả người Anh .

…Dưới đây là một kỉ niệm êm đềm của TMCS về thơ Tagore trên CHÍNH mảnh đất nơi Ông được sinh ra:

Hôm ấy, TMCS đến một khu ngoại ô của Tp Calcuta thăm gia đình một anh bạn trẻ Ấn độ. Chả nhớ nguồn cơn đầu đuôi  xuôi ngược  nào đã đưa đẩy câu chuyện hôm ấy bỗng nhiên hướng vào thơ Tagore …Rồi bà mẹ anh bạn  cho TMCS xem mấy trang thư, giấy đã ố vàng viết bằng phương ngữ. Bố anh bạn vắng nhà có khi hàng tháng trời, hôm ấy cũng không ở nhà , vì bận công việc ở thủ đô New Delhi, anh bạn trẻ đã giới thiệu với TMCS : Cả bức thư là một bài thơ tình khoảng trăm câu của Tagore mà bố tôi đã chép nắn nót từng con chữ gửi mẹ tôi trước khi hai người lấy nhau. Áp chót, ngay trên từ LOVE (Yêu) và chữ kí (của bố anh bạn trẻ này ) là dòng chữ:  “ Em yêu, TAGORE viết về chúng mình đấy !” – Bà cụ khẽ khàng, nhỏ nhẹ giải thích cho TMCS bằng tiếng địa phương – có nhẽ bà muốn nói cho hết ý nên đã bảo anh bạn trẻ  dịch sang Ăng-lê cho TMCS khá kĩ và nhiều, nhưng TMCS nhớ nhất là câu nói sau của bà cụ :

Ông ấy nhiều lần bảo tôi, anh chả biết viết cho em thế nào, Tagore viết tốt hơn anh nhiều, nhiều lắm, nhưng anh cảm thấy dường như vẫn chưa hết điều mà anh muốn ngỏ với em…”

– TMCS lặng người: Tagore ơi ! ông mới thực là Người hạnh phúc nhất trần gian… Tài năng vĩ đại của ông, viết ra hơn ngàn bài Thơ bao gồm đủ mọi chuyện lớn nhỏ trên đời, lại có thể dùng để trai gái bao thế hệ mượn lời thơ ông tỏ tình, nỉ non  thổ lộ niềm thương nỗi nhớ với nhau thì chỉ do Trời phú mới có, chứ học ở Trường nào được…Bao năm qua, TMCS trôi dạt biết bao phương trời, đến tận nước Anh, viếng mộ Karl Marx, xem bóng đá ở sân vận động Old Trafford có biệt danh là “Nhà hát của những giấc mơ” của Man United, và để thoả chí tò mò : tìm  thăm trường cũ của Tagore ở xứ xở sương mù…TMCS rất ngạc nhiên khi người bạn Anh dẫn TMCS đến trường ĐH Luật, ở đó người ta nói với TMCS rằng: Tagore chưa học xong ĐH ở đây đã bỏ về nước… Hoá ra tài năng đâu cứ nhất thiết cứ phải có bằng cấp ĐH hoặc Cao học…Bao năm qua rồi mà TMCS vẫn nhớ như in cái tích người Ấn độ tỏ tình bằng thơ Tagore…, nếu chỉ đọc trong Tháp Ngà chắc là quên sạch, nhưng qua lời TÂM TÌNH từ đáy lòng được nghe nơi đất khách quê người thì nhớ mãi…Với TMCS, ngôi nhà nhỏ ở ven Calcuta chính là một lớp học trong TRƯỜNG ĐỜI…mà những người giãi bày TÂM SỰ ( 心 事) với TMCS ở đó đã không nhận ra: Họ chính là bậc THÀY của  lãng tử TMCS ! Điều đáng quý nhất ở họ là tính đôn hậu, đức khiêm tốn, lòng cởi mở, tình mến khách, niềm tin người …dù là với khách phương xa, sơ ngộ như TMCS…Tuy vụng về, nhiều khi khờ khạo nhưng TMCS đã chân thành đền đáp lại bằng tất cả những gì tốt đẹp nhất mình có được trong lòng với hai mẹ con bà cụ Ấn độ ấy…Cũng từ đó, TMCS hiểu sâu hơn hai chữ TÂM SỰ mỗi khi thoảng nghe hoặc chợt nghĩ đến thơ Tagore, nhưng chắc vẫn còn cần học hỏi thêm nhiều…Hai mẹ con bà cụ người Ấn độ chắc  với thời gian ngắn ngủi mới chỉ kịp cho TMCS bài học vỡ lòng RẤT QUÝ về Tâm và Sự – Chuyện của Lòng …

TMCS rút ra một CHÂN LÍ cực kì đơn giản :

Ngôn ngữ MẸ ĐẺ theo dòng sữa mẹ vào cơ thể ta, ngấm sâu vào tâm hồn ta và nuôi ta trọn một kiếp người, cả phần xác lẫn phần hồn ! Còn ngoại ngữ ư ? Không hề có sẵn trong sữa mẹ, hay bất kì loại thực phẩm nào, kể cả sơn hào hải vị, hay thần dược, tiên dược,  mà phải khổ học ! Với TMCS, ngoại ngữ chỉ là phương tiện để học điều hay lẽ phải, trau dồi nhân cách, mở mang hiểu biết, chứ không phải là mục đích. Học giỏi tiếng Tây để tự Tây hoá, mất đi cái gốc Việt quý giá của mình thì chẳng những vô dụng mà còn độc hại nữa !!! Bởi vậy, TMCS thường tự răn mình: chớ bao giờ hợm hĩnh, và cũng đừng khi nào tự ti vì kiến thức ngoại ngữ… Hãy cứ mải miết học  nữa, học mãi…Phải luôn nhớ mình còn non kém thì mới nhúc nhích lên phía trước được ( nhưng khi ngao du xa xứ, chớ để kẻ ngoại bang ỷ thế “bản ngữ” coi thường, lấn át, giẵm lên đầu mình tuỳ tiện !)… Tháp ngà là trường học của các nhà quý phái, với thường dân như TMCS thì sau khi học ở trường lớp là học ở TRƯỜNG ĐỜI : Học nơi “nhà nhỏ, ngõ nhỏ, phố nhỏ”, cả ở chợ trời, sân bóng , vỉa hè, quán nước, bến xe, rạp hát…Ai đó, có thể chưa biết chuyện này , muốn vô tình “giảng hoài” cho TMCS mấy điều mà hai mẹ con bà cụ Ấn độ đã “tâm sự ” với TMCS thì việc họ làm chỉ là  cố đem mớ lí thuyết suông nhồi nhét cho TMCS, chẳng khác chi đem“ nước đổ đầu vịt ”…TMCS chỉ hợp với cách học qua tâm và tình của người thực việc thực… “. Ngồi vui kể chuyện TÂM  + TÌNH bên nhau “ (thơ Bộ đội về làng – HTT -) là rót vào lòng nhau những lời tâm sự từ đáy lòng, cũng vừa là học nhau, vừa là dạy nhau vậy, dù là tây, tàu hay ta thì cũng phải trên tư thế bình đẳng chan hoà : anh giỏi thứ này, tôi hay món khác! TMCS thường học trong các tình huống tương tự ! Ôi chao , bao là năm tháng, vẫn cứ nhớ như in…dù vốn Ăng lê đến gần chót đời vẫn chỉ … cà cộ ! so với dân bản ngữ, TMCS vẫn còn đang bi-bô như một chú bé lên ba…vì từ thuở lọt lòng chỉ bú dòng sữa mẹ Việt Nam…Nhưng đã là những gì thuộc về tâm sự thì đâu cần phải tinh thông “thiên kinh, vạn quyển” mới thấu hiểu được. Chỉ với chút vốn ngoại ngữ nhỏ nhoi, TMCS có cảm giác vẫn tiếp thu được đầy đủ, RẤT ĐẨY ĐỦ, những chuyện “muôn đời không nói ra” trong các lời tâm sựcủa tri kỉ muôn phương…tất nhiên là hiểu với tâm thế của một người VN 100%. Tang bồng hồ thỉ khắp nơi, va chạm với người tứ xứ bằng các ngôn ngữ của họ, kém thì TMCS có thể sẵn sàng chấp nhận, nhưng HÈN thì chưa bao giờ  và mãi mãi không , vì mình mang dòng máu Việt, không thể hèn được… Họp hành, hội nghị hội thảo không nhớ là bao nhiêu cuộc ở những nước nảo, nước nào bằng các ngôn ngữ Anh, Pháp, Nga, Tàu…chưa bao giờ TMCS “run” ,  ! Còn giao tiếp ngoại ngữ ở chợ trời, tiệm ăn, siêu thị, sân bóng đá, quán cà-phê, bãi gửi xe … đó là chuyện cơm bữa ở nước ngoài của TMCS. TMCS chỉ hay “ngượng” (xấu hổ) vì mình viết tiếng Việt xoàng quá, còn nói và viết ba thứ tây, tàu  nếu dở thì …học thêm , có sao đâu, “ai cười hở mười cái răng” !!! TMCS còn nhớ cái  tích cụ Huỳnh Thúc Kháng – sau này là Phó Chủ tịch nước Việt nam DCCH – khi cụ ra tờ báo La voix du peuple (Tiếng Dân) bằng tiếng Pháp. Gặp lũ Tây thuộc địa vênh vang chê tiếng Pháp trên tờ báo của Cụ nhiều chỗ dở, cụ thản nhiên trả lời: Thế thì mời các ông ra báo tiếng Việt đi ! Bọn chúng câm như hến !…Ông tây bà đầm nào mà “chê” TTTB@, có lẽ TMCS cũng sẽ học tập bậc tiền bối họ Huỳnh mà “phản đòn” tương tự…May quá, bao năm nay, điều này chưa từng xảy ra “nửa” lần nào. TMCS đã rút ra bài học : khi mình biết tự trọng đúng mức, thì lỡ có kẻ xấu, chúng cũng phải…”co vòi”, ngậm miệng… !

Theo TMCS được biết, đến hiện tại, cực hiếm , hầu như chưa có tờ báo, trang mạng nào của dân gốc tây  tầu , “dám”  giới thiệu đều đặn thơ của nước họ (Thơ nguyên tácmade in tây , tầu) dịch ra Thơ tiếng Việt  tương đương với TTTB@ dùng ngôn ngữ của họ để dịch thơ Việt thành thơ tiếng nước họ một cách đều đặn, hết năm này sang tháng khác…với số bạn đọc ngày càng đông đảo…Bạn đọc nước ngoài yêu thích thơ Việt – dù mới chỉ là thơ dịch, có phần còn hạn chế nhất định về chất lượng – tức là họ ĐÃ YÊU VIỆT NAM, TTTB@ và TMCS chi mới dám mong có đến vậy !

…Có một câu Tagore viết khi tranh luận với một nhà phê bình VH luôn tự coi mình  ở vị trí “chiếu trên” thiên hạ, làm “tiên chỉ” trong làng Văn Ấn độ lúc bấy giờ, mà TMCS tâm đắc và nhớ đến tận nay là :

“ … ngoài các lí do nêu trên, hơn tất cả, ông không phải là tôi, vậy “Xin ông , Đừng dạy tôi cách tôi phái hiểu bản thân tôi như thế nào” –  Câu tiếng Anh rất rành mạch : “ Don’t teach me, please, how  I must understand myself !”.

TMCS cũng rất thích và thấm thía câu của Tagore : không có ranh giới rạch ròi, cụ thể và thước đo chính xác cái CẢM (Feeling) trong thơ. 

Chưa biết quý vị thấy thế nào, nhưng bản thân TMCS thấy rằng câu nói, việc làm nào, lãnh vực nào , Tagore cũng chí lí, chí tình quá ! Trong nghề nghiệp, ông răn đe  người giỏi giang không được “mục hạ vô nhân”, ông động viên kẻ non yếu chớ tự ti chùn bước  trước các “ngoáo ộp” phê bình gia ! trong đời thường, ông gần gũi, yêu thương tất cả, ông nói điều Tâm sự của mọi người bằng ngôn ngữ thơ ca, văn học của mình…Hẳn là, chừng nào còn dãy Himalaya và dòng sông Hằng thì trai gái  Ấn độ còn tỏ tình với nhau bằng những câu thơ ngọt ngào của  Tagore. Hèn chi mà cả thế giới đều công nhận Toàn bộ thi ca của Tagore  là những lời Tâm sự (心 事) của một kẻ đang yêu, dù trong những điều cao siêu ông ngỏ với Đức Phật hay những lời bình dị ông dành cho người phu quét rác quê ông, từ lời lẽ đến ý tứ, cứ hệt như ông đang tâm sự với người thân yêu nhất ! Còn ông thì thì tự nhận  “Tôi là  người tình của nhân loại” – I’m the sweetheart of  mankind ! Với TMCS, trái tim  ông  nồng hậu vô bờ vô bến, ở đó trí tuệ và tình cảm, tư duy và cảm xúc, dân tộc và nhân loại, tín ngưỡng và khoa học, văn minh và văn hoá… tất cả giao hoà với nhau, không có sự xung đột tầm thường nào , không thể chia cắt, tách bạch rạch ròi được… Những năm TMCS đến Ấn độ, quốc gia này đã có một nền điện ảnh rất phát triển, hầu như phim nào TMCS vào rạp xem cũng có  múa dân gian, cổ  điển trong tiếng hát du dương phỏng lời thơ, ý thơ  Tagore…TMCS thấy thích và hợp với cái tạng “phương Đông” của mình hơn là xem phim Hàn quốc hiện đại, từ lời ca, giọng hát, điệu nhảy đến cung cách ăn mặc, trang điểm, yêu đương v.v của mấy “Sao” Hàn (Korean stars), thậm chí cho tới cả bọn “fans” (hâm mộ) họ …thảy thảy đều “tây” quá …Vở kịch Tagore viết về Đạo Phật có lẽ theo TMCS là hay nhất, nổi bật nhất trong các vở kịch của ông, trong đó cô vũ nữ xinh đẹp đã hi sinh mạng sống của mình, bất chấp lệnh của tên bạo chúa cấm dân chúng theo Phật giáo…Lời thoại trong vở kịch của người vũ nữ chính là lời nói bi thương, sâu sắc nhất cất lên từ đáy lòng không của chỉ riêng cô gái ấy…mà của hàng hàng vạn, hàng triệu Phật tử, hơn nữa cũng còn là của rất nhiều người không theo đạo Phật ….Đấy mới chính là điều vĩ đại của Tagore – một đại triết gia Bà la môn, vô cùng ngưỡng mộ Thích Ca và Phật học ! Toàn bộ Di sản Thi ca đồ sộ của Tagore để lại cho Tổ quốc Ấn độ của ông và cho cả loài người xứng đáng được TÔN VINH là những lời TÂM SỰ từ trái tim của một NGƯỜI TÌNH của NHÂN LOẠI ! Bởi vì mỗi câu THƠ TAGORE đều trào dâng từ trái tim đầy  ắp tình người của ông, câu nào, bài nào cũng chứa đầy đủ cả Trí tuệ và Tinh cảm, bảo chỗ này là Tình yêu, chỗ kia là Triết học…như ông nhận xét: Đó là những người KHÔNG BIẾT ĐỌC THƠ TÔI !!! 

( Anh bạn Ấn độ, giỏi tiếng Việt từng đóng phim VN ở Tp HCM kể với TMCS, trước kia – lâu lắm rồi – ở quê hương anh, cũng có luồng dư luận TRÁI CHIỀU, “không hoan nghênh “ thơ Tagore . Họ cho các kiểu đánh giá Thi ca của Tagore như những “Khúc tình ca nồng nàn”, những “lời Tâm sự thắm thiết”… là quàng xiên, có ai thơ hát thơ Tagore đâu ! hơn nữa thơ Tagore lủng củng pha tạp cả tín ngưỡng, triết học, lòng yêu nước…chả có liên quan gì đến khái niệm kinh điển và cổ điển về Tâm sự  cả….Họ còn nhạo báng: Chẳng biết Tagore giới tính gì – đàn ông hay đàn bà – mà tự xưng là Người tình của nhân loại (Sweetheart of mankind)…Hiển nhiên, đó là sự phủ định ngớ ngẩn, có phần dung tục và ngày nay đã bị dẹp bỏ sạch sẽ ở mọi nơi, trong mọi lúc ở Ấn độ và cả trên toàn thế giới …).

Trong chuyến đi Vòng quanh thế giới , Tagore đã đến Việt nam (năm 1929) và có biết đến Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du và Bạch vân am thi tập cùng một số lời sấm của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình) trong buổi giao lưu tại báo quán Phụ nữ tân văn. Có lẽ bởi thế, khi đọc một số bài thơ của Tagore, nhiều người đọc VN – trong đó có TMCS – cũng như nghe thấy “Tiếng kêu đứt ruột ” từ xã hội Ấn độ đa tạp một thời…Thơ Tagore cũng phản ảnh một xã hội đẳng cấp với bao là số kiếp “ Kiều nhi phận mỏng như tờ…” – Tuy là một triết gia Bà la môn, nhưng Tagore rất ngưỡng mộ Thích  Ca, luôn xưng tụng : “Đức Phật – Chúa của tôi – Thày của tôi”. Không chỉ có tình yêu trai gái mà cả Phật và Chúa đều NGỰ TRONG LỜI TÂM SỰ bằng thơ của Tagore.
Càng tìm hiểu Tagore, càng thấy lời vinh danh ông nêu trên là chí lí , chí tình như thơ ông vậy. Những tuyệt tác Thơ và kịch của Tagore về Phật được lưu truyền rất rộng rãi, TMCS rất may mắn được hầu chuyện một số vị cao tăng Âu, Á quanh mấy tác phẩm này…Những mong có dịp được thưa chuyện quý vị về lãnh vực Phật trong thơ Tagore…qua những buổi đàm đạo, trao đổi tâm tình với mấy vị cao tăng nước ngoài…
 
Kể ra đã “hơi” dài, song không lan man tiếp cái tích sau đây cũng liên quan đến Tâm sự Tagore thì tiếc lắm :
“Số là hôm ấy, sau khi tiễn vị cao tăng Ấn độ ra về, TMCS tiếp tuc hàn huyên với một cư sĩ Ấn (cư sĩ : thuật ngữ Phật giáo chỉ người tu tại gia), TMCS mạnh dạn đọc mấy câu tiếng Anh của Tagore nhẩm sẵn nhưng chưa dám đọc trược vị cao tăng. Đại ý:
Trong rừng thẳm, có một nhà sư đang khổ hạnh tu trước khi lên cõi Niết Bàn bên Phật. Hàng ngày có một thiếu nữ tự nguyện đều đặn đem đồ ăn, nước uống tới đặt ở gốc cây cạnh nhà sư đó….cứ thế cho đến khi nhà sư thôi dùng thức ăn thông thường mà chỉ dùng ít trái cây với nước suối, và cuối cùng là nhà sư chỉ còn nhắm mắt thoi thóp thở đôi lúc nhấp ngụm nước suối…Sau rốt, nhà sư được đức Phật đón nơi nhập cõi Niết Bàn. Đức Phật hỏi nhà sư : Nói cho ta biết: Nguyện vọng cuối cùng của con trước khi nhập Niết bàn. Nhà sư cúi đầu thưa với Phật : Con xin về nơi gốc cây, trong rừng thẳm…Đức Phật hiền từ gật đầu, cho phép… Khi nhà sư quay gót , Đức Phật lẩm nhẩm…Con chưa nhận ra Ta, cô gái trong rừng thẳm ấy, chính là Ta
Vị Cư sĩ Ấn độ say sưa nghe như uống từng lời kể của TMCS, giât mình choàng hỏi TMCS : Sao ông thuộc Tagore thế ? Yêu lắm hả ?
TMCS bình tình khẽ khàng thưa: Như tôi yêu đức Phật, như tôi yêu vị cao tăng, như tôi yêu ông, Tagore viết cho cả tôi và ông đọc – tôi đã yêu Tagore như thế đấy ! Tâm sự của Tagore dù nói chuyện cao siêu mấy cũng có TÌNH YÊU ở trong. Cả thế giới gọi thơ ông là những lời tâm sự của kẻ đang YÊU , còn ông tự xưng :Tôi là người TÌNH của nhân loại ! Đúng quá, chả có gì là huyền bí hay sáo rỗng cả…Lần nữa, TMCS hiểu sâu thêm ý nghĩa của từ TÂM SỰ, không chỉ trong thơ Tagore mà trong thi ca của nhân loại, tất nhiên trong cả thơ Việt nam, mà chưa chừng đôi khi trong cả những CÂU VÈ cất lên từ đáy lòng người CƯ SĨ đất Tương mai

THUÝ TOÀN & THÂN TRỌNG SƠN – CÁC DỊCH GIẢ KHÁC NHẬN XÉT VỀ BẢN DỊCH  ĐỢI ANH VỀ CỦA TỐ HỮU:

Đợi anh về (tiếng Nga: Жди меня / Hãy đợi anh) do nhà thơ Konstantin Simonov viết, là một trong những bài thơ nổi tiếng của Ngatrong giai đoạn chiến tranh thế giới thứ hai. Bài thơ được sáng tác vào năm 1941 sau khi anh tạm biệt người vợ Valentina Serova để lên đường thực hiện nghĩa vụ chiến đấu nơi tiền tuyến. 

Nhà thơ K.Simonov (1917- 1979).
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Bản tiếng Pháp dịch từ nguyên tác . Tố Hữu đã dịch từ bản tiếng Pháp, chứ không phải từ nguyên tác tiếng Nga.(TTS)
 
 

Nguyên tác tiếng Nga: (TTS)

 

CONSTANTIN SIMONOV (1915-1979)

 Жди меня

Жди меня и я вернусь,

Только очень жди,

Жди, когда наводят грусть

Желтые дожди. 

Жди, когда снега метут,

Жди, когда жара, 

Жди, когда других не ждут,

Позабыв вчера.

Жди, когда из дальних мест

Писем не придет,

Жди, когда уж надоест

Всем, кто вместе ждет.

 

Жди меня, и я вернусь,

Не жалей добра

Всем, кто знает наизусть,

Что забыть пора. 

Пусть поверят сын и мать

В то, что нет меня,

Пусть друзья устанут ждать,

Сядут у огня,

Выпьют горькое вино

На помин души…

Жди. И с ними заодно

Выпить не спеши.

Жди меня и я вернусь,

Всем смертям назло.

Кто не ждал меня, тот пусть

Скажет: – Повезло! 

Не понять, не ждавшим им,

Как среди огня

Ожиданием своим

Тыd спасла меня.

Как я выжил, будем знать

Только мы с тобой, –

Просто ты умела ждать

Как никто другой

Theo Thân Trọng Sơn (TTS)- người đã dịch bài của Simonov sang tiếng Việt (từ một bản Anh) với tiêu đề : Hãy đợi anh, người đã phân tích bài thơ dịch này cuả Tố Hữu và  bài phổ nhạc của nhạc sĩ Văn Chung (TMCS xin phép gác lại phần về phổ nhạc) :

“Tố Hữu dịch bài thơ này từ bản tiếng Pháp. Tra cứu trên mạng ta có thể tìm thấy nhiều bản dịch tiếng Anh khác nhau nhưng chỉ có một bản tiếng Pháp duy nhất, không ghi tên người dịch.” (TTS)

TTS cho là bản Pháp lặp đi lặp lại câu dịch: Жди меня и я вернусь thành Si tu m’attends, je reviendrai, (Nếu em đợi anh, anh sẽ về) đã làm yếu đi lời và ý của nguyên tác.

TTS còn nêu ra: 

Dù ủng hộ mọi sáng tạo của nhà thơ khi chuyển ngữ, người đọc vẫn thấy có gì đó không ổn trong câu dịch của Tố Hữu ”  trông chết cười ngạo nghễ  ” : trong tiếng Việt động từ ” chết  ” nếu dùng như danh từ phải nói là ” cái chết, sự chết  “, trông ( nhìn ) cái chết, chứ nói ” trông chết ” nghe sao kỳ kỳ !. Chỗ này bản tiếng Pháp là ”  en dépit de toutes les morts  ” , và bản tiếng Anh ”  despite all death can do  “, gần sát với nguyên tác tiếng Nga ” Всем смертям назло ” , trêu ngươi mọi cái chết.

TTS  viết  tiếp: 

Mạch cảm xúc đã đẩy người dịch đi quá xa ở hai câu tiếp theo ” Ai ngày xưa rơi lệ / Hẳn cho sự tình cờ  ” , cả tình lẫn ý không gắn với nội dung toàn bài, không hề có trong nguyên tác, cũng không thấy trong bất kỳ một bản dịch nào.

Một vài từ, một vài câu, một vài ý đọc được trong bản dịch mà khi đối chiếu với nguyên bản thấy hoàn toàn xa lạ, điều này vẫn thường xảy ra bởi, suy cho cùng, trong dịch thuật văn học, việc trung thành tuyệt đối với văn bản gốc là điều khó có thể thực hiện được.

Còn khá nhiều chi tiết nữa, TMCS xin tạm gác lại. Nếu áp dụng phương pháp luận “chẻ sợi tóc làm tư” (cách nói của ô.Hoài Thanh), thì e rằng còn nhiều chi tiết khác có thể bàn, ngay cả về bản dịch, lời góp của TTS và các cây bút khác, nhưng với người đọc VN, bản dịch của Tố Hữu vẫn cứ là “hay” và “đáng nhớ”, “dễ thuộc” nhất !)

TMCS đã đọc để học hỏi thêm, tuy chưa hiểu hết và chưa hoàn toàn đồng ý với TTS, nhưng câu phỏng đoán của TTS sau đây – nguyên văn – thì dường như có phần có lí, mời quý vị tham khảo :

Có vẻ như phần lớn dịch giả chuộng một bản dịch ”  đẹp  ” hơn một bản dịch ” sát  “, bởi ai cũng muốn bản dịch của mình cũng là một tác phẩm nghệ thuật đích thực”. (TTS)

(TMCS chưa làm việc này , nên hoàn toàn trích dẫn sưu tầm của ThânTrọng Sơn để quý vị tham khảo là chính)-  Dưới đây là bản tiếng Pháp do TTS sưu tầm cùng bản dịch ra thơ Việt của TTS từ bản dịch thơ Anh:

Attends-moi

(Simonov, 1941)

Si tu m’attends, je reviendrai, 

Mais attends-moi très fort. 

Attends, quand la pluie jaune 

Apporte la tristesse, 

Attends quand la neige tournoie, 

Attends quand triomphe l’été 

Attends quand le passé s’oublie 

Et qu’on attend plus les autres. 

Attends quand des pays lointains 

Il ne viendra plus de courrier, 

Attends, lorsque seront lassés 

Ceux qui avec toi attendaient.

Si tu m’attends, je reviendrai. 

Ne leur pardonne pas, à ceux 

Qui vont trouver les mots pour dire 

Qu’est venu le temps de l’oubli. 

Et s’ils croient, mon fils et ma mère, 

S’ils croient, que je ne suis plus, 

Si les amis las de m’attendre 

Viennent s’asseoir auprès du feu, 

Et s’ils portent un toast funèbre 

A la mémoire de mon âme.. 

Attends. Attends et avec eux 

refuse de lever ton verre.

Si tu m’attends, je reviendrai 

En dépit de toutes les morts. 

Et qui ne m’a pas attendu 

Peut bien dire : “C’est de la veine”. 

Ceux qui ne m’ont pas attendu 

D’où le comprendraient-ils, comment 

En plein milieu du feu, 

Ton attente 

M’a sauvé. 

Comment j’ai survécu, seuls toi et moi 

Nous le saurons, 

C’est bien simple, tu auras su m’attendre, 

comme personne.

HÃY ĐỢI ANH

(Thân Trọng Sơn dịch từ bản Anh ngữ)

Đợi anh em nhé, anh về, 

Vững lòng chờ đợi, em nhé, 

Hãy đợi, khi mưa thu vàng 

Gợi lòng người buồn tái tê. 

Hãy đợi, khi đông tuyết giá, 

Hãy đợi, khi hạ nắng thiêu, 

Hãy đợi, khi qua ngày tháng, 

Không còn ai chờ đợi ai. 

Hãy đợi, khi từ xa lắc 

Thư tin chẳng mấy khi về 

Hãy đợi, khi người cùng cảnh 

Chán chê, chẳng thiết đợi chờ. 

Đợi anh em nhé, anh về, 

Những điều tốt đẹp đừng chúc 

Cho ai vẫn tâm niệm rằng 

Đến nay quên là phải lúc. 

Cho dù cả con và mẹ 

Đều tin là anh không còn. 

Cho dù bằng hữu bỏ cuộc 

Ngồi bên bếp lửa quây quần 

Cùng nhau uống ly rượu đắng 

Tưởng niệm linh hồn bạn thân 

Thì em cũng hãy cứ chờ 

Đừng vội cùng người nâng cốc ! 

Đợi anh em nhé, anh về, 

Kiêu hãnh nhạo cười cái chết 

Cứ để ai không chờ đợi 

Buông lời : Chỉ may đấy thôi ! 

Không đợi, làm sao họ biết 

Giữa làn đạn lửa bom mưa 

Việc em trông ngóng đợi chờ 

Đã cứu cho anh khỏi chết. 

Em ạ, chỉ đôi ta thôi 

Hiểu nhờ đâu anh sống sót : 

Đơn giản vì em biết đợi 

Không như bao nhiêu người khác.

KONSTANTIN SIMONOV, 1941

THÂN TRỌNG SƠN dịch

Lời dịch của Tố Hữu: (trích từ bài của TTS)

Tác phẩm đã được nhà thơ Tố Hữu dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt vào khoảng năm 19491950 và đã được Văn Chung phổ nhạc. (Theo TTS)

 
 
Bản dịch của Tố Hữu:

ĐỢI ANH VỀ

Em ơi đợi anh về

Đợi anh hoài em nhé

Mưa có rơi dầm dề

Ngày có buồn lê thê

Em ơi em cứ đợi.

Dù tuyết rơi gió thổi

Dù nắng cháy em ơi

Bạn cũ có quên rồi

Đợi anh về em nhé!

Tin anh dù vắng vẻ

Lòng ai dù tái tê

Chẳng mong chi ngày về

Thì em ơi cứ đợi!

Em ơi em cứ đợi

Dù ai thương nhớ ai

Chẳng mong có ngày mai

Dù mẹ già con dại

Hết mong anh trở lại

Dù bạn viếng hồn anh

Yên nghỉ nấm mồ xanh

Nâng chén tình dốc cạn

Thì em ơi mặc bạn

Đợi anh hoài em nghe

Tin rằng anh sắp về!

Đợi anh anh lại về.

Trông chết cười ngạo nghễ.

Ai ngày xưa rơi lệ

Hẳn cho sự tình cờ

Nào có biết bao giờ

Bởi vì em ước vọng

Bời vì em trông ngóng

Tan giặc bước đường quê

Anh của em lại về.

Vì sao anh chẳng chết?

Nào bao giờ ai biết

Có gì đâu em ơi

Chỉ vì không ai người.

Biết như em chờ đợi.

 

Dịch giả Thúy Toàn cũng có nhận xét khi nói về bài thơ dịch của Tố Hữu, nguyên văn lời ông nói:” Người đọc Việt Nam đều thừa nhận rằng có hàng chục bản dịch bài thơ Đợi anh của Simonov ra thơ Việt nhưng chẳng có bài nào người ta nhớ, ngoài bài ĐƠI ANH VỀ của Tố Hữu, mặc dù nhiều người cho đấy là dịch khác, xa với nguyên bản, xa cả tinh thần. Ngay nhịp điệu của những câu thơ tiếng Nga nó cũng khác với nhịp điệu thơ Tố Hữu…” Ngoài ý kiến của Thuý Toàn, Thân Trọng Sơn, còn khá nhiều dịch giả khác (Nguyễn Tất San, Nguyễn Tất Thịnh, Hồng Thanh Quang…v.v…) có ý kiến về bài dịch của Tố Hữu, TMCS chỉ nêu một vài nét điển hình như trên.

 Mời quý vị đọc lại nguyên tác, bản dịch ra thơ Pháp làm cơ sở để Tố Hữu dịch ra thơ Việt, đem đối chiếu để thấy xem xét nhận xét của Thuý Toàn đúng đến đâu.

TMCS có may mắn được đọc bài này trên tạp chí Văn học xô viết bản Pháp và Anh, có giới thiệu các bản dịch bài  “ Đợi anh “  từ nguyên tác thơ Nga ra thơ Pháp và thơ Anh, chứ không  “cách bức” như bản Đợi anh về của Tố Hữu dịch qua bản Pháp (nghe nói là ta thu giữ từ tư liệu của tù binh Pháp). Khi đi công tác nước ngoài , TMCS được biết Việt kiều ta ở Tây Âu, đông nhất thời đó là ở Pháp- từ Paris, Marseille..đến Bordeaux, Toulouse, Lion…, những người TMCS đã gặp để tìm hỏi, hầu như không mấy ai biết về bản dịch của Tố Hữu. Hồi TMCS học bổ túc Tiếng Nga cho NCS, trong lớp có một bạn người Huế đã cố ngâm nga Đợi anh về theo cách TH đọc bài này trên đài TNVN, nhưng giống như nhận xét của Thuý Toàn, bà giáo Nga chịu, không sao cảm thụ được và  bà thấy bản dịch ra thơ Việt đã theo một nhịp điệu hoàn toàn khác, không có tính chất, phong vị và âm hưởng  Nga… Bây giờ lâu ngày, đã hoàn hồn hoàn vía hoàn toàn, TMCS mới thấy rõ mồn một: Tố Hữu đã Việt hoá, hơn nữa đã Huế hóa cả bài thơ rồi, còn đâu hơi hướng  điệu thơ Nga để bà giáo Nga cảm thụ được, đơn giản thế mà bấy lâu cứ ngẩn ngơ, thơ thẩn hoài…Theo TMCS, có thể trong quá trình dịch, Tố Hữu đã cố tình “xê dịch”, thay đổi, điều chỉnh “liều lượng” một số câu, chữ cho hợp với cách cảm nhận của người đọc VN lúc bấy giờ, nhưng ông không làm “hỏng” bài thơ mà làm cho nó gần gũi với công chúng thơ Viêt nam hơn, đặc biệt ở thời điểm lịch sử khi đó ( khoảng 1949-50). Đấy chính là điều mà nhà thơ Hồng Thanh Quang gọi là “tuyệt mỹ”, “không ai dám dịch lại” bài này….Bây giờ đem ra mổ sẻ, thì mọi chuyện – kể cả kết luận, đánh giá- có thể có thêm nhiều khía cạnh mới. Âu cũng là điều dễ hiểu !…

Một cán bộ từng công tác ở sứ quán VN ở Nga, có đọc cho TMCS nghe mấy câu tiếng Nga của tác giả Simonov cám ơn TH đã dịch thơ mình ra thơ Việt mà Nguyễn xuân Sanh đã dịch là :

          

           Ở đây tôi biết thơ tôi

Muôn sau sống mãi trong lời thơ anh

 Hàng chục bản dịch của nhiều dịch giả khác đã bám sát sạt câu chữ và cả ý nguyên tác hơn bản của Tố Hữu, nhưng người đọc Việt nam – rất nhiều người đọc được nguyên tác hoặc các bản dịch  Anh, Pháp – họ có biết và đối chiếu hàng tá bản dịch này với bản gốc thì cũng chỉ tấm tắc khen dịch đúng, dịch sát, rồi …quên luôn ! TMCS xin phép tưởng tượng như sau: Nếu ở một lớp học ngoại ngữ  , các thày cô đem các bài dịch “Đợi anh” ra chấm điểm, chắc chắn sẽ có hàng chục bài được điểm cao hơn bài của Tố Hữu, nhưng đó là chấm bài thi môn Dịch (Traduction), người ta chỉ chú trọng thuần tuý từ và ngữ, Nhưng nếu là Thơ dịch, thì NGHỆ THUẬT lại là yếu tố chính, khi đó hàng chục bài dịch kia phải xếp sau bài của Tố Hữu khi xét đến nghệ thuật thi ca…Vì thực tế phải thừa nhận: Tố Hữu đã không chỉ dịch mà còn sáng tạo để bài thơ trở thành y hệt thơ Việt nam do thi sĩ VN sáng tác !!! Đó là tài năng xuất chúng và nhất là tấm lòng vì sự nghiệp lớn  không thể phủ nhận của người dịch ! Thí dụ trên có thể rất “khập khiễng”, nhưng chừng mức nào đó phản ảnh đúng thực trạng… Với TMCS : đúng và hay trong dịch thơ chưa HẲN là một !!! Với vốn Pháp ngữ  từ trường Quốc học Huế, lại đọc nhiều sách báo chính trị, văn học xô viết qua tiếng Pháp, hẳn Tố Hữu hiểu rõ  từng từ, từng câu trong bản “Đợi anh” tiếng Pháp, nhưng ông đã chọn cách “điều chỉnh” câu chữ để Việt hoá cả bài thơ – ngay từ cái tiêu đề – khiến cho người ta biết là ông dịch, nhưng khi đọc lại thấy như đang được đọc một bài thơ Việt do chính ông sáng tác và đã “phải lòng” nó. TMCS xin quay lại một ý đã nêu ở phần trên: Tố Hữu không đợi có ai đó dịch “Wait for my return” (Hãy đợi sự trở về của anh) mà đã mở đầu bằng tiêu đề: Đợi anh về. Chỉ thế thôi, là đã đủ vào lòng người  và vô tình áp đảo tất cả hàng tá bản dịch “cầu kì “, “sát sàn sạt”… khác…

Cách lí giải này của TMCS có lẽ là hợp lí hơn để giải thích sự thành công nhất của Tố Hữu khi dịch Đợi anh về hơn là viện dẫn sự thiên vị của công chúng thơ Việt nam, hoặc các lí do khác như uy tín và cương vị đương thời của Tố Hữu, thậm chí do Pháp ngữ thời đó lu mờ, Nga ngữ chưa phổ cập, nên mọi người chỉ biết bài Đợi anh về của Tố Hữu như nhiều bài thơ khác của ông sáng tác… Đến nay, dư luận chung và nhiều dịch giả danh tiếng ở VN vẫn công nhận bài Đợi anh về hay như một bài thơ Việt thuần tuý, khi đọc chả mấy ai nghĩ là thơ dịch nữa…

Hiện tượng Tố Hữu dịch Đợi anh về, TMCS thấy hao hao như phong cách của Tagore khi tự dịch thơ mình. Cả hai đều sáng tạo là chính, họ chỉ dựa vào câu chữ chứ không bám sát từng chi tiết… Như chính Tagore viết: lấy cái CẢM và linh hồn, cốt lõi của bài thơ làm trọng, không nô lệ từ và ngữ tuy phải rất chú ý những yếu tố này… Có thể cảm nhận trên của TMCS còn rất nghiệp dư, nhưng nó phù hợp với hiện tượng Đợi anh về của Tố Hữu…Cho đến nay, tuy đã  mò mẫm nhiều, nhưng TMCS chưa tìm được văn bản nào lí giải  thấu đáo hơn… 

  • Mấy bài tiếng Nga, Pháp, Anh, Việt, và lời lẽ nhận định bản dịch của TH  : cơ bản đều là phần trích dẫn từ các  bài của TTS, TT, NTS, NTT…  TMCS chỉ dựa vào đó nêu lên vài ý nhỏ “xíu xìu xiu” từ một góc nhìn thu hẹp của riêng mình chứ không phải đây là một bài nhận định toàn diện, có hệ thống. Chút xíu này lại nằm trong phạm trù CẢM vốn dĩ không phải để tranh cãi trái phải, đúng sai…nếu quý vị nào có DỊ CẢM, xin cho qua, khỏi bận tâm “trao đổi” thuyết phục TMCS, vì đã là Cảm thì không thể gò ép nhau được, khó hơn cả ép duyên đấy !!! 

Gõ thêm: Hồng Thanh Quang, nhà thơ từng học ĐH nhiều năm ở LX, trước đây thường xuất hiện trên VTV trong Giai điệu tự hào, đã thử dịch lại Đợi anh trực tiếp  từ nguyên tác – sau khi thấy và chỉ ra trong bản dịch của TH có nhiều chỗ khác nguyên tác , đã thừa nhận dịch như TH mới là đỉnh cao “tuyệt mỹ”, ít ai dám và có khả năng vượt qua:

.  “Bản dịch đó vô giá không chỉ bởi nó là một tác phẩm văn học tuyệt mỹ mà còn là một chứng tích lịch sử “nằm lòng nhiều thế hệ độc giả ở Việt Nam”…
… và : “Chính vì thế nên trong suốt nhiều chục năm đã không ai dám dịch lại Đợi anh về vì những ấn tượng quá sâu sắc về bản dịch của nhà thơ Tố Hữu”.

 HTQ- báo CAND.

VIỆT PHƯƠNG : VỀ MỘT CÂU THƠ CỦA TÔI ĐƯỢC DỊCH SANG TIẾNG PHÁP.

Đây cũng là một “ca” cực hiếm, người KHÁC chẳng những dịch, hơn thế còn  sửa ý của nguyên tác, mà tác giả VN lại rất cảm phục, khiến TMCS “tâm phục khẩu phục cả ĐÔI ”. Họ là những người TÀI ĐỨC song toàn. Họ không quen biết gì nhau, nhưng rất kính trọng nhau, và hiểu nhau như đôi tri kỉ… TMCS xin được kể hầu quý vị (bằng cách trước hết trích dẫn nguyên văn) :

“Tháng 11 năm 1981, khi tôi ( Việt Phương) đang ở Văn phòng Chính phủ thì nhận được một tập thơ văn các nước (bằng tiếng Anh) làm sách đọc thêm cho sinh viên Mĩ, trong đó có bản dịch bài thơ “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi” này. Năm 1991, tôi đọc được một bản tiếng Pháp, vẫn bài thơ này, nhưng người dịch – tôi không biết là ai – tự sửa lại một chút: “ Và chất cộng sản trong ta người thêm chút nữa ”. 

Câu của tôi “ Và chất người trong ta cộng sản thêm chút nữa” là một câu kiêu ngạo, nhưng câu thơ sửa lại kia quả tình lớn hơn rất nhiều, thấm thía hơn rất nhiều. Đó, khi đó, cứ tưởng mình đã trưởng thành, đã thấy hết những mảng sáng tối nhưng thực ra còn non dại lắm. Sau “Cửa mở”, cũng có những đề nghị tôi in tập mới, nhưng tôi chưa in vì lúc đó chưa thấy thích. Thơ xuất hiện, chắc chắn phải chịu sự đánh giá của công chúng. Không xuất hiện, nó chịu sự phán xét của thời gian, điều này là tất nhiên thôi. Bây giờ, khi cùng các anh tuyển chọn lại trong hàng nghìn bài thơ để làm tập thơ thứ hai này, cũng chỉ vì tôi thấy thích và thấy phù hợp để in …“.

Tuy luôn ở vào vị thế “ ngơ ngác con nai vàng ”, nhưng TMCS đã sớm thấp thoáng thấy tầm vóc khổng lồ, lồng lộng vẻ KHIÊM TỐN của Việt Phương trước một câu thơ dịch tiếng Pháp mà thậm chí ông không biết là của ai. Cái câu của ông mà ông gọi là “kiêu ngạo” đã được ông đem ra so sánh với câu thơ dịch mà thẳng thắn, chân thành tự nhận rằng : “ câu thơ sửa lại kia quả tình lớn hơn rất nhiều, thấm thía hơn rất nhiều “ ! TMCS coi như ở trường hợp này, Việt Phương đã CẢM được chân lí, NGỘ ra chỗ lớn hơn, thấm thía hơn của người khác…Đó là điều không chỉ có Tài lớn mà phải có Đức lớn mới đạt đến được…

TMCS xin được chân thành ngả mũ, cúi đầu trước thi sĩ, chiến sĩ Việt Phương, TÀI ĐỨC vẹn toàn ! Và cũng rất chân thành ngưỡng mộ, người đã dịch kết hợp sửa ý của Việt Phương vô cùng thuyết phục. Người này không đi vào “tủn mủn, vụn vặt”- với thế mạnh của bản ngữ tiếng Pháp mà với tư duy sắc bén và cả tấm lòng chân thành với bài thơ nguyên tác và tác giả. Ước chi ở VN ta, cạnh những nhà thơ lớn, xuất hiện những NGƯỜI DỊCH  tài năng và đạo đức cao vời vợi như vậy !

TMCS thấm thía : Học nhân cách các nhà thơ lớn, các dịch giả lớn quan trọng hơn học ngôn ngữ, thi pháp của “nghề dịch” nhiều !…dù là chỉ dịch “nghiệp dư”, “góp ý” nghiệp dư…Có hàng “bồ” chữ, đọc thiên kinh vạn quyển về lí luận dịch mà thiếu cái Tâm ấy, thì chỉ  hay “sa đà” vào các khía cạnh câu chữ vụn vặt, nhiều khi là soi mói để tự đề cao minh, khoe khôn, khoe tài, háo thắng theo một kiểu  cách rất  lố bịch! 

Ôi! chằng hiểu vì sao, ý nào của TMCS gõ ra cũng  chỉ là cái CẢM từ con TÂM mình. Quý vị nào có dị cảm có lẽ chỉ còn cách tìm bàn với các nhà Lí luận, TMCS chỉ biết CẢM thôi ! Có nghĩ đến “mùa quýt” cũng chả có cái lí gì để giải thích cái CẢM quá hồn nhiên từ Tâm mình bật ra…Giời đã sinh ra thế thì còn biết làm sao được…

 

PHẠM TIẾN DUẬT: BĂNG KARAOKE – THƠ VÀ NHẠC – THƠ DỊCH.

Nguyên văn lời PTD :

“Từ nhiều năm nay, trong các băng nhạc karaoke có chạy bài hát cùng tên phổ thơ tôi do Nhạc sĩ Hoàng Hiệp làm nhạc. Câu thơ “Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ” của bài thơ ấy được băng hình đánh chữ là “Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ”. “Xua tan” như thế thì còn gì là tình yêu. Băng hình không chỉ “xua tan” nỗi nhớ mà còn “xua tan” cả thơ ca nữa. Lỗi ấy của người làm băng chứ không phải của nhạc sĩ. Cũng phải nói thêm rằng, những người làm băng ấy vi phạm bản quyền, phớt lờ tác giả. Câu chuyện ấy chỉ làm tôi buồn cười chứ lạ sao không thấy bực mình. Thì văn hoá tới đâu thì làm tới đó, chứ biết làm sao. Mà họ có làm văn hoá đâu, họ làm kinh tế đấy chứ. Một thời ngỡ tưởng gần mà đã hoá ra xa”.

(TMCS xin phép mở ngoặc:

Trên TTTB@, câu  “cái gạt nước xua đi nỗi nhớ “, từ xua đi cũng có mấy cái dịch khác nhau:

effacer tout mélancolie : xoá hết nỗi buồn

balayer mes souvenirs  : quét đi những kỉ niệm của tôi

Trục tư: (trục là trục xuất, xua đi nơi khác – tư trong tương tư là nỗi nhớ)

Drives out the feel of missing: Gạt, lái đi nơi khác cái cảm giác nhớ nhung.

Chasser ma mélancholie : Xua đi nỗi buồn

chắc là chỉ vênh nhau tí chút tuỳ thuộc cái CẢM của người dịch, chứ chưa đến mức làm PTD giật mình vì chất thơ bị “xoá tan “ !

Riêng ba cách dịch (dưới cùng) của TMCS có lẽ “nhát gan” nhất, vì không muốn làm ông bạn trẻ hơn mình ngoài một con giáp  phải thót tim nơi cõi vĩnh hằng … Ngụ ý rằng: nỗi nhớ chỉ chuyển đi tạm thời thôi… )

Về v/đ phổ nhạc cho bài thơ của mình, PTD  nêu rõ (cũng nguyên văn) :

Ở bài hát, Trường Sơn Ðông – Trường Sơn Tây là một bản tình ca trong chiến tranh. Một anh, một chị yêu nhau còn ở tác phẩm thơ, yếu tố tình ca trộn lẫn với quân ca. Có tám dòng thơ nhạc sĩ không phổ. Ở khổ thứ hai từ trên xuống:

“Một dãy núi mà hai màu mây

 Bên nắng bên mưa khí trời cũng khác

 Như anh với em như Nam với Bắc

 Như Ðông với Tây một dải rừng liền”.

Và ở khổ thứ hai từ dưới lên:

“Ðông sang Tây không phải đường thư

Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo

 Ðông Trường Sơn cô gái ba sẵn sàng xanh áo

 Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh”.

Như vậy, trong thơ không chỉ có hai người mà còn có hai “lực lượng”. Ba chữ như ở đoạn trên nói rằng đây chỉ là ví dụ mà thôi. Âm nhạc viết theo thể hát nói trữ tình đã cộng hưởng rất đẹp với thơ, còn cảm hứng của thơ và nhạc không phải câu nào, khổ nào cũng như nhau. Nhạc sĩ bỏ hai khổ không phổ đó là tuỳ cảm hứng của người sáng tác nhạc

 

Cả bài thơ, như đã nói, làm xong cuối năm 1969, nhưng hai dòng đầu tiên thì có trước đó gần hai năm. Bây giờ, nhân vật tạo hứng cho thơ đang sống ở Hà Nội, một hoạ sĩ đã thành danh. Hồi ấy, anh ta yêu một cô y tá ở phía Ðông Trường Sơn. Ngồi chung một ca-bin xe đi sang phía Tây, suốt đường anh ta nhắc đến người yêu. Nỗi nhớ của anh ra lây lan sang cả tôi, sang cả người lái xe. Mãi đến khi trời mưa, cái gạt nước phía trước mặt đã giúp tôi viết hai dòng đầu tiên:

“Anh lên xe trời đổ cơn mưa

Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ”

Bài thơ được viết sau nhiều chặng đường vượt rừng gian nan. Cho đến nỗi, nếu chưa từng ở rừng, vượt rừng thì khó bề thông cảm hết với thơ ấy, bài ấy. Chẳng hạn như câu này: “Nước khe cạn, bướm bay lèn đá”không phải là một câu thơ tả đẹp mà là một quan sát đáng run sợ của lính trinh sát. Nếu thấy cảnh ấy vào lúc chập chiều thì cầm chắc là đói vì không thể có nước nấu cơm. Mười cây số vuông quanh đi không thể có nguồn nước. 

Hay là câu này có chút v/đ về dịch: “Muỗi bay rừng già cho dài tay áo”, một bạn Việt kiều và một nhà thơ Pháp đã dịch là “Muỗi bay, mọi người mặc áo măng tô vào” thì thật buồn cười. Họ không đi lính thì trách sao được.

Bây giờ, đọc lại, nghe lại, như một người ngoài cuộc vô cảm tôi vẫn thấy trong lòng bồi hồi. Từ nhiều năm nay, thật nhiều bài thơ người ta gọi là thơ tình, nhiều ca khúc người ta gọi là tình ca, nhưng sao nghe chỉ thấy tán tỉnh, có lúc tán tỉnh đến thô lỗ. Thấy quá nhiều sự ích kỷ nhuộm vào các câu chữ. Nhớ lại thời ấy, không phải để tự khen mình và đồng đội của mình mà rưng rưng cảm động. Hình như, không yêu được số đông người thì cũng khó mà yêu lấy một người. Sự ích kỷ với thiên hạ có chứa lực phản.”

TMCS còn khá “sung”, gõ hoài chưa mệt, đọc lại thấy đã lan man quá nhiều, chuyện nọ xọ chuyện kia, dài quá rồi…

Chỉ mong sao qua cái mớ “bòng bong” trên, quý bạn đọc xa gần, trong ngoài nước và bạn đọc nước ngoài thấy được sự phức tạp , tinh vi của Thơ dịch và dịch thơ…Hơn ở lãnh vực nào hết, ở đây chữ Lí, chữ Tình  và chữ Cảm hoà đồng với nhau, khó hoặc gần như không thể tách bạch rạch ròi, quá thiên về mặt nào đó sẽ không còn là Thơ nữa mà là “ba phải”, “cứng nhắc” thậm chí  “thô bạo”, “khiếm nhã” v.v…Mấy chuyện trên  với những nhân vật khá tiêu biểu cũng mới chỉ là phần nổi của câu chuyện…

Nếu không có chữ CẢM 感 với chữ tâm   làm nền bên dưới, thì hàng loạt sự tích mà TMCS kể lể bên trên chỉ là một mê cung với những mê lộ loằng ngoằng “rối tinh, rối mù”,còn nếu CẢM được thì đây chỉ đơn giản là mấy câu tâm tình 心情 (tình trong lòng)  , vài lời tâm sự 心事( chuyện, việc trong lòng) mà TCMS hằng ấp ủ  từ lâu, nay muốn đem ra nỉ non trao đổi với quý bạn đọc muôn phương về một số khía cạnh của Thơ và Thơ dịch, của Thi nhân và dịch giả, … Đây là chuyện CẢM, nên có thể có sự khác biệt với một vài bạn, điều đó là chuyện rất bình thường. Vì không có khuôn mẫu nào cả…có thể có đồng cảm mà cũng có thể có dị cảm…Mong quý vị  thông cảm, chớ gò ép nhau về CẢM !

Than ôi !  dài quá rồi, đành gác  mục chuyện “Phạm Tiến Duật – Mối tình thơ” lại cho mục Dạo đầu số TTB@  sau…

Tức là: 

                  Nhời quê góp nhặt dông dài,

          Bao điều muốn ngỏ, gõ hoài chưa xong…

                  Hẹn cùng bè bạn Tây Đông:

         Chuyện Tình định kể, đành lòng đợi sau…

Câu chuyện tình của PTD – theo TMCS – hay lắm, nó khác với những mối tình lãng mạn đầu đời của Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Nhược Pháp, Quang Dũng, Phạm Duy…hơi “na ná” nhưng già dặn hơn tình Phùng Quán với cô gái Sầm Sơn ngày đầu tập kết ra Bắc…Hơn nữa, TMCS có đủ nhân chứng, vật chứng liên quan đến mối tình này : vị tướng Tư lệnh binh đoàn TS, hơn trăm chiến sĩ TS, ảnh chụp nữ nhân vật chính, họ tên, bài thơ chính do “đương sự” viết cài “mã “ tình yêu đã được “giải” (decoding)…Ngoài ra còn một vài “tình” nhỏ, chính bà xã PTD cũng biết và trân trọng…Tiếc là chưa kịp kể hầu quý vị kì này, TMCS sẽ cố gắng để ít nhất kì sau cũng kể hầu quý vị được một chuyện – câu chuyện bị gác lại kì này !

Hình như ai đó, lâu ngày TMCS không nhớ rõ là Tây Tầu hay Ta, đã phát biểu, đại ý có thể “vè hoá” như sau :

                             Hiểu Người thì mới hiểu Thơ,

                         Bằng không sẽ chỉ lơ mơ bên lề…

Mà “Tình” thường là phản ảnh chất Người nhiều hơn “Lí” ! Lí có nhiều khi là “ lí sự cùn”, ngụỵ trang và nguỵ biện vớ vẩn…

                                                       X

Cuối cùng xin lần nữa đắc tội với quý vị với cái tật  “tràng giang đại hải”  và tất nhiên xin vô cùng cảm tạ các cháu tình nguyện viên kì này lại phải vất vả dịch một bài “huyên thuyên” gần như vô biên, vô tận…của TMCS.

                                                        X

 

  

A lô…. TTTB@ và TMCS xin trân trọng cám ơn, và gửi lời chào tạm biệt quý khách muôn phương đã theo đuổi cuộc hành trình “lê thê” – với nhiều chặng lạc đường vô tình và hữu ý. Toàn bộ cuộc đi chắc đã cống hiến quý khách nhiều cung bậc “CẢM” – hầu như không có chuyện đúng sai để quý khách phải bận lòng. Đi xong là …xong, tâm tư, thoải mái, thanh thản… Mong rằng chuyến đi đã làm quý khách “vui lòng lúc đến, vừa lòng khi đi “.
 Tạm biệt …Cám ơn…Hẹn kì sau…
                                              
                                              X
 

TTTB@ kì này sẽ giới thiệu toàn bài Trường sơn  đông – Trường sơn tây cùng các bản dịch. Các phần khác như thường lệ.

Kính thỉnh nhã giám

   TTTB@-TMCS

Đ/c: Tên một thành phố lớn ở Ấn độ , viết và gọi theo phương ngữ là Kolkata, hình như theo cách viết  của người Âu là Calcutta, TMCS theo thói quen hình như gõ thiếu một chữ “t”. Đại để là như vậy, TMCS quá bận, cũng chỉ ngờ ngợ , chưa tra cứu, Xin lỗi quý vị trước, nếu có chút sai nhầm… 
 
Ngày xưa, sau 1979, khi ngưng đường sắt  liên vận quốc tế, ko biết bao lần TMCS đã có dịp “bay” quá cảnh Bangkok(Thailand), “Calcutta” (India), Karachi (Pakistan), Dubai (vừa là Tp vừa là một tiểu vương quốc trong UAE)… có nhiều dịp la cà vui thú “giang hồ” ở các nơi đó,, thế mà quên béng cả “chính tả” tên nơi mình đã “lu bù”… Đoảng quá. Lần nữa, xin  lỗi quý vị.
TMCS.
 
TRƯỜNG SƠN ĐÔNG TRƯỜNG SƠN TÂY
                             (Toàn bài)
 
Thơ: Phạm Tiến Duật
 
Dịch
 
TMCS : Anh – Pháp – Hán
Trịnh phúc Nguyên – Nguyễn Thuận : Pháp
Phan Hoàng Mạnh :  Pháp
 

TRƯỜNG SƠN ĐÔNG_ TRƯỜNG SƠN TÂY

Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Phạm Tiến Duật

Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn

Hai đứa ở hai đầu xa thẳm

Ðường ra trận mùa này đẹp lắm

Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.

Một dãy núi mà hai màu mây

Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác

Như anh với em, như Nam với Bắc

Như Ðông với Tây một dải rừng liền.

Trường Sơn tây anh đi, thương em

Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo

Muỗi bay rừng già cho dài tay áo

Rau hết rồi, em có lấy măng không.

Em thương anh bên tây mùa đông

Nước khe cạn bướm bay lèn đá

Biết lòng anh say miền đất lạ

Chắc em lo đường chắn bom thù

Anh lên xe, trời đổ cơn mưa

Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ

Em xuống núi nắng về rực rỡ

Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư.

Ðông sang tây không phải đường thư

Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo

Ðông Trường Sơn, cô gái “ba sẵn sàng” xanh áo

Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh.

Từ nơi em gửi đến nơi anh

Những đoàn quân trùng trùng ra trận

Như tình yêu nối lời vô tận

Ðông Trường Sơn nối tây Trường Sơn.

Nguồn: Trường Sơn – đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009

 

EASTERN AND WESTERN TRƯỜNG SƠN  MOUNTAINS.

( Poem by Phạm Tiến Duật – Translation by TMCS) 

Our hammocks are hang up in Trường sơn jungle at the moment,

But we are at these mountains’s two ends

And between us — a very long distance !

This season, how beautiful the path to the battle field is  !

The Eastern Trường sơn 

Always thinks of the Western Trường sơn.

Over the same mountains are the clouds with two different colours.

Here, it’s sunny but there, it’s rainy !

What a difference in weather !

Everything is like you and me, 

We are apart like the North and the South,

The East and the West…

Despite being in the same large forest !

Being on the march in the Western Trường Son,

I feel pity for you carrying rice in the jungle,

Where many mosquitos fly around your long sleeves.

Now, when there are not any vegetables for food,

Can you find  out the young bamboo shoots. 

As my friend, you feel pity for me

Who is now in the winter of Western Trường sơn,

Where there are only the dry streams

And the butterflies hover over the rocky mountains.

You know well that I am fond of the new lands

And You would worry about the enemy’s bombing

On the way where I am going…

When I am behind the steering wheel,

All of sudden it pours and the windshield wiper

Drives out the feel of missing each other.

When you go down from the mountains

The sun shines brightly,

All your innermost feelings are wiped away by the tree branches.

There is not any transport mean for letters, 

But only for ammunition and rice

Between  Trường sơn mountains ’s both sides.

In Eastern Trường Sơn, the young female volunteers are in their green shirts

In western Trưòng sơn, they can see

The young soldiers of our army

Are in the green uniforms.

From your side, the troops are unceasingly sent to the front

As the endless sweet words sound day and night, 

Link the Trường sơn mountains’s both sides. 

 L’EST ET L’OUEST DE LA CORDILLÈRE TRƯỜNG SƠN

(Poème de Phạm Tiến Duật  – Traduit par TMCS)

Attachant les hamacs dans la même forêt de Trường Sơn,

Mais nous sommes à deux côtés de cette chaîne de montagnes,

Une très grande distance nous sépare.

Le chemin au front est si beau dans cette saison!

L’est et l’ouest – les deux côtés de ces monts

Toujours pensent l’un à l’autre.

Sur une même chaîne de montagnes,

Il y a deux couleurs de nuage

Et aussi deux différents climats:

Il pleut ici mais il fait du soleil là-bas.

Tout comme moi et toi ,

Comme le sud et le nord, comme l’est et l’ouest

Dans une même suite des larges forêts .

Quand je suis sur la route à l’ouest de Trường sơn,

Je pense à toi sur le chemin de transport du riz,

À ton côté, il fait souvent  pluie.

Pour contre les moustiques des jungles,

Il faut que tu couvres tes bras 

Avec les longues manches de ta chemise.

Il n’y a pas de légumes partout

Cherches-tu des pousses de bambou?

En tant que mon amie, tu pense à moi

Qui suis en hiver de l’ouest des montagnes

Où il n’y a que les cours d’eau secs,

Les papillons voltigent au-dessus des monts rocheux,

Tu sais bien que je suis follement amoureux 

Des régions inconnues.

Peut être tu t’inquiète du bombardement de l’ennemi

Qui bloquerait mon chemin !

Il pleut à verse, quand je monte dans la cabine, 

L’essuie-glace chasse ma mélancolie.

Et quand tu descends du mont ensoleillé,

Par les branches des arbres

Tous tes sentiments intimes sont écartés.

De l’est à l’ouest, il y a aucune communication de correspondance, 

Mais il n’y a que des chemins pour le transport de munitions et des aliments.

À l’est du Trường sơn, 

Les jeunes filles volontaires mettent leurs verts vêtements, 

À l’ouest du Trường sơn, 

Les soldats sont en uniformes verts..

Vers le front, de ton côté à mon côté

Les troupes sont envoyées sans cesse

Comme les paroles infinies de l’amour qui sont parlées

Pout relier l’est et l’ouest

Des montagnes de Trường sơn.

ĐÔNG TRƯỜNG SƠN – TÂY TRƯỜNG SƠN

Phạm Tiến Duật thi – TMCS dịch

Võng sàng đồng điếu Trường sơn thượng Cùng mắc võng trên Trường Sơn

Cha lưỡng nhị  sơn đầu viễn cư                  Hai đứa mình ở hai đầu núi xa nhau

Chinh lộ thử thời phong cảnh mĩ           Đường ra trận mùa này cảnh đẹp

Đông , Tây song địa cộng tương tư         Đôi miền Đông Tây chung nỗi tương tư.

Sơn tuy nhất đái  vân song sắc           Núi tuy một dải mây hai màu

Vũ thử hàn ôn  đô bất đồng                  Nắng mưa , ấm lạnh không giống nhau

Như Bắc phân Nam,  muội  biệt ngã.   Như Bắc chia Nam, em  xa anh,

Tự liên nhất đái, Tây li Đông               Tựa liền một dải mà Tây lìa Đông. 

Trường sơn Tây khứ, ngô liên muội  Đi ở miền Tây, anh thương em

Vũ giáng liên miên, thiêu mễ đồ        Trời mưa liên miên, đi gánh gạo, 

Văn tử mãn lâm, nhu há tụ.                Muỗi đầy rừng, phải kéo  tay áo xuống.

Muội tầm duẩn phủ, thái sơ vô.        Không rau, em có tìm được măng không?

Muội liên quân trú Tây, hàn tiết.  Em thương anh ở phía Tây, trời lạnh,

Thạch bích điệp phi, khê hạn khô     Bướm bay vách đá, khe suối khô kiệt.

Quân ái kì phương, muội hiểu đắc   Anh thích miền lạ, em hiểu được điều đó

Cận ưu địch tạc đáng ư đồ.              Chỉ lo bom địch chắn trên đường

Quân đăng xa, vũ hốt nhiên giáng         Anh lên xe, trời bỗng mưa

Huy thuỷ can liên tiếp trục tư              Cái que gạt nước liên tục xua nỗi nhớ

Muội há sơn dương quang chiếu diệu Em xuống núi, ánh nắng rực rỡ

Tư sầu tâm nội thụ chi khu                   Cành cây gạt bỏ đi nỗi buồn riêng tư

Đông tây lưỡng địa phi bưu tuyến   Hai miền Đông Tây không có đường bưu vụ,

Vũ khí quân lương duy vận thâu   Chỉ vận tải võ khí , quân lương.

Đông xứ nữ dân công – lục áo.    Miền Đông, dân công nữ- áo màu xanh

Tây phương- thanh phục binh  na đầu. Phía tây, chiến sĩ quân phục xanh ở đầu này

Muội phương chiến sĩ hướng quân xứ Chiến sĩ từ phía em đi về phía anh

Xuất trận  tinh binh thiên vạn trùng       Ngàn vạn lớp tinh binh ra trận

Tương tự  tình ngôn đàm bất tận     Như lời tỏ tình nói khôn hết,

Trường sơn nhất đái, Tây liên đông. Trường sơn một dải, Tây liền Đông. 

東長山-西長山 

(范進矞詩-相梅居士譯) 

 
網床同吊長山上
咱倆二山頭遠居
征路此時風景美
東西雙地共相思
 
山雖一帶雲雙色 
雨暑寒溫都不同 
如北分南妹別我
似連一帶西離東 
 
長山西去吾憐妹 
雨降連綿挑米途
蚊子滿林需下袖 
妹尋筍否菜蔬無  
 
妹憐君住西寒節 
石壁蝶飛溪旱枯 
君愛奇方妹曉得 
僅憂敵炸擋於途
 
君登車雨忽然降
揮水杆連接逐思
妹下山陽光照耀
私愁心内樹枝驅  
 
東西兩地無郵線
武器軍糧不運輸 
東處女民工綠襖 
西方青服兵那頭  
 
妹方戰士向君處
出陣精兵千萬重
相似情言談不盡 
長山一帶西聯東        
                 

L’ EST ET L’OUEST DE LA LONGUE CORDILLÈRE  TRƯỜNG SƠN

Poem de Phạm Tiến Duật

Traduction de Trịnh Phúc Nguyên et Nguyễn Thuận.

Nous avons suspendu nos hamacs sur la Longue Cordillère Trường Sơn

Nous deux séparés aux deux bouts très éloignés

La piste au front est belle cette saison

Le côté Est pense au côté Ouest de la Longue Cordillère

Une chaine de montagnes mais deux teintes de nues

Le ciel est aussi différent, ici le soleil, là-bas la pluie

Comme l’Est et l’Ouest, chaine de montagnes et forêts continues

Je marche à l’Ouest, te plaignant à l’autre côté-là

Il pleut abondamment sur la piste de transport du riz.

Les moustiques volent dans la futaie faisant rallonger tes manches

Légumes ne restent plus, déterres –tu les pousses de bambou?

Tu me plains à l’Ouest en hiver

La ravine à sec, les papillons survolent les rochers

Tu sais que je suis épris de l’étrange contrée

Tu as le souci de la piste barrant les ennemis

Je monte sur mon camion, la pluie commence à tomber

L’essuie – glace de la voiture balaie mes souvenirs

Tu descends la montagne, le soleil se lève, radieux

La branche de l’arbre écarte mes intimes pensées

De l’Est à l’Ouest, ce n’est pas le chemin du courrier

C’est la piste de transport de balles et du riz

À l’Est, les jeunes filles de choc en tuniques vertes

À l’Ouest, les soldats en uniformes verts

De ta piste jusqu’à la mienne ici

Des troupes marchent au front sans fin

Comme l’amour unit les paroles infinies

L’Est unit l’Ouest de la Longue Cordillère.

Traduction de Trịnh Phúc Nguyên et Nguyễn Thuận.

(1) Trường Sơn = longue cordillère du centre Viet Nam

TRUONG SON – EST  –  TRUONG SON – OUEST

(Traduit par Phan Hoàng Mạnh)

Attachant le hamac dans la même forêt de Truong Son,

On est deux personnes séparées dans des coins bien éloignés.

Le chemin au front est bien beau dans cette saison,

Et le Truong Son-Est pense au Truong Son-Ouest.

Une même chaîne de montagnes, mais deux couleurs 

                                                                        de nuage!

Ici, c’est du soleil, là-bas, de la pluie, et l’atmosphère aussi

                                                                       est différente,

Tout comme toi et moi, comme le Nord et le Sud,

Comme l’Est et l’Ouest dans une suite de forêts continues.

A Truong Son-Ouest, je suis en route, pensant à toi.

De ton côté, c’est plein de pluie sur le chemin de transport du 

                                                                                             riz.

Contre les moustiques de la forêt vierge, il te faut couvrir tout 

                                            le bras avec la manche de ta robe.

Légumes épuisées, as-tu recherché les pousses de bambou?

Tu me plains en pensant à la zone d’Ouest en hiver,

Où les ruisseaux s’assèchent et des papillons voltigent sur les

                                                                                     roches.

Sachant que mon âme sera attirée par les terres inconnues,

Tu restes préoccupée à éviter les bombes ennemies sur la route.

Je monte dans la cabine sous la pluie qui tombe à verse.

L’essuie-glace semble effacer tout mélancolie;

Tu descends sur les pentes dans la clarté éclatante du soleil.

La branche d’arbre écarte tous sentiments intimes.

De l’Est à l’Ouest, il n’y a pas de communication postale,

Ce n’est que le chemin de transport des munitions et du riz.

À Truong Son-Est, la jeune fille des “Trois Prêt”(*) est vêtue 

                                                                                     de bleu,

Tandis qu’à Truong Son -Ouest, les soldats sont en uniformes 

                                                                                          verts.

De ton côté, on envoie vers ma contrée

Des colonnes continues de soldats partant au front.

C’est comme l’amour qui relie sans fin les paroles 

Entre Truong Son-Est  et Truong Son-Ouest.

                       Version française de Phan Hoang Manh

(*) Mouvement idéologique de la Jeunesse Vietnamienne dans les années

     de guere contre les Américains (1964-1970) “Trois PRÊT”. 

 (1. Prêt à se battre héroïquement.. 2. Prêt à s’enroler dans les forces armées 3. Prêt à aller accomplir n’importe quelle tâche que la Patrie demande,)

      PRÊT: du slogan “Toujours prêt!”. Ce n’est pas le mot “prêt” dans les affaires financiéres.

.    “Trois Prêt”: trois fois prêt.

PHỤ TRƯƠNG TTTB@ No 157
                                      TMCS
TRUYỆN DÍ DỦM
top-nhung-cau-chuyen-cuoi-an-tuong-ve-gia-dinh-1
WHY
(Gleaned by TMCS)
 

Wife: Why do you go out in the balcony, when I start singing.

Husband: Because they would think I am beating you.

TMCS”s comment:

 What a frank and profound answer !

TẠI SAO

(TMCS- lượm và dịch)

Vợ:    

     Sao anh bỏ ra ban-công

Đúng khi em hát tiếng lòng của em?

Chồng:

      Vì e thiên hạ hiểu rằng:

Anh đang đánh vợ như thằng vũ phu !

TMCS bình rằng :

Thẳng thắng & thâm thuý thay! 

ĐỐ VUI

TMCS

Kì trước:
 
Toujours le premier, jamais le dernier, 

Rien sans lui n’est jamais fini, 

Car rien ne peut commencer sans lui.

Qui est-il ?

Ré. Début
 
Kì này

Qu’est-ce qui vient une fois dans une minute, deux fois dans un moment, mais jamais dans un siècle?

Lời nhắn:
 
a- Bạn đọc nhiều nơi đề nghị không xếp chung “top 10” vì như vậy “lợi thế” tuyệt đối  luôn thuộc về nhóm “Pháp ngữ”, đa số  thành viên nhóm này đều biết sẵn câu đố và lời giải từ trước không cần suy nghĩ phút nào cả.
Như vậy từ nay, TTTB@ đề nghị quý bạn đọc nào tìm ra Réponse  chỉ báo ngay, riêng về toà soạn (chứ không đồng gửi Réponse cho cả nhóm VIP của mình, để các bạn khác kịp nghĩ sau). TTTB@ sẽ căn cứ date, ngày giờ nhận email và xếp theo thứ tự theo quy mô từng nhóm. Như vậy sẽ có nhiều bạn cùng nhóm có cơ hội tham gia trả lời vì không ai biết đã có người trả lời, “lộ” réponse rồi !!! người sau mất hứng suy nghĩ !(TTTB@ xin nhận thiếu sót không để ý đến lợi thế cả nhóm Pháp và mấy nhóm cộng đồng Pháp ngữ – mà chỉ để đến khía cạnh VUI , nên đã sơ xuất).
 
b- Với đề nghị nên có cả Đố vui bằng Anh và Hán ngữ để “phân bổ đều “lợi thế” giữa các nhóm (theo ngôn ngữ vùng miền trên thế giới) : TTTB@ sẽ nghiên cứu thêm. Việc này không khó lắm, vì trên mạng bằng  thứ tiếng nào đều có mục Câu đố, Đố vui,  Câu đố dân gian… bằng thứ tiếng đó. V/đ chính là toà soạn “độc đinh” lại ôm đồm nhiều thứ… phải chờ TBT TMCS sắp xếp xem thế nào, sẽ thông báo độc giả sau.
 
Trước mắt, kính đề nghị quý vị làm theo đề nghị nêu ở mục a.
Đa tạ.
TTTB@ – TMCS.
 

ẢNH – VÈ ĐỀ ẢNH.

VÈ – ẢNH 

         

Ở đây đang cữ rét – lại gặp hôm mưa gió, nghe nói hôm ấy HN  nóng tới 40o. Canada có cả chục ca tử vong vì nóng quá ! TMCS tập tành, toạ thiền, ăn sáng xong đang chuẩn bị ngồi nhâm nhi cà-phê trong cái Trà Đình – thực chất là túp lều hình lục lăng, khung thép, lợp vải bạt ở góc vườn, kê bộ bàn ghế, dùng làm nơi ngồi uống trà, cà phê, thư giãn -…  Đang mải vẫy tay chào từ biệt lũ chim thiền lần lượt, lục tục  toả đi các nơi kiếm ăn, chợt TMCS nghe thấy tiếng động dưới gầm bàn…Hoá ra còn đôi chim đang rét quá chưa bay đi được, TMCS đành ân cần dỗ dành chúng cứ ở đấy, chủ nhân sẽ đãi mẩu bánh mì cho ấm lòng, ngớt mưa bay đi sau… À, mà chờ lát , đợi ta lấy ĐTDĐ chụp pô ảnh kỉ niệm… TMCS lấy mẩu bánh ra, bảo chúng đừng động đậy, chụp ảnh xong rồi ăn… Đôi chim ngoan ngoãn ngồi chờ, theo đúng đề nghị của TMCS. 

Thực ra từ nhiều năm nay, khuôn viên nhà TMCS đã là nơi tá túc của bao cánh chim trời: đêm đêm cư ngụ trên mái nhà, sớm sớm toạ thiền cùng chủ nhân trên chiếu cỏ, ngày ngày bắt sâu bọ, côn trùng trên cỏ cây, hoa lá, ca hát vui đùa, nhảy nhót trong lùm cây, trên thảm cỏ, uống nước, tắm rửa trong bồn sen, vũng nước, dưỡng bệnh dưỡng thương khi đau yếu, tuổi tác hoặc bị tai nạn. thương tật( do TMCS chu cấp hoàn bộ đồ ăn, thức uống, thuốc sát trùng, băng bó…) chờ ngày hồi phục, lành lặn  vỗ cánh bay đi hoặc cuối cùng an giấc ngàn thu, về cõi vĩnh hằng, gửi lại chút xương tàn bé bỏng dưới mỗi gốc cây vườn trong làn khói hương nghi ngút khi không qua khỏi…Mỗi lần chôn cất một kiếp chim trong vườn, TMCS lại dành ít phút mặc niệm, rồi suy ngẫm về Điểu sinh  và Nhân sinh ! Với TMCS, Điểu sinh  hay Nhân sinh tuy dài ngắn, phương thức tồn tại  khác nhau song cũng đều là SINH LINH trong trời đất, thiên nhiên cả…Là con Người nếu có trí tuệ hơn muôn loài thì càng phải biết thương yêu chúng, từ chim muông tới hoa lá, cỏ cây…Bây giờ, đó là điều tâm niệm của người Cư sĩ đất Tương Mai trong những năm tháng tóc bạc da mồi, nơi đất khách quê người xa thẳm, thường tự ví mình như một cánh CHIM BẠT GIÓ…chẳng khác chi một phận chim già …

Chẳng Tu thì cũng như Tu mới là…

Chim thì hót trên cây, TMCS thì ngâm vẻ vè ve  và ôm đàn nỉ non tình ca thuở trẻ trong chốn Trà đình… Điểu sinh  và Nhân sinh lúc về già sao khéo giống nhau !!!

Chả biết có quý vị nào – nhất là quý vị đã quá cột mốc  “cổ lai hi” – (TMCS mới  U90) – có chung niềm Tâm sự với người Cư sĩ đất Tương Mai không ? xin hãy rót cho nhau như khi xưa Huyền Trân và Tản Đà đã “rót đau lòng ấy vào đau lòng này”, bây giờ Đổi mới ta rót cho nhau cả Niềm vui nữa, Vui là chính , Buồn mà chi !!!

 

… Và thế là với sự yêu thương, quyến luyến, đồng cảm giữa Chim với Người, Người với Chim, TMCS có tấm ảnh này hầu quý vị thưởng thức, kèm thấy mấy câu vè dịch ra Anh, Pháp  và Hán. Cứ ngờ ngợ tiếng Pháp dùng  “ rendre chaud” ( làm cho ấm) có sợ hiểu nhầm gì không…(có tuổi rồi, khi xưa học khá nhiều, nay quên gần sạch trơn, nên đã phải thăm dò mấy nơi qua phone, qua mạng, nhưng chưa có nơi nào hồi âm- thôi cứ giới thiệu ào ào). Tiếng Anh và Hán thì chả lo.

 

ĐỀ ẢNH ĐÔI CHIM

TMCS (Đông – 2018)

         Sớm nay có một đôi chim

   Gió mưa lặn lội đến tìm vườn tôi.

       Thương chim rét lắm, chim ơi!

 Lửa hồng chưa nhóm, sưởi lời thơ xanh ! 

EPIGRAPH ON THE PHOTO OF A PAIR OF BIRDS.

(TMCS)

A pair of birds comes to me

Today, when it’s rainy and cold

Dear birds, listen to my poetry,

It would make you warm and cozy.

ÉPIGRAPHE SUR LA PHOTO D’UNE PAIRE D’OISEAUX

(TMCS)

Aujourd’hui,  il pleut et il fait froid

Une paire d’oiseaux vient chez moi

Ếcoutez ma poésie, chers oiseaux !

Elle vous rendra  agréable et chaud 

ĐIỂU ẢNH ĐỀ THI

(TMCS)

Hàn vũ  lãnh phong , song điểu đáo.

Nhân thi noãn điểu , thử đông thần.

Mưa lạnh gió rét, đôi chim đến,

Thơ người , ấm chim, sớm đông này.

鳥影題詩

(相梅居士)

寒雨冷風雙鳥到

人詩煖鳥此冬晨
 
( Trời mưa, mù mịt, thiếu sáng, đèn của ĐTDĐ không sao tự loé  sáng được, nên ảnh mờ, TMCS định đưa vào chỉnh sửa trên Photoshop – song lại e mất tự nhiên…cứ dùng dằng…thôi “đến hẹn phải lên”, cứ để “mộc” thế này gửi quý vị xem cho “mát mẻ” trong thời tiết oi nóng 40o của nước mình…và thông cảm với đôi chim vườn nhà TMCS đang co ro, không bay nổi…Rét căm căm, TMCS cũng chỉ ê a  “chay”, không “bật bông” đệm theo được, cóng và đau đầu ngón tay lắm…Quý vị thấy không, mưa  hắt ướt cả sàn Trà đình trống trải, rét – thi  vị , nhưng …rét lắm…hừ hừ… rét…hình như vì mưa nên ở đây,  “riêng” sớm hôm ấy cũng “buốt”, tựa như cái “buốt” bên hồ Gươm vào khuya một mùa đông năm nào, lâu lắm rồi thì phải… 
…Chìm vào Dĩ vãng, trong  Thi vị  và Thú vị có cả chút dư vị : Dịu ngọt và Tái tê…)
TMCS-  Juillet 2018
Inline image
Ảnh : Đôi chim trú mưa, sưởi ấm bằng Bánh mì và Thơ trong Lều  Trà (Trà đình), dưới gầm bàn của TMCS một sớm mùa đông giá lạnh xứ Chuột túi (7-2018).
 
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

TRƯỜNG SƠN ĐÔNG TRƯỜNG SƠN TÂY PTD

Bl(456) TTTB@ No156

 

Trường sơn đông Trường sơn Tây (PTD)

DẠO ĐẦU TTTB@ No156

                     TMCS

LAN MAN – 

– HỎI ĐÁP :

ĐẠO THIỀN HAY THIỀN ĐẠO CÓ PHẢI LÀ MỘT TÔN GIÁO KHÔNG?

  • GOM CHUYỆN NHÀ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT:

CÔ GÁI THẠCH KIM NĂM ẤY – BÀ LÃO THẤT TUẦN NĂM NAY…

– HỎI ĐÁP :

ĐẠO THIỀN HAY THIỀN ĐẠO CÓ PHẢI LÀ MỘT TÔN GIÁO KHÔNG?

Chắc có nhiều bạn đọc sẽ ngỡ ngàng về tiêu đề câu chuyên lan man hỏi và đáp kì này của TTTB@.  

Xin kính thưa rằng:

                             Đành rằng quen thói lan man,

                         Bởi ai nhen lửa cho làn khói bay!

                                                      

                                                     X

Số là: 

Hôm trước nhận được từ “Công chúa” nhà mình tấm ảnh chụp một Vị sư trong áo cà sa đứng tĩnh tại trên cầu, soi bóng xuống dòng nước long lanh huyền ảo khói sương (đón đọc “Vè và ảnh” trong Phụ trương kì này)…bất giác TMCS ngẫu hứng, tức cảnh sinh tình, bèn buột miệng mà ngâm câu tứ tuyệt :

                                   THƠ ĐỀ ẢNH

                

                      Chưa được như Người khoác áo tu,

                      Tâm còn bề bộn nỗi riêng tư:

                      Tình nhà, nghĩa nước, yêu thi hoạ,

                      Vẫn học đạo Thiền, ngưỡng mộ Sư.

                                                                        TMCS-Juin 2018.

Lửa bốc lên từ chữ đạo trong câu cuối (chữ đỏ) – điều thú vị là đã bất ngờ  bùng phát từ đất USA…Nguồn cơn khá li kì …

… Hôm ấy, sau khi ghi lại mấy câu “thơ thẩn” trên, TMCS đã  có hứng dịch “chúng” ra thơ Hán, Anh, Pháp, rồi ề a rung đùi,  đắc chí ngâm nga, lúc “chuếnh choáng” men thơ mới cả gan dám gọi đó là “tứ ngữ thi”, rồi “ phởn phơ” lần lượt đọc qua phone cho một số bạn bè – cả Ta và Tây, Tàu nghe. Thấy ai cũng có vẻ “thích” (like), TMCS bèn post về VN, và tới một số nước khác, toàn là các bạn đọc VIP kì cựu của TTTB@…

TMCS cứ ngỡ rằng “khoe tí” cho thoả cái cố tật “thích khoe” từ tấm bé, nào ngờ, ngoài một số hồi âm “chung chung”, có một số bạn cỡ VIP “xịn” đã thực sự quan tâm đến mấy câu trên, thoạt tiên  ai cũng thấy hay hay, ngồ ngộ, thinh thích, … rồi sau đó rất cá biệt – khởi đầu và chủ yếu là từ trong số bạn nước ngoài – đã có người thoáng mơ hồ, ngờ ngợ… bắt đầu từ chữ “đạo Thiền”, trong đó  LỬA nhen lên là từ chữ ĐẠO. Và thế là có LÀN KHÓI LAN MAN này…

Ngọn lửa bùng lên bắt đầu từ nhóm mấy bạn cựu chiến binh USA vẫn hằng ưu ái TTTB@ , các bạn còn khá thạo tiếng Việt và quá nửa có bà xã là gốc Việt, thậm chí có bà còn là đồng hương hàng tỉnh với TMCS, thuộc Nguyễn Bính vanh vách… Dè đâu, lửa lan về tới VN, từ đất Nghệ an lan ra  HN, … có cá biệt một hai bạn tham gia hỏi về ĐẠO Thiền,  câu hỏi xem ra có phần “sắc mắc” hơn các bạn Tây – thế là có làn khói nghi ngút và nghi ngờ, buộc TMCS phải suy ngẫm  về chữ “Đạo”…xem  xem liệu có phải bất kì từ nào đi sau chữ đạo đều là tôn giáo không??? nếu không phải là tôn giáo thì phải “cứu hoả” : dập tắt ngay đốm lửa nhỏ nghi ngại này…

Bạn N.A hỏi “trực diện”, không úp mở gì cả, chất vấn thẳng thừng : Phải chăng có thể coi đạo Thiền là một tôn giáo ? (như kiểu  nói : đạo Phật, đạo Hồi, đạo Cao đài…) 

Một trong hai bạn HN, vốn nếp Tràng An rất tinh vi – tế nhị, v/đ đặt ra nghe “êm đềm trướng rủ màn che” hơn, trước hết là “hỏi han”, sau mới là ngỏ ý muốn được “mạn” phép sửa câu cuối của TMCS  từ “Vẫn học đạo Thiền, ngưỡng mộ Sư “ thành:

      

                “ Vẫn thiền theo Phật, ngưỡng mộ Sư”

chắc hẳn với thành ý e rằng dùng từ “đạo thiền” như TMCS sẽ cho nghĩa: thiền là một tôn giáo chăng? 

Quả là người Tràng an đủ nết: đã vừa  thanh lại còn vừa lịch !!!

TMCS cũng đã có nhời cám ơn riêng, nhân đây xin kính ngỏ chung rằng:

Câu THƠ góp ý này của bạn Tràng An mới chỉ phản ánh được  suy nghĩ của bạn ấy – đúng sai thế nào còn phải bàn về nội dung (xem các phần dưới) nhưng trước hết, câu thơ “góp” của bạn ấy về hình thức đã “bị” trái luật “nhị tứ lục phân minh” của tứ tuyệt – gây “lộn” với ba câu trên của TMCS ! Theo đúng luật Đường  và thi pháp “Bút Tre” thì trong khuôn khổ và trên cái nền của cả bài TMCS đã viết, câu của bạn  này phải sửa là:

Vẫn “Thiến” theo “Phn” ngưỡng mộ Sư.

    –    (trắc)    –        bằng        –           (trắc)    –

         2  (nhị)          4 (tứ)                    6 (lục)

Xin thầm thì rằng: Tứ tuyệt phải đúng cả niêm và luật cho bằng trắc cả bài, nên thay đổi “nhị tứ lục” của một câu là phải “đụng” chạm, có khi đổ vỡ cả bài “ – 

TMCS mạn phép đoán mò rằng, chắc vì quá mải miết về nội dung mà bạn đọc HN đã quên mất “niêm” và “luật” – Người cổ xưa coi một khi đã “thất niêm”, “thất luật” thì không còn là thơ luật Đường nữa ! 

(Tóm tắt về Niêm 粘 (dính chặt, dán vào nhau): Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ thứ nhì trong cả hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. … Đó là lí do TMCS đành phải đánh liều động bút, vận dụng thi pháp Bút Tre để cứu vãn “tình thế” cho câu của bạn HN, chứ làm gì có “thiến” với “phần”… Thà “tối” thậm chí “vô” nghĩa, còn dễ “nghe” , dễ “đọc”  hơn “sái” niêm- luật .

TMCS đành tàm tạm như trên vậy…có thế mới tránh khỏi “hơi bị” quá sức…:

                     Thất niêm, luật ( 失粘律 ) rất chối tai

                       Nhắn người tri kỉ chớ sai điều này ! )

Cái tạng của TMCS không “hạp” với thơ kiểu “tứ tuyệt” tân thời, vần vèo bằng trắc lộn xộn, bỗng dưng đi “cãi nhau” với mấy câu luật Đường đã sắp xếp  nghiêm chỉnh của TMCS,…( nếu bạn TỰ viết riêng theo kiểu thơ “tự do” thì miễn bàn, song nếu đem ghép vào một bài vốn đang nghiêm chỉnh về niêm luật  thì không ổn tí tẹo nào !)

TMCS hiểu rằng các bạn N.A  và H.N ( chắc chắn là thạo tiếng Việt hơn các bạn CCB Mỹ ) đều có ý ngờ ngợ dùng từ Đạo Thiền chí ít cũng dễ bị hiểu lệch: Thiền là một tôn giáo (?). Các bạn Mỹ và các vị phu nhân gốc Việt thì qua nhiều lần giao lưu với TMCS, muốn biết rõ hơn, nên dè dặt, cẩn trọng khi hỏi – hình như cũng còn có vẻ “già dặn” và  cả  già “giơ”  hơn khi đặt vấn đề…

Trước khi “lí sự” vòng vo “Tam cuốc”, TMCS xin nêu ngay kết luận của bản thân :  

Thiền không phải là một tôn giáo. Không mang tính thần bí, tâm linh nào cả.Có nhiều môn phái thiền : Thiền Yoga (Yoga – từ Hán Việt : Du-già – 瑜伽- chưa bao giờ là tôn giáo cả !-, thiền Bà-la-môn…Trừ mấy tôn giáo đã hiển nhiên hai năm rõ mười là tôn giáo, không phải từ nào cứ đi theo từ “đạo” đều là tôn giáo cả !

Trong Yoga cũng có thiền, song cũng như Thiền đạo hay đạo Thiền – Yoga không phải là một tôn giáo riêng biệt, không có kinh kệ , không giáo chủ, giáo lí, không nhà thờ riêng… Yoga do một người Hindu giáo tìm ra, nhưng không nằm trong Hindu giáo. Yogo không đòi hỏi niềm tin tín ngưỡng, lòng trung thành…như một tôn giáo…Nó chấp nhận : bất kì  ai theo tín ngưỡng nào  cũng học và tập Yoga được. TMCS cũng có cơ may quen biết một số Yogi nam, nữ người VN và người nước ngoài, nhiều người cũng như TMCS, chẳng có tôn giáo nào…  Cũng may là Yoga đã vào VN với cái tên thực, chứ vào sớm hơn ắt đã mang một cái tên phiên âm qua  Hán ngữ , rồi Hán Việt mà thành Du-già (瑜伽) như TMCS đọc được trong các sách Tàu ! Hiện nay có nhiều môn phái yoga, cá biệt có môn phái “hơi” có vẻ thần bí khiến có người tưởng như là tôn giáo – song đó thực chất chỉ là hệ thống các phương pháp tập luyện cơ thể và tâm chí mà thôi…

Từ “Đạo” trong “đạo thiền” ở các tài liệu trong nước và hải ngoại, đều không mang ý nghĩa là một tôn giáo như ta thường gọi : đạo Phật, đạo Lão, đạo Hồi, đạo Tin lành, Đạo Cao đài…

(Chợt TMCS liên tưởng đến một tiểu giai thoại một thời:

Có một vị c/b phụ trách tuyên huấn quá cẩn thận đã dặn dò đàn em thuộc cấp rằng: khi lên lớp chớ dùng từ “Mác Lê”, “Mác-xít” kẻo có người “đánh đồng” mà hiểu là chủ nghĩa Mác- Lê nin và chủ nghĩa Mác – Xít ta lin. Ta đang chống tệ sùng bái cá nhân, phải tránh khả năng hiểu nhầm tai hại này…—Ý chừng là đề phòng có người chưa biết từ “Marxisme” !

Hình như cách “sợ” hiểu đạo thiền là một tôn giáo như các đạo khác… có lẽ không giống hẳn giai thoại trên mà mới chỉ hao hao…)

Trước khi dẫn đôi điều theo sách vở, TMCS hay nghĩ đến các thí dụ ngoài lề, trong cuộc sống theo cách lí giải  “đại chúng hoá” :

Thí dụ: bài thơ  “Than ĐẠO học” của cụ Tú Xương (xem dưới). Rõ ràng  đạo Học đâu phải là tôn giáo ! Mời quý vị đọc thử :

 THAN ĐẠO HỌC – TRẦN TẾ XƯƠNG (陳濟昌)

Đạo học ngày nay đã chán rồi,

Mười người đi học, chín người thôi

Cô hàng bán sách lim dim ngủ,

Thầy khoa tư lương nhấp nhổm ngồi.

Sĩ khí rụt rè, gà phải cáo,

Văn trường liều lĩnh, đấm ăn xôi.

Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhĩ ?

Trình có ông tiên thứ chỉ tôi.

Ấy ! chữ đạo Thiền trong câu tứ tuyệt trên của TMCS, cũng là chữ Đạo trong Đạo học của cụ Tú Xương đó ! 

Cũng vẫn từ “Đạo” chẳng có nghĩa là một tôn giáo,  đã được thiên tài Nguyễn Du dùng ở mức “trên cả tuyệt vời” : ĐẠO ĐÀN BÀ ! 

Tất nhiên tự cổ chí kim chả ai nghĩ  “đạo đàn bà” là một tôn giáo ! vậy cũng chớ nghĩ cứ “đụng” vào từ “đạo” như Đạo thiền trong câu tứ tuyệt của TMCS là phải có hàm nghĩa tôn giáo !

Xin mời quý bạn CCB Hoa kì, quý vị phu nhân gốc Việt và mấy bạn NA, HN cùng thưởng thức đoạn KIm Kiều tái ngộ :

Chàng rằng: Khéo nói nên lời,

Mà trong lẽ phải có người có ta !

 Xưa nay trong đạo đàn bà,

Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường,

Có khi biến có khi thường,

Có quyền nào phải một đường chấp kinh .

Như nàng lấy hiếu làm trinh,

Bụi nào cho đục được mình ấy vay ?

Trời còn để có hôm nay,

Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời .

Hoa tàn mà lại thêm tươi,

Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa 

… …

Từ các dẫn dụ trên, ta suy ra  kết luận:

Đạo học (TTX), Đạo đàn bà (ND) và Đạo Thiền (TMCS) …đều  KHÔNG PHẢI LÀ TÔN GIÁO !

Tương tự, còn có nhiều cách dùng từ đạo chả có liên quan đến bất kì tôn giáo nào .

Thí dụ :

Đạo thánh hiền, tầm sư học đạo, đạo vợ chồng, đạo làm tướng, đạo làm con, ăn ở cư xử cho phải đạo

Tức là từ đạo có nghĩa rất rộng, có thể thuộc về nhiều từ loại mà không thay đổi từ dạng (hình thức từ) như một số tiếng Âu- Mỹ nên khó phán xét nhất là với các bạn Tây.

TMCS chợt nghĩ đến mấy câu Kiều – ở đoạn sau, khi nghe Kiều kể về thời gian bị bọn “ác” hành hạ, Từ Hải sai quân đi lùng bắt đem về trị tội :

      Từ Công nghe nói thủy chung,

Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.

  Nghiêm quân, tuyển tướng sẵn sàng,

   Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao.

       Ba quân chỉ ngọn cờ đào,

  Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri,

À, thì ra trường hợp này “đạo” có thể coi như một quán từ (hoặc mạo từ : article ) : một đạo quân, tương tự ta có :

một đạo luật, một đạo bùa…

Như vậy:

 danh từ quân, luật, bùa…không phải vì đứng sau từ “đạo” mà e ngại được hiểu là  các  tôn giáo “quân”, “luật”, “bùa “

Kể ra còn nhiều nội dung lí thú nữa, nhưng e lạc đề nên TMCS muốn thu gọn lại để chuẩn bị “stop” … 

Tỉ như : Đạo còn có khi là động từ (verb). Thí dụ : đạo văn, đạo nhạc, đạo thơ… (ăn cắp văn, ăn cắp nhạc, ăn cắp thơ,…). Văn, nhạc, thơ…đâu có dính dáng đến tôn giáo nào…

Cá biệt, RẤT THÚ VỊ là có nơi có lúc “đạo” chả đi với cái tên cụ thể nào, lại ngầm chỉ đích xác một thứ tôn giáo. Đó là một trong những điều thần kì của tiếng Việt. Hồi thế kỉ 18-19, gặp lúc đói kém các cha cố  phương Tây vào VN truyền giáo thường phát gạo cho giáo dân, để dễ bề phát triển thứ tôn giáo mới lạ này, thời ấy trong dân gian có câu : “Đi đạo lấy gạo mà ăn” ! Đó là dĩ vãng xa xôi rồi…thời đạo Cơ đốc mới “chân ướt chân ráo “ vào VN…Chỉ nghe câu trên, ai cũng biết là nói tới đạo gì rôi ! Từ đó, chỉ nghe nói “Xóm đạo”, ai cũng biết người xóm ấy theo tôn giáo nào rồi, còn nói đạo đàn bà, đạo học, đạo thiền …lại chẳng là tôn giáo nào, hèn chi đa số bạn Tây lúng túng, và cá biệt bạn ta cũng “lơ tơ mơ”…Đây cũng chính là đặc điểm thú vị và thi vị của tiếng Việt yêu quý của chúng ta !!!

TMCS còn nhớ ngày xưa học chữ Nho có tới 5-6 chữ đạo, viết khác nhau, nghĩa cũng khác nhau.

Thí dụ: 

Chữ Đạo 道 , ngày xưa TMCS chỉ biết vài nghĩa, bây giờ từ điển hiện đại cho tới 16 nghĩa (xem : Bộ 162 辵 sước [9, 13] U+9053 )

 Chữ Đạo 導, từ điển mới ít nhất cũng cho tới ba bốn nghĩa ( xem : Bộ 41 寸 thốn [12, 15] U+5C0E )

 Có nhẽ TMCS đã “phi” hơi xa , xin “mã hồi”:

Tại sao lại có từ Thiền đạo, đạo Thiền…

-Tất nhiên còn lắm chuyện: Thiền học, Thiền phái,…Ta gỡ cái nút Đạo Thiền, Thiền đạo ắt sẽ thông suốt tất cả…

Từ Thiền ta mượn từ âm Hán Việt, như rất nhiều từ khác trong kinh kệ nguồn Bắc tông (từ bên Tàu du nhập vào  VN). Ngay cả từ Phật ta cũng mượn từ âm Hán – Việt. Lúc đầu, ta trực tiếp giao lưu với dòng nguyên thuỷ thì gọi là Bụt xuất phát từ Buddha (Boudhha). Trong các chuyện cổ tích dân gian của ta thường dùng từ Bụt, ông Bụt ! về sau, khi Phật giáo ( đạo Bụt ) từ Tàu tràn vào ta (bây giờ thường gọi là Bắc tông) phiên âm Buddha (Bouddha) thành Phật đà, nói gọn lại thành Phật (kiểu như Phú lãng xa: Pháp, Anh cát lợi : Anh, Nhật bản : Nhật, Ý đại lợi : Ý, Nga la tư: Nga… v.v….Đến khi có dịp “tang bồng hồ thỉ”, võ vẽ đôi ba thứ ngoại ngữ, TMCS cứ tiếc mãi: giá như ta tiếp xúc với bảng chữ cái la-tinh sớm hơn thì có lẽ nhờ sự phong phú của ngữ âm tiếng Việt, ta đã không phải phiên âm cách bức qua Hán, rồi Hán việt mà ghi âm tên các nước sát với cách gọi người bản địa . Thí dụ: Pháp -> Phờ-răng-xơ, Anh—> In-gờ-len, Mỹ —-> A-me-ri-ca, Đức—-> Đoi-slen .v.v…và như vậy ta sẽ có Phật—-> Bu-đa, Thiền—> Di an v.v…

Từ Dhyana qua phiên âm của Tàu đã Hán -Việt hoá thành Thiền na và rút gọn thành Thiền ! 

Thế rồi dùng mãi hoá ra “bị” quen rồi “lười” không muốn sửa nữa- thực tế ta hoàn toàn có thể gọi lại tên các nước Pháp, Anh, Mỹ, Đức, Ý…cả tên Phât, Thiền…v.v…sát sạt với âm gốc như nêu trên. Tiếc mà đành chịu, TMCS đành “bó” tay !!! 

Thời trước riêng ở Ta và bên Tàu,  nghĩa của từ Thiền đã được mở rộng như một biểu tượng của sự tu hành theo  đạo Phật , ấy cũng vì thời xa xưa đó , người Tàu  và Ta đều chưa biết đến thiền Yoga, thiền Bà la môn… mà đinh ninh chỉ có Phật giáo mới có thiền, nên từ Thiền ở Tàu và Ta xưa kia đều dùng như biểu tượng của đạo Phật : như Cửa Thiền, Mùi Thiền, Màu Thiền…

Mời chư vị đọc đoạn lời Kiều giãi bày với Kim Trọng ngày tái đoàn tụ :

Đã đem mình bỏ am mây,

Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừạ

Mùi thiền đã bén muối dưa,

Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.

Sự đời đã tắt lửa lòng,

Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!

Dở dang nào có hay gì,

Đã tu tu trót quá thì thì thôi! 

Nhưng chớ vì mấy câu thơ trên của ND từ mấy thế kỉ trước mà ta hiểu nhầm Thiền là một tôn giáo ! Đến thế kỉ 21 và sớm hơn, chúng ta đã biết theo Phật giáo gốc (nguyên thuỷ) – hiện thường gọi là Nam tông –  người tu hành không chỉ ăn rau dưa mà họ ăn bất kì thứ thịt cá nào khất thực được (miễn là không trực tiếp hay có sự đòi hỏi sát sinh để đươc ăn thịt động vật), và họ cũng chả phải chỉ mặc nâu sồng ! Và bây giờ cả người Ta và người Tàu đều đã biết: đâu chỉ có duy nhất Phật giáo mới có Thiền !…Do đó,  “Thiền” đã mất đi ý nghĩa biểu tượng riêng cho  Phật giáo ! Do đó, ở vào  thời nay, nếu có ai đó tự xưng là Thiền giả, Thiền sĩ… thì chưa thể biết đó là một người theo Phật giáo, đạo Bà la môn hay Yoga, vô thần, vô giáo 

TMCS và vô số người khác  đã thiền hàng chục năm nay mà vẫn chả theo tôn giáo nào cả !

Người phương Tây thường dùng nguyên từ Dhyana hoặc dùng Zen lấy theo âm Dhyan, và nhiều người dịch theo ý là “meditation”.

 

Và có hàng trăm hàng ngàn cuốn sách nghiên cứu về Thiền đã dùng các cách gọi : Zen studies, the Way of Zen, Zen school …Các dịch giả VN , nhiều người chắc đã tham khảo cách dịch của Tàu, Nhật, Hàn… mà dùng từ Thiền Đạo, Thiền học v.v…

Thiền Đạo cũng là tên cuốn sách nổi tiếng The Way of Zen của Alan Wilson Watts… (xem ảnh) – bản tiếng Việt dịch là  Thiền Đạo . Bản tiếng Hán và Nhật cũng dùng từ gốc Hán :  禅道, 禅の道. Nhiều bản khác cũng dịch theo ý nguyên tác :  La voie du Zen, O caminho do Zen, … Ảnh bìa sách tiếng Anh và tiếng Việt:

 
 
 
 
 
Inline image
 
 
 
Thiền đạo
 
 

Theo TMCS dịch The Way of Zen ra Thiền đạo tức là dịch giả đã có hàm ý Con đường của Thiền (chứ không chút hàm ý nào về tôn giáo ), TMCS thấy nên Việt hoá : Đạo của Thiền thành Đạo Thiền  kiểu như trong tiếng Việt thuần khiết, 100% người Việt chính hiệu đều nói “Làng tôi” chứ không ai nói “làng của tôi” ( Tương tự: Nói nhà tôi, cha tôi, em tôi, đầu tôi, tay tôi…mà không cần chữ “của”, dùng thêm “của” nghe rất nặng nề và lai căng. Tức là ta nên gọi Đạo Thiền chứ đừng bắt chước Tây- Tàu mà cho “của” vào giữa Đạo và Thiền, hoặc lộn ngược hai từ  này thành “Thiền đạo” theo câu trúc từ Hán hoặc Hán Việt. (xem ảnh chụp bìa sách The Way of Zen của ALan W. Watts) !

Chính tác giả Alan W. Watts đã giải thích Zen (Thiền) không phải là tôn giáo, ý này cũng được nêu ngay trên bìa sách  là :

Thiền là con đường giúp ta tìm ra sự hiểu biết và thực hành thiền đem lại sự thanh thản và sáng suốt trong cuộc sống thường nhật như thế nào…

Do đó, câu “Vẫn học đạo Thiền, ngưỡng mộ sư” của TMCS chả ”tiềm ẩn” nguy cơ hiểu nhầm về ngữ nghĩa nào cả và hoàn toàn phù hợp chuẩn tiếng Việt cũng như  đúng hoàn toàn so với  tất cả các tư liệu phổ cập hiện đang lưu hành rộng rãi.  Nhờ Giời, may mắn thay lại cũng  đúng cả “bằng trắc” của luật thời Đường về thơ tứ tuyệt, Căn bản là ý phải đúng, hợp chuẩn tiếng Việt, nếu hai khâu này hỏng thì…”thơ” mà làm gì !!!

Đọc lại, TMCS vẫn phải phải …thở dài ! Khả năng viết tiếng Việt của TMCS quá yếu… muốn ngắn gọn mà mãi không được !!! Rõ khổ thân, tội nghiệp và đáng thương thay cho  TMCS, chỉ vì nặng lòng với một số bạn Tây và bạn đọc VN hải ngoại tận tít mù xa thẳm, muốn cung cấp cho các bạn  một số ý tứ về từ “đạo” mà vô tình múa rìu qua mắt chuyên gia và làm “rầu lòng- sốt ruột” và mất thời gian cuả hầu như toàn bộ bạn đọc  VN trong nước…

Nhân đây xin ghi lại mấy câu vè đã gửi bạn CCB Mỹ:

HỎI : (ý kiến của bạn Mỹ)

      

      Bạn phôn tôi lúc canh khuya

Đạo là gì  nhỉ? xẻ chia nhau cùng !

    

ĐÁP: ( suy ngẫm của TMCS)

    

    – “The way of…, hiểu thông thường:

Đạo Thiền có nghĩa: con Đường của Zen “.

       Thiền Đạo – tiếng Hán lộn lên!

Không phải tôn giáo, bạn hiền nhớ cho !

Đọc cuốn sách ( xem bìa ảnh) của Alan W. WATTS, bạn sẽ thấm thía Zen (Thiền)  không phải là một tôn giáo, chữ Đạo ở đây chỉ là THE WAY : LA VOIE : O CAMINHO …: CON ĐƯỜNG …mà thôi ! không hàm chút nghĩa tôn giáo !  Gấp lại cuốn Đạo Thiền – bản Anh ngữ, ngẫm về trải nghiệm thực hành mấy chục năm qua, TMCS càng thấm thía:  không phải mình đã theo một tín ngưỡng nào, một tôn giáo nào mà chỉ đắm mình vào nền văn hoá Thiền và đi được một chặng đường đáng kể để tu thân dưỡng chí / trí, có một cơ thể bền vững và đầu óc, tâm hồn minh mẫn, sáng suốt hơn…

 

Cả thế giới đã viết, nói và hiểu chữ Đạo như thế, can chi mà ngại cứ dính vào “đạo” là mang ý nghĩa tôn giáo  !

 

Còn chủ đề Thiền thì TMCS xin phép miễn bàn, vì v/đ rất Sâu và rất Rộng, ra ngoài chủ đích của TTTB@ . Chỉ cùng lắm khi có dịp TTTB@ sẽ giới thiệu chút chút về thơ Thiền và tranh Thiền thôi !

Chắc TMCS lại phải tạ lỗi quý bạn đọc trong nước, mục Lan man kì này có lẽ hợp với bạn Tây và VN hải ngoại hơn…Với đa số bạn đọc trong nước cả bài gõ này là THỪA, dài dòng và lủng củng quá !!!Làm gì có người VN nào đến nay còn hiểu Thiền là một tôn giáo ngang vai ngang vế, và là một tôn giáo thực thụ, tựa như đạo Phật, đạo Hồi, đạo Tin lành, đạo Cơ đốc…Mấy VIP trong nước hẳn chỉ là “giỡn” TMCS cho vui! 

Chắn chắn trong danh mục các tôn giáo của UB tôn giáo VN và thậm chí của LHQ cũng không có đạo Thiền !

Nhưng đã có tí khói thì cũng phải “lan man” cho an toàn !!! Phòng Hoả hơn cứu Hoả ! Bởi chưng, TMCS vốn là tay chí ít  “nhát như thỏ đế” (fearful as a hare – “peureux” comme un lièvre) !

Lời nhắn thay kết luận: không thể chỉ căn cứ tên gọi (có chữ đạo hay không) hoặc tư thế ngồi, chắp tay, khoanh chân…để nhìn nhận Thiền có phải là tôn giáo không. ( Trong các môn phái khí công võ thuật, khí công dưỡng sinh…người ta cũng ngồi xếp chân, khoanh tay…na ná như một Phật tử toạ thiền song không vì thế mà coi đó cũng là tôn giáo. Tôn giáo thuộc phạm trù tín ngưỡng, có nhiều tiêu chí cơ bản về giáo lý, học thuyết, đức tin,kinh kệ, giáo đường, giáo chủ…không thể quy nạp một cách thô sơ tuỳ tiện được.

Và cuối cùng:  âu đây cũng là một dịp để TMCS ôn lại chút hiểu biết về từ đạo cho ít nhiều có tí ti hệ thống…Quý vị nào có cao kiến xin kính mời bổ sung  cho sáng tỏ thêm

– GOM CHUYỆN NHÀ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

CÔ GÁI THẠCH KIM NĂM ẤY – BÀ LÃO THẤT TUẦN NĂM NAY…

Như nhiều lần TMCS đã bộc bạch, vì những giới hạn thiên bẩm, TMCS thường thiếu tự tin ở khả năng mình hiểu đúng ý nhà thơ nếu chỉ căn cứ vào câu chữ trong bài thơ – kể ra cũng có lí do khách quan : tiếng Việt mình quá linh hoạt và uyển chuyển, cùng là câu chữ nhưng hàm ý có thể thâm thuý, bao gồm nhiều khía cạnh tinh vi, nếu hiểu không hết sẽ dịch “thiếu” , thậm chí sai. Những dịch giả cao thủ, giỏi cả ngoại ngữ lẫn tiếng mẹ đẻ, lại có “cảm thụ” thiên bẩm sắc sảo, thường cứ dịch theo bản năng chủ quan đã đúng ý tác giả. TMCS thì chưa dám mạo hiểm như vậy …

Bởi vậy, để dịch PTD cũng như nhiều nhà thơ khác, TMCS thường phải tận lượng tìm hiểu những chuyện đời thường liên quan đến tác phẩm, vì theo như anh em ông HT và HC từng viết : Thơ tức là Đời và Thơ cũng là Người… 

TMCS bèn suy  diễn: Người Thơ  và Người Đời, ấy tuy là Hai (hay nhiều hơn) những có khi chỉ là Một ! họ là hoá thân của nhau. Mình không có nghề Văn, nghiệp Thơ thì phải tìm hiểu tất cả

Tỉ như để hiểu sâu hơn bài thơ của PTD (TMCS chưa dịch): Gửi em- cô TNXP, tức là nội dung bài thơ nói về chuyện một cô gái TNXP quê ở Thạch kim – tên là Lê thị Nhị – mà lại đùa, trêu tác giả mà nói là Thạch nhọn. Chỉ tìm hiểu RIÊNG về PTD, e chưa hiểu hết bài thơ, nên TMCS đã tìm  đến một số chi tiết cảm động về nhân vật  trong bài thơ ấy: khi đất nước đã thanh bình cô TNXP là nhân vật chính của bài thơ đó vẫn hay gửi quà cá mực từ quê mình ra HN biếu PTD để nhà thơ nhâm nhi với bia HN! Chuyện kể rằng khi nghe tin PTD bị ung thư phổi ở thời kì cuối, cô đã vào bệnh viện thăm và khi PTD nắm tay cô thều thào và mở mắt ra thì cô đã oà khóc,  nước mắt cô rơi xuống má PTD…PTD đã nhắm mắt lại  và những giọt nước mắt của nhà thơ cũng chảy dài. Đôi dòng lệ của hai người chiến sĩ thép của Trường sơn vĩ đại đã hoà chung trên gương mặt người thi sĩ vào thời khắc cuối cùng của một kiếp nhân sinh …PTD thều thào gọi tên cô gái…Cô gái đó – O Nhị – đã khóc nức nở cạnh giường bệnh, bên nhà thơ đã tạc tượng mình bằng bài thơ  đơn giản mà trở thành tuyệt tác… (xem hướng dẫn tìm Video trên mạng “lời kể của cô gái Thạch nhọn gặp lại nhà thơ PTD “ bên dưới)

(Còn một chi tiết nhỏ, TMCS muốn nêu ra đây:

Theo một bài báo của địa phương  số 7/2017, đến “nay” o Nhị vẫn đẩy xe ra chợ bán hàng với thu nhập khoảng ba chục ngàn mỗi ngày và tiền trợ cấp TNXP ba trăm ngàn đ/tháng. Ấy thế mà năm 2007, khi nghe tin PTD mất, o Nhị đã thu xếp kinh phí ra tận HN  dự lễ viếng nhà thơ. Vòng hoa theo o kể là nhờ BTC cung cấp…) 

Với TMCS , người đã nhiều lần tiếp xúc với PTD và chưa một lần được gặp o Nhị, thì đây là tình cảm tuỵệt vời TRONG SÁNG và VĨ ĐẠI giữa thi nhân và nhân vật trong thơ. HỌ đều là CHIẾN SĨ trong cuộc CHIẾN ĐẤU VĨ ĐẠI của dân tộc. Những người YÊU NƯỚC  và YÊU THƠ mãi mãi YÊU QUÝ hai người chiến sĩ này !

Trong khuôn khổ có hạn, TMCS xin trích mấy câu của bài “Gửi em, cô TNXP” – PTD. Bạn đọc sẽ thấy đúng như kết luận từ hơn thế kỉ trước của hai anh em  các ông HT &HC (tác giả Thi nhân VN): bài thơ hay hơn với những điều biết thêm về tác giả. Bước  sang thế kỉ 21, TMCS thấm thía thêm là Thơ sẽ được cảm nhận hay hơn nhờ cả vào sự tìm hiểu nhân vật “nguyên mẫu” trong bài thơ nữa. 

Em ở Thạch Kim, sao lại lừa anh, nói là “Thạch Nhọn”

Đêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón

Em đóng cọc rào quanh hố bom

Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn

Tiếng Hà Tĩnh nghe buồn cười đáo để

Anh lặng người như trôi trong tiếng ru…”.

Nhân vật trong bài thơ trên chính là “o” O Nhị – tên đầy đủ là Lê Thị Nhị, sinh năm 1946, ở xóm Xuân Phượng, xã Thạch Kim, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, cao 1,67m, nặng 74kg…Khi cần giúp các chiến sĩ lái xe vận tải, bốc rỡ “ hàng ”, o Nhị một mình vác hòm đạn pháo nặng 50 thậm chí 70 kg chạy phăng phăng, khiến nhiều đấng nam nhi, trong đó PTD cũng phải ngả mũ thán phục…O Nhị đâu chỉ sử dụng sức mạnh của một cơ thể nữ nhi cường tráng để làm việc này, đó là loại sức mạnh mà cả bè lũ cướp nước và bán nước trong tay chúng dù có thiên binh vạn mã và vô số phương tiện chiến tranh hiện đại song đều mù tịt , không sao hiểu nổi, nhưng mỗi người VN bình dị đều chả cần suy nghĩ đã biết rõ ràng tất cả… 

Chuyện kể rằng: o Nhị không những công tác giỏi, mà thơ ca, hò vè cũng rất nổi tiếng…Đêm ấy vừa lấp xong hố bom, cả tiểu đội o Nhị đang đứng làm cọc tiêu cho xe tải của bộ đội lượn vòng vèo băng qua…chợt có anh lái xe đùa : “ Có lấy anh không? “. Nhị cất tiếng hò vui vẻ:

Dại gì mà lấy lái xe

Cách ba cây số đã nghe mùi dầu…

Cánh lái xe chưa biết đối phó thế nào , thì lại nghe :

Bao giờ chạch đẻ ngọn tre,

Thì em mới lấy lái xe làm chồng…

PTD thấy hay hay, đã nhảy từ trên xe xuống để hỏi han quê quán…Vốn tinh nghịch, o Nhị không nói tên quê mình là Thạch kim mà lại nói đùa là Thạch nhọn… Thế là họ quen nhau và o Nhị trở thành “người mẫu” của bài thơ nổi tiếng. (Theo lời o Nhị kể: cấp trên khi biết chuyện đã phê bình “đ/c Nhị tếu”, dám “hỗn” với nhà thơ PTD danh tiếng vang dội cả Trường Sơn, o Nhị hồn nhiên kiểm điểm : Tui chỉ biết lấp hố bom chứ “nỏ” biết anh “nớ” là anh “mô”…)

Có một chi tiết khiến khi đọc bài báo kể về o Nhị sau chiến tranh, trở về làng về quê, đã khiến TMCS không cầm được nước mắt :

O Nhị về nhà,  yêu một chiến sĩ quê ở khá xa, song mẹ già đau yếu không ai chăm nom, lại không có điều kiện đem theo mẹ già đi xa, o Nhị đành gác chuyện chồng con sang một bên, Khi phóng viên tìm đến thăm “bà lão Nhị ngoại 70” đang sống cô đơn trong ngôi nhà nhỏ, trong một xóm hẻo lánh thì thấy trên bàn thờ có ảnh mẹ o Nhị  và một chiếc mũ tai bèo…  O Nhị kể rằng: hôm ấy, đơn vị o cùng bộ đội công binh phá bom, mở đường “thông tuyến” cho xe qua.Chẳng may quả bom bất ngờ nổ, anh chiến sĩ công binh đã hi sinh sau tiếng nổ dữ dội…  tất cả chỉ còn lại chiếc mũ tai bèo…O Nhị đem về thờ  như di vật của một người ruột thịt…

Với TMCS, chẳng có biển cả non cao nào sánh được với tấm lòng và tình nghĩa của o Nhị ! Tổ quốc VN ta trường tồn qua hàng ngàn năm dài lịch sử bởi nhiều lí do, trong đó phải kể đến “Tình và Nghĩa” của những người đã cùng nhau xả thân giữ nước – như o NHị với bao chiến sĩ Trường sơn…

TMCS muốn tha thiết đề nghị : Chúng ta viết đi viết lại SGK để cải cách giáo dục, đợt này xin chớ quên  đưa sự tích này vào để giáo dục cho con cháu ta muôn đời sau !!!

Cô gái “Thạch Nhọn…” ngày ấy và bây giờ

Cô gái “Thạch Nhọn”… ngày ấy giờ đây đã ngoại 70 tuổi, ngày ngày vẫn đấy xe hàng ra chợ quê kiếm sống. Không biết có ai lo rằng đến ngày nào đó cụ “Thach Nhọn” không đủ sức đẩy  xe ra chợ nữa thì sẽ thế nào đây?
 
 
Xin mời quý vị vào Google, gõ theo mẫu chữ tím  dưới, nháy chuột sẽ  tìm được  video nghe o Nhị kể lại chuyến  vào viện thăm PTD.
Cô gái Thạch Nhọn gặp lại nhà thơ Phạm Tiến Duật
 
 
Dao Thuy Hang
YouTube – Nov 24, 2007

Vốn từng tham gia dân công thời KC chống Pháp và góp phần cứu chữa cầu đường thời chống Mỹ cứu nước, TMCS xin kính gửi o Nhị một bài “lục bát” theo “gu” hò hát của o, vị nào ở vùng Nghệ Tĩnh hoặc ở bất kì đâu  biết địa chỉ o Nhị, xin kính nhờ chyển giúp mấy đoạn vè – có bài còn “nóng hổi” chưa kịp đặt tên- này : 

CHƯA CÓ ĐỀ

(TMCS

Thân kính tặng o Lê thị Nhị – Cô gái Thạch Kim

trong thơ Gửi em-cô TNXP của PTD.

Từng đi bốn biển năm châu

Từng làm mọt sách đêm thâu canh dài.

Từng chiêm ngưỡng bao tượng đài,

Từng ngâm nga biết bao bài thơ hay…

Chưa bao giờ như đêm nay,

Câu thơ thời chiến đắm say lòng già:

Nghe trong bom đạn lời ca

Câu hò vang động rừng già non cao

Tiếng o cười rộn  chiến hào,…

Mở đường ra trận, khác nào nam nhi.

Bài thơ đẹp tựa sử thi,

Tượng đài tạc một nữ nhi bình thường,

Xả thân gìn giữ quê hương,

Tình son, nghĩa sắt tấm gương sáng ngời.

Xa xôi xin ngỏ đôi lời,

Tấc lòng ngưỡng mộ của người tha hương.

                                             TMCS – Juin 2018

NGẪU HỨNG O NHỊ …

(TMCS)

Bao nhiêu mỹ tửu trên đời,

Không say bằng tiếng Nhị cười trong thơ.

Bao lần nghe thấy trong mơ

Ầm ầm bom đạn, Nhị hò vang vang.

Rất bình dị ! Rất hiên ngang !

Thơ Trường Sơn tạc nét vàng thiên thu…

                                                    

                                            TMCS-Juin 2018.

Tạm dịch ra Anh thi như sau :

SUDDEN INSPIRATION FROM MISS L.T.NHỊ

(TMCS)

In this world, for me, not any best liquor

Can be compared with Your laughter

Which makes me tipsy

In reading the poems about the struggle of our country.

In plenty of  my dreams 

All bombings of the enemy

 Are always overwhelmed by your singing voice ! 

You are a so simple, so heroic young lady

Depicted with golden lines of the Trương sơn poetry

In our long Vietnamese history. 

                                                                      TMCS June-2-18

                                                       X

TTTB@ số này tiếp tục giới thiệu bài Trường Sơn đông, Trường sơn tây – PTD cùng các bản dịch. Các phần khác như thường lệ.

Kính thỉnh nhã giám

  TTTB@-TMCS

 
TRƯỜNG SƠN ĐÔNG – TRƯỜNG SƠN TÂY
Thơ PHẠM TẾN DUẬT
 
Dịch:
 
TMCS:  Anh – Hán – Pháp
Trịnh Phúc Nguyên- Nguyễn Thuận  : Pháp
Phan Hoàng Mạnh   : Pháp
 
 

TRƯỜNG SƠN ĐÔNG_ TRƯỜNG SƠN TÂY

Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Phạm Tiến Duật

 
 
Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn

Hai đứa ở hai đầu xa thẳm

Ðường ra trận mùa này đẹp lắm

Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.

Một dãy núi mà hai màu mây

Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác

Như anh với em, như Nam với Bắc

Như Ðông với Tây một dải rừng liền.

Trường Sơn tây anh đi, thương em

Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo

Muỗi bay rừng già cho dài tay áo

Rau hết rồi, em có lấy măng không.

Em thương anh bên tây mùa đông

Nước khe cạn bướm bay lèn đá

Biết lòng anh say miền đất lạ

Chắc em lo đường chắn bom thù
 
 
Anh: TMCS
 
 

EASTERN AND WESTERN TRƯỜNG SƠN  MOUNTAINS.

( Poem by Phạm Tiến Duật – Translation by TMCS) 

Our hammocks are hang up in Trường sơn jungle at the moment,

But we are at these mountains’s two ends

And between us — a very long distance !

This season, how beautiful the path to the battle field is  !

The Eastern Trường sơn 

Always thinks of the Western Trường sơn.

Over the same mountains are the clouds with two different colours.

Here, it’s sunny but there, it’s rainy !

What a difference in weather !

Everything is like you and me, 

We are apart like the North and the South,

The East and the West…

Despite being in the same large forest !

Being on the march in the Western Trường Son,

I feel pity for you carrying rice in the jungle,

Where many mosquitos fly around your long sleeves.

Now, when there are not any vegetables for food,

Can you find  out the young bamboo shoots. 

As my friend, you feel pity for me

Who is now in the winter of Western Trường sơn,

Where there are only the dry streams

And the butterflies hover over the rocky mountains.

You know well that I am fond of the new lands

And You would worry about the enemy’s bombing

On the way where I am going…

 
 
Hán  (phiên âm – nghĩa – chữ Hán) : TMCS
 

ĐÔNG TRƯỜNG SƠN – TÂY TRƯỜNG SƠN

Phạm Tiến Duật thi – TMCS dịch

Võng sàng đồng điếu Trường sơn thượng Cùng mắc võng trên Trường Sơn

Cha lưỡng nhị  sơn đầu viễn cư                  Hai đứa mình ở hai đầu núi xa nhau

Chinh lộ thử thời phong cảnh mĩ           Đường ra trận mùa này cảnh đẹp

Đông , Tây song địa cộng tương tư         Đôi miền Đông Tây chung nỗi tương tư.

Sơn tuy nhất đái  vân song sắc           Núi tuy một dải mây hai màu

Vũ thử hàn ôn  đô bất đồng                  Nắng mưa , ấm lạnh không giống nhau

Như Bắc phân Nam,  muội  biệt ngã.   Như Bắc chia Nam, em  xa anh,

Tự liên nhất đái, Tây li Đông               Tựa liền một dải mà Tây lìa Đông. 

Trường sơn Tây khứ, ngô liên muội  Đi ở miền Tây, anh thương em

Vũ giáng liên miên, thiêu mễ đồ        Trời mưa liên miên, đi gánh gạo, 

Văn tử mãn lâm, nhu há tụ.                Muỗi đầy rừng, phải kéo  tay áo xuống.

Muội tầm duẩn phủ, thái sơ vô.        Không rau, em có tìm được măng không?

Muội liên quân trú Tây, hàn tiết.  Em thương anh ở phía Tây, trời lạnh,

Thạch bích điệp phi, khê hạn khô     Bướm bay vách đá, khe suối khô kiệt.

Quân ái kì phương, muội hiểu đắc   Anh thích miền lạ, em hiểu được điều đó

Cận ưu địch tạc đáng ư đồ.              Chỉ lo bom địch chắn trên đường

 
 
東長山-西長山 
(范進矞詩-相梅居士譯)
網床同吊長山上
咱倆二山頭遠居
征路此時風景美
東西雙地共相思
 
山雖一帶雲雙色 
雨暑寒溫都不同 
如北分南妹別我
似連一帶西離東 
 
長山西去吾憐妹 
雨降連綿挑米途
蚊子滿林需下袖 
妹尋筍否菜蔬無  
 
妹憐君住西寒節 
石壁蝶飛溪旱枯 
君愛奇方妹曉得 
僅憂敵炸擋於途
 
Pháp: TMCS
 

 L’EST ET L’OUEST DE LA CORDILLÈRE DE TRƯỜNG SƠN

(Poème de Phạm Tiến Duật  – Traduit par TMCS)

Attachant les hamacs dans la même forêt de Trường Sơn,

Mais nous sommes à deux côtés de cette chaîne de montagnes,

Une très grande distance nous sépare.

Le chemin au front est si beau dans cette saison!

L’est et l’ouest – les deux côtés de ces monts

Toujours pensent l’un à l’autre.

Sur une même chaîne de montagnes,

Il y a deux couleurs de nuage

Et aussi deux différents climats:

Il pleut ici mais il fait du soleil là-bas.

Tout comme moi et toi ,

Comme le sud et le nord, comme l’est et l’ouest

Dans une même suite des larges forêts .

Quand je suis sur la route à l’ouest de Trường sơn,

Je pense à toi sur le chemin de transport du riz,

À ton côté, il fait souvent  pluie.

Pour contre les moustiques des jungles,

Il faut que tu couvres tes bras 

Avec les longues manches de ta chemise.

Il n’y a pas de légumes partout

Cherches-tu des pousses de bambou?

En tant que mon amie, tu pense à moi

Qui suis en hiver de l’ouest des montagnes

Où il n’y a que les cours d’eau secs,

Les papillons voltigent au-dessus des monts rocheux,

Tu sais bien que je suis follement amoureux 

Des régions inconnues.

Peut être tu t’inquiète du bombardement de l’ennemi

Qui bloquerait mon chemin !
 
 
 
 
Pháp: Trịnh phúc Nguyên – Nguyễn Thuận
 
 

L’EST ET L’OUEST DE LA LONGUE CORDILLÈRE TRƯỜNG SƠN

Poète Phạm Tiến Duật

Nous avons suspendu nos hamacs sur la Longue Cordillère Trường Sơn

Nous deux séparés aux deux bouts très éloignés

La piste au front est belle cette saison

Le côté Est pense au côté Ouest de la Longue Cordillère

Une chaine de montagnes mais deux teintes de nues

Le ciel est aussi différent, ici le soleil, là-bas la pluie

Comme l’Est et l’Ouest, chaine de montagnes et forêts continues

Je marche à l’Ouest, te plaignant à l’autre côté-là

Il pleut abondamment sur la piste de transport du riz.

Les moustiques volent dans la futaie faisant rallonger tes manches

Légumes ne restent plus, déterres –tu les pousses de bambou?

Tu me plains à l’Ouest en hiver

La ravine à sec, les papillons survolent les rochers

Tu sais que je suis épris de l’étrange contrée

Tu as le souci de la piste barrant les ennemis

 
 
 
 
Pháp: Phan Hoàng Mạnh
 
 

TRUONG SON-EST  –  TRUONG SON-OUEST

(Traduit par Phan Hoàng Mạnh)

Attachant le hamac dans la même forêt de Truong Son,

On est deux personnes séparées dans des coins bien éloignés.

Le chemin au front est bien beau dans cette saison,

Et le Truong Son-Est pense au Truong Son-Ouest.

Une même chaîne de montagnes, mais deux couleurs 

                                                                        de nuage!

Ici, c’est du soleil, là-bas, de la pluie, et l’atmosphère aussi

                                                                       est différente,

Tout comme toi et moi, comme le Nord et le Sud,

Comme l’Est et l’Ouest dans une suite de forêts continues.

A Truong Son-Ouest, je suis en route, pensant à toi.

De ton côté, c’est plein de pluie sur le chemin de transport du 

                                                                                             riz.

Contre les moustiques de la forêt vierge, il te faut couvrir tout 

                                            le bras avec la manche de ta robe.

Légumes épuisées, as-tu recherché les pousses de bambou?

Tu me plains en pensant à la zone d’Ouest en hiver,

Où les ruisseaux s’assèchent et des papillons voltigent sur les

                                                                                     roches.

Sachant que mon âme sera attirée par les terres inconnues,

Tu restes préoccupée à éviter les bombes ennemies sur la route.

PHỤ TRƯƠNG TTTB@ No 156

                   TMCS

TRUYỆN DÍ DỦM

A WONDERFUL HUSBAND:

(Gleaned from “The Funny beaver” by TMCS)

truyen-cuoi-tieng-anh-nguoi-chong-tuyet-voi-nhat
truyen-cuoi-tieng-anh-nguoi-chong-tuyet-voi-nhat-1
truyen-cuoi-tieng-anh-nguoi-chong-tuyet-voi-nhat-2
 

NGƯỜI CHỒNG TUYỆT VỜI

(Lượm – kể và dịch : TMCS )

 
Mấy người đang ông đang ở trong phòng thay đồ của CLB chơi gôn thì có tiếng chuông từ một chiếc điện thoại di động của ai đó trên ghế reo lên .. Một người đàn ông cầm máy   và bật to loa.Tất nhiên mọi người khác đều nghe được cả.

Người đàn ông (NĐÔ) : A lô.

Tiếng đàn bà  (TĐB) : Anh thân yêu, em đây mà. Anh đang ở câu lạc bộ gôn?

NĐÔ: Đúng rồi !

TĐB: Em đang ở cửa hàng trung tâm, thấy một cái áo da đẹp lắm giá có 1000 đô thôi. Đồng ý cho em mua nhé ?

NĐÔ : Chắc chắn rồi. Cứ mua đi, nếu em thực sự thích cái áo ấy…

TĐB: Em đến chỗ đại lí xe Mec-xi-đéc, có  mô-đen 2014 mới, đẹp lắm, em thực sự thích.

NĐÔ: Giá bao nhiêu hả em?

TĐB: 98 ngàn đô anh ạ.

NĐÔ: OK, nhưng với giá đó thì xe phải cỏ đủ mọi tính năng…

TĐB: Tuyệt vời, em yêu anh quá !!!

TĐB: À, còn việc này nữa, người ta lại rao bán ngôi nhà năm ngoái em thích …Họ chỉ đòi có 950 ngàn đô thôi….

NĐÔ: Em cứ hỏi mua đi, và đề nghị mức giá 900 ngàn đô đã. Họ có khả năng chấp thuận giá đó đấy. Nếu không thì mình trả thêm 50 ngàn đô nữa, nếu em thấy giá đó vẫn phải chăng…

TĐB: OK. Em sẽ làm như anh dặn.  Gặp anh sau nhé…Anh thật là hào phóng.

NĐÔ: Em đáng giá tới từng xu mà,… em yêu. Tạm biệt nhé.

Người đàn ông tắt máy. Những người khác  há hốc miệng, ngạc nhiên…

 
Người “chồng” tuyệt vời  cười lớn , quay lại hỏi: 
Có vị nào biết cái điện thoại này của ai không?
 

ĐỐ VUI (TMCS)

Kì trước 

 
Pourquoi les flamands roses lèvent-ils une patte quand ils dorment?

Why do the flamingos raise a leg when they sleep ?

Rép. :

Parce que s’ils levaient les deux, ils se casseraient la gueule.

Ans. :

Because if they lifted both, they would break their mouths.

* Trên đây là trả lời theo kiểu Đố vui.  Lời giải đáp khoa học có thể là như sau (TMCS sưu tầm):

Pourquoi le flamant rose se tient-il sur une patte ?

C’est seulement en juillet 2009 qu’on a enfin eu la réponse à cette question que tout le monde se pose. Jusque là, il fallait se contenter d’hypothèses : pour alterner la fatigue sur chaque patte ? Réduire le temps d’envol face à un prédateur ? Avoir un meilleur équilibre en cas de vent ?

Matthew Anderson et Sarah Williams, chercheurs à l’Université de Saint-Joseph en Pennsylvanie, ont infirmé tout cela. Pendant plusieurs mois, ces deux Américains ont épié les habitudes des flamants des Caraïbes au zoo de Philadelphie. Et leurs conclusions n’ont rien à voir avec toutes ces suppositions…

Primo, l’envol sur une seule patte demande plus d’énergie et de temps que sur deux. Deuxio, si les flamants ont un côté favori pour enfouir leur tête dans leur plumage, ils n’ont pas de patte préférée pour se tenir debout. Et ils se tiennent bien plus souvent sur une patte lorsqu’ils sont dans l’eau qu’à terre .

Or, la chaleur d’un corps se dissipe très vite dans l’eau. Se tenir sur une patte permet de mieux la conserver (s’ils gardaient en permanence les deux pattes immergées, ils perdraient beaucoup plus d’énergie). Alterner patte droite et gauche empêche ainsi un refroidissement trop important de l’une et de l’autre. Une thermorégulation bien rusée lorsqu’on passe l’essentiel de son temps à barboter dans les étangs…

 
Kì này:
 

Toujours le premier, jamais le dernier, 

Rien sans lui n’est jamais fini, 

Car rien ne peut commencer sans lui.

Qui est-il ?

VỀ VÀ ẢNH: (TMCS)

Có một số bạn đọc thường quan tâm tìm hiểu bốn chữ TMCS và cho biết ý muốn tìm hiểu về ý nghĩa của mấy chữ này. Xin được chiều lòng các bạn lần nữa:

TMCS : Tương Mai cư sĩ . Trong đó: Tương Mai: địa danh nơi TMCS đã cư trú lâu dài. Cư sĩ: người đã nghỉ hưu, không còn gánh vác trách nhiệm gì cụ thể trong công việc chung của cơ quan, tổ chức nhà nước, xã hội. ( Theo từ điển : từ cư sĩ còn để chỉ những người theo đạo Phật tu hành tại gia: TMCS không thuộc định nghĩa này !)

TMCS thường được bè bạn đùa phong danh hiệu “Thích Đủ Thứ”. Có nhẽ không ngoa lắm, riêng về Thiền, TMCS có trải nghiệm sơ bộ “đủ” cả mấy thứ: 

Thiền Yoga.

Thiền  khí công Dưỡng sinh.

Thiền khí công võ học Thiếu lâm.

Thiền kiểu nhà chùa. 

Sau này, TMCS đã chỉ tập trung vào kiểu thiền sau cùng do các vị sư hướng dẫn. TMCS gọi là đạo Thiền ( nhiều người goi theo cung cách Hán Việt là Thiền đạo – đó chính là từ Zen trong nhiều ngôn ngữ và từ Dhyana trong gốc Phạn mà người Tàu phiên âm là “Thiền na”-  sau rút gọn thành Thiền.

Ba cách thiền trên đã giúp cho TMCS có chút sức khoẻ và sức bền cơ thể (chống chọi lại tuổi tác, một vài căn bệnh thông thường, có chút dũng khí “bạo phổi” trong cuộc sống, chống trả mọi điều kiện khách quan khắc nghiệt (nóng lạnh, ẩm thấp, khô hạn, lão hoá, dầu dãi mưa nắng, băng, tuyết…), chịu được vài đòn  đánh vào một số bộ phận trên cơ thể, công phá gạch ngói… Mấy năm nay, lớn tuổi TMCS đã chỉ tập trung vào thiền kiểu nhà chùa  nhưng trước sau không hề theo tôn giáo nào, và đã ngưng công phá gạch ngói vì e mất an toàn (rạn xương) – có thể chỉ còn  hiệu quả về duy trì đầu óc minh mẫn, tâm hồn thanh thản, cơ thể an khang…

Về hiệu quả xem ra rất hữu ích, tình yêu đời, yêu người, yêu chim muông , cây cỏ muôn loài… luôn luôn có sự đối tác tương ứng rõ ràng. Sáng sáng cây cối, cỏ hoa, và chim vườn ríu rít hân hoan … truyền cho TMCS mối cảm nhận lai láng rất thú vị…trong đó hàm chứa sự giao hoà năng lượng trong lành rất bổ ích cho tâm hồn, cơ thể lúc tuổi tác khá cao – U90…Các thày thuốc tây, tàu với nhiều xét nghiệm, chẩn đoán khác nhau đều xác nhận chưa có gì đáng ngại với sức khoẻ cơ thể  và tâm thần của TMCS…Xem những bức ảnh chụp liên quan  giữa TMCS với chim muông, hoa cỏ nhiều thày thuốc đông tây đều nhận định có nhiều điều thú vị mà khoa học hiện đại đang nghiên cứu thuộc lãnh vực sóng sinh học…

Càng ngày TMCS, qua thiền định và giao tiếp với các vị cao tăng nhiều nước càng thấy ZEN- Đạo thiền – thật là hữu ích, không có chút nào là thần linh, bí hiểm  và thực lòng , TMCS rất tâm phục khẩu phục ngưỡng mộ các vị cao tăng bên Nam tông – tức Phật giáo nguyên thuỷ (tiểu thừa). 

Nhân được cô con gái đầu lòng tặng bức ảnh một nhà sư đứng trên cầu soi bóng xuống dòng sông lung linh, huyền ảo khói sương… trong lòng xao xuyến, TMCS bèn tức cảnh sinh tình mà làm mấy câu tứ tuyệt như sau:

THƠ ĐỀ ẢNH…

TMCS

Chưa được như Người khoác áo tu,

Tâm còn bề bộn nỗi riêng tư:

Tình Nhà, nghĩa Nước, yêu thi hoạ…

Vẫn học Đạo Thiền, ngưỡng mộ Sư

Cứ ề a, ngâm nga một mình, thế là TMCS lại tức cảnh sinh tình, dịch vù vù, ào ào ra thơ Hán (Hán thi), thơ Anh (Anh thi) và thơ Pháp (Pháp thi), gộp “ùm bà làng” cả lại, được bộ Vè tứ bình , gọi là “tứ ngữ thi” cho oai ,tức là TMCS có được một lúc trọn bộ Việt, Hán, Anh, Pháp thi !

Thế rồi:

                                      Tội gì mà chẳng đem khoe,

                               Năm châu bốn biển bạn bè vui chung !

TMCS đã “khoe” qua phone, email sang Tây, sang Tàu, về Vn…Nói chung đạt được sự đồng cảm tối đa…Rất phấn khích…

Tiếc thay, câu cuối cùng tâm đắc nhất, trong đó từ “Đạo Thiền” TMCS thích nhất thì lại có mấy bạn tây và cá biệt bạn ta hỏi  có phải Thiền là Tôn giáo không. Hơi bị “hẫng” vì bất ngờ,  xưa nay có ai hiểu nhầm đến thế đâu – kể cả Tây, từ Einstein đến Bill Clinton đều biết rõ, tường tận cả mà ! Cũng may, tuyệt đại đa số đều hiểu đúng và “like” !

( Vốn có trách nhiệm cao ít nhất xấp xỉ “ngọn tre”, TMCS đã giải thích kĩ lưỡng về chữ “Đạo” trong Dạo đầu số này- miễn nhắc lại ở đây).

Mời quý vị đọc Vè Tứ bình (tứ ngữ thi) và ngắm ảnh.

ĐỀ ẢNH THI

TMCS :âm Hán Việt  và nghĩa)

Hoà thượng cà sa vị khả xuyên        Chưa mặc được áo cà sa của hoà thượng.

Mang mang tâm sự viết vô biên:     Tâm sự bời bời, nói khôn xiết :

Gia tình , quốc nghĩa, hoạ thi ái…    Tình nhà, nghĩa nước, lòng yêu thơ , hoạ…

Nhưng ngưỡng  tăng sư, tu tập Thiền. Vẫn ngưỡng mộ sư tăng, tu tập đạo Thiền.

Cà sa: Kasãya : ngôn ngữ Sanscrit phiên ra Hán Việt Cà-sa, Anh ngữ: Cassock

題影詩

(相梅居士) 
和尚袈裟未可穿
芒芒心事曰無邊
家情國義畫詩愛
仍仰僧師修習禪   
 
 

EPIGRAPH IN VERSE ON THE PHOTO OF A MONK…

TMCS

I am not yet able to wear a monk’s cassock* like You.

My mind is filled with plenty of confidences:

Duty towards homeland, Love of family 

And passion for painting and poetry…

Everyday I practise  Zen* and admire You very much.

Note

* Cassock: Buddhist monk’s frock (Cà-sa)- Kasãya in Sanscrit (cà-sa) 

* Zen: Dhyana . Buddhistic meditation .  (Ex: Sitting in meditation).

ÉPIGRAPHE EN VERS SUR LA PHOTO D’UN BONZE …

TMCS

Je ne porte pas encore la soutane de bonze comme Vous.

Mon esprit est rempli de beaucoup de confidences:

Le devoir envers la patrie, 

L’amour de la famille

Et la passion pour la peinture et la poésie …

Chaque jour je pratique le  Zen*

Et je Vous admire bien. 

Remarque:

* Zen : Dhyana, Méditation Bouddhique (  Bouddhologie) 

 
Inline image
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Trường sơn đông, Trường sơn tây (PTD) TTTB@155

Bl(455) TTTBNo155

Trường sơn đông- Trường sơn tây (PTD)

DẠO ĐẦU TTTB@ No155

TMCS

LAN MAN

TRẢ LỜI BẠN ĐỌC : 

CA TRÙ- ĐÀN, PHÁCH & THẦN KỲ TRỐNG CHẦU.

ĐÔI NÉT PHẠM TIẾN DUẬT & MON MEN TÌM TAGORE…

 
 
– TRẢ LỜI BẠN ĐỌC : 

CA TRÙ- ĐÀN, PHÁCH & THẦN KỲ TRỐNG CHẦU.

HỎI RẰNG:

Vì sao trong lời giới thiệu bài Tiêu sầu tửu (II) của Cao Bá Quát khi TMCS bàn đến đến hát ca trù, chúng tôi chỉ thấy phần “thơ” dùng làm ca từ mà không có phần ghi các nốt nhạc (sheet: musical notes – notes de musique) kèm theo để người đọc có thể “xướng âm” rồi hát lên ? Bài này có thể chơi trên các nhạc cụ nào? Có chơi cho dàn nhạc (hoà tấu) không? chỉ đơn ca hay có thể đồng ca – tốp ca?…

Những câu hỏi đại loại như trên dồn dập gửi về TTTB@  đều là từ các bạn nước ngoài và các bạn Vn sinh trưởng ở hải ngoại. TMCS rất cảm động được biết các bạn yêu ca trù Việt nam đến thế, cho dù TMCS mới chỉ hơi đả động tí chút… Ở nơi xa, cứ có ai yêu bất kì thơ, ca, hội hoạ…v.v…của VN là TMCS đều thấy rất hạnh phúc, tự hào và trân trọng tất cả… 

–  XIN ĐÁP RẰNG :

Nhiều năm về trước , trên blog của mình, blogger TMCS đã giới thiệu tỉ mỉ về loại nhạc “thính phòng” (chamber music) đặc biệt này của VN và lí do nó được UNESCO công nhận đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo tồn khẩn cấp ( List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) . Nay không thể nhắc lại toàn bộ v/đ trong một bài ngắn gọn. TMCS chỉ xin điểm lại vài đặc điểm chính, nếu các bạn nếu muốn biết rõ thêm, xin mời tham khảo  những tài liệu khác trên mạng.

Ca trù – trong tài liệu Anh  ngữ  dùng từ “tally card” để dịch từng chữ nôm: ca và trù ( 歌籌 ) là có ý nhắc đến cái thẻ làm bằng tre, mỗi thẻ tương ứng với một số tiền thưởng cho người biểu diễn. Cuối buổi diễn, người ta đếm số thẻ tre để chi tiền thưởng.

Ca trù là tên gọi nghiêm chỉnh và phổ biến,  có thể còn nhiều tên gọi khác : ả đào, cô đầu, nhà tơ…

TMCS có cơ duyên tiếp xúc với “ca trù” liên tục từ trước tuổi vỡ lòng -khoảng dăm sáu tuổi- cho đến buổi “tròn trăng”. Lúc đầu chỉ là thích lẵng nhẵng bám theo các chú, các bác, mỗi đầu kì lương tháng, được ngồi xe kéo (pousse – pousse) đi ăn kẹo ở các xóm “Cô đầu” ở HN và nhiều tỉnh thành khác…đến khoảng 13-14 tuổi thì bất đầu thấy “hay hay – thinh thích”…tìm hiểu vỡ vạc được vài v/đ, nhưng…

                                 Đó là ngày xửa, ngày xưa,

                        Nay quên nhẵn nhụi, như chưa biết gì !

                                    Thôi còn nhớ tí tì ti,

                          Đem ra mà gõ, sai thì …sửa sai !

Kiểu nhạc “thính phòng” này rất đỗi quen thuộc với TMCS, dù ở Khâm thiên (Hà nội) hay các tỉnh lẻ (Phố Đò – BG, Đồng mỗ- TN…), nó chủ yếu phục vụ một nhóm gồm vài quan viên chỉ diễn ra trong không gian rất hẹp, thường chỉ đủ kê hai chiếc phản. Một chiếc trải chiếu hoa để đào nương, kép và quan viên ngồi. Đào nương (nữ) : gõ phách và hát, kép (nam) : chơi đàn đáy, quan viên (nam) :  đánh trống chầu cũng có khi kiêm là người soạn   lời hát. Chiếc phản kia là một hai quan viên khác ngồi nghe và chờ lượt, TMCS lúc dăm sáu tuổi thường được “ưu  tiên” riêng một cô đào rượu (tiếp tân- không hát) chăm sóc, dỗ dành để khỏi phá “bĩnh” sớm đòi về. Thường thì để cứu vãn tình hình khi “bé” TMCS “xuất chiêu” đòi về, các chú – bác phải chi tiền để cô đào rượu cõng TMCS ra đầu phố mua kẹo vừng, kẹo lạc…Khi trên mươi tuổi thì TMCS biết điều hơn, không quậy phá, biết lắng nghe…và hay tò mò hỏi để học  một số điều…

 

Ca trù không có tốp ca hát theo dàn nhạc, chỉ có một cây đàn đáy của  kép  và  bộ phách của đào nương là người vừa chơi phách vừa hát (ngâm)- ngoài ra không có ca sĩ hoặc nhạc công, nhạc cụ nào khác nữa. Quan viên không phải là nhạc trưởng chỉ huy đào, kép mà là người bình phẩm khen, chê bằng trống chầu- cá biệt có quan viên cũng  là tác giả lời ca cho đào nương hát.

Sở dĩ kì trước TMCS không giới thiệu về bản nhạc vì thực ra chẳng có bản nào cả. TMCS có dò hỏi, nhưng đa số các cụ bảo chỉ truyền khẩu, có thể có văn bản lưu ở nội bộ phường hát. Hơn nữa, bản thân bài “thơ” đã có tính nhạc ( la musicalité du poème), chỉ đọc thơ là biết làn điệu…  Ca trù theo thống kê có tới 46 (có tài liệu khác nói là có tới trên 50) làn điệu định hình để các soạn giả dựa vào đó đặt ca từ – thưc chất là sáng tác thơ –  phân theo thể loại, tùy theo bối cảnh để hát. Theo tư liệu của các chuyên gia nghiên cứu ca trù lâu năm, trong thực tế hát ca trù người ta thường chỉ hay dùng dưới 10 làn điệu có sẵn và số đào nương hát được đến 10 làn điệu cũng đã là rất hiếm.

Tác giả sáng tác lời cho đào nương hát thường là những nhà thơ, thời trước là những danh nho tài hoa như Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, Cao bá Quát…Các vị này là những người làm quan viên giỏi – thuộc sẵn giai điệu, rất quen các ngón đàn phách, giọng của đào nương rối dựa vào giai điệu có sẵn soạn lời mà không phải sáng tác phần nhạc như những nhà sáng tác ca khúc tân nhạc thời bây giờ. Nhạc của ca trù không thể chơi bằng các thứ nhạc cụ nào khác ngoài đàn đáy và phách. Các dàn nhạc dân tộc với nhị, sáo, tì bà, tam thập lục… hay dàn giao hưởng với violon, piano…, đội kèn đồng với saxophone, trompette… đều không thích hợp với dòng ca trù…

(Tư liệu tham khảo vắn tắt:

Ca trù là một khái niệm chỉ một lối hát mà trong nó có rất nhiều điệu hát( theo thống kê của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề thì ca trù có 46 điệu): thét nhạc, non mai, hồng hạnh, hát nói,…Trong cách hiểu thông thường, khái niệm ca trù có thể được thay thế bằng các khái niệm khác như hát ả đào, hát nhà trò, hát cô đầu, hát nhà tơ,…mà nội dung của chúng không thay đổi và vẫn được hiểu như nhaụ. Ở Thanh Hóa ca trù còn được gọi là hát ca công, hát gõ. Về nghiã chữ thì ca trù xưa nay được giải thích là hát thẻ. Thẻ gọi là trù.Thẻ làm bằng tre và dùng để thưởng cho đào hát thay cho trả tiền mặt trực tiếp. Khi ả đào hát, quan viên thị lễ, một bên đánh trống,một bên đánh chiêng, trống đánh chát và chiêng đánh một tiếng khi thấy hát hay thì thưởng cho đào một thẻ trù, xong tiệc hát đào, kép ứng theo số thẻ đã được thưởng mà tính tiền, nhận tiền đúng theo quy định. Một số văn bia thế kỷ XVI, XVII ghi rõ qui định nàỵ Khái niệm ca trù sớm nhất hiện biết là thế kỷ XVI trong bài Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao…)

Mô tả nhạc cụ  ca trù: (phỏng theo trí nhớ  “lơ thơ mơ “của TMCS)

  • Đàn đáy: do  kép (nam) sử dụng. Theo tư liệu tham khảo, đàn đáy có thời nhà Lê do Đinh Dự (Đinh Lễ) sáng tạo.

Cây đàn này có cần phím ngất ngưởng dài tới 1,2-1,3m với 10-12 phím, cá biệt có nơi tới 16 phím. Đàn có ba dây – sau này với kiến thức nhạc lí “solfège” học cha cố ở nhà thờ, TMCS cho rằng đây là thứ nhạc cụ chơi “ngũ cung”, ba dây có âm vực dây nọ chênh dây kia  một “quãng bốn đúng” (une quarte juste : a perfect fourth)… Những gì về đàn đáy, TMCS bì bõm học được hồi  ngấp nghé tuổi “trăng tròn” đã trả lại các “thày kép” cả rồi !!! bây giờ chỉ còn lơ mơ, ngờ ngợ, nghĩ lại “run như cầy sấy”, e sai, không dám gõ ra đây…

TMCS nhớ nhất đặc điểm kĩ thuật rất độc đáo của loại đàn không đáy này là khi ta nhấn – vuốt trên phím thì khác với mọi thứ đàn khác ở chỗ: có khi nốt nhạc lại như trầm xuống chứ không cao lên. Các anh kép bảo TMCS rằng : Đó là “ngón chùn”, TMCS xưa xửa xừa xưa, từng đã nghịch thử ngón này, mới đạt mức “lúc được lúc không”, chưa ổn định… !!! Tại sao tên là đàn đáy mà lại không có đáy ? – Sau này, có người thấy TMCS hay hỏi lẩn mẩn đã thân tình vỗ vai mà dạy bảo: đáy tức là “đái”, chữ nho có nghĩa là “ đeo” đọc chệch đi đấy mà, song TMCS vẫn còn hồ nghi,  chưa chịu  tin, vì ngần ấy năm chưa một lần thấy kép nào “đeo” cây đàn đáy cả… Khi bé , TMCS “đi cô đầu” thì thường mải nghịch ngợm – nhất là khi bé tẹo chỉ “nhăm nhăm” vòi ăn kẹo – nên hai v/đ trên đến nay vẫn chưa biết hỏi ai cho ra nhẽ được… ( Về ngón “chùn” trên đàn đáy: TMCS cho là do cần dài, mỗi phìm đều lõm và cũng rất dài nên khi vuốt dọc từng phím , ngón tay người kép đã “ nhấp nháy” tựa như khi nghệ nhân chơi đàn bầu tạo âm “bồi” làm cho âm thanh rung có lúc thấp xuống được ?)

( Đàn đáy gắn liền với cái tích Nguyễn Công Trứ (NCT) tháo trộm dây đàn của anh kép dấu đi, đợi lúc ba người gồm đào nương, anh kép  và NCT- qua quãng đồng vắng vẻ, NCT mới giả vờ thất thanh bảo anh kép quay về tìm đây đàn để tha hồ, thoả chí bỡn cợt với cô đào  nơi đồng không mông quạnh…Bởi vậy , nên khi NCT đỗ đạt mời đám ca trù đến hát, tình cờ cô đào  năm xưa cũng hiện diện trong đám hát, giữa cuộc vui, “nữ cố nhân” liền ngâm  “hãm” nhắc “ nam cố nhân” rằng“:

Giang sơn một gánh giữa đồng

Thuyền quyên  ứ hự…anh hùng nhớ chăng…

NCT nhớ ra cái tích “ranh ma” tạo ra chuyện “ứ hự” trên cánh đồng năm xưa, bèn cưới cô đào ấy làm vợ bé…)

Phách: do đào nương sử dụng.

Gồm : Bàn phách, lá phách và tay ba. 

Bàn phách là một khúc tre dài chừng 30cm, rộng 3-4cm, hai đầu có mấu kê cao để tạo âm vang.

Lá phách là hai miếng tre dài ngót nghét 30cm hai mặt úp, chập vào nhau. 

Tay ba: thường bằng gỗ mít, dài tương tự lá phách.

Đào nương dùng tay phải cầm hai lá phách úp nhau, tay trái cầm dùi ba , để gõ cả hai thứ vào bàn phách cho khớp với nhịp đàn đáy của kép và giọng ca của chính mình. Tất cả hoà quyện thành một dàn nhạc tạo ra một hình thức hoà âm phối khí rất thần tình và độc đáo. 

Phách có năm khổ, phải khổ luyện lắm mới chơi hay được, mà cũng chỉ hay khi khớp với khổ của đàn đáy tạo nên hoà thanh đẹp đến mê hồn… Hồi bé tẹo, còn “lúng búng” ngậm kẹo trong miệng, “vểnh tai – ngây mặt” nghe… mà TMCS đã cơ hồ mê mệt về phách với đàn, quên sao được âm thanh lách cách thánh thót của tiếng phách thấm vào từng tiếng tửng tưng láy luyến kì ảo  của điệu đàn đáy và tất cả hoà tan trong giọng hát ngọt lịm của ca nương làm một, chứ không còn là ba thứ âm thanh riêng rẽ nữa…Quả thật, chả biết kể lể thế nào , TMCS chỉ còn biết gọi là : “ Ôi ! mề lí …mê li… !” mà thôi.

Trống chầu: do quan viên sử dụng.

Trống chầu gồm hai mặt trống căng bằng da trâu mỏng, đường kính  chừng 20cm và tang trống bằng gỗ mít khoét rỗng, cũng cao khoảng 20cm. Dùi trống gọi là roi trống dài chừng 60-70 cm. Roi trống làm bằng gỗ găng hoặc gỗ nguyệt quý, nhiều khi chỉ bằng thứ mây tre chọn lọc và hơ nóng, uốn dẻo kĩ càng, khi vụt lên mặt trống có độ đàn hồi (nảy) rất tốt.

Bộ nhớ “cà gỉ” của TMCS về trang bị của dàn “ca trù” tức cô đầu chỉ còn vậy, có thể vênh váo chút ít về kích thước, vật liệu…với một số vùng miền khác nhau…

LUYÊN THUYÊN : THẦN KÌ TRỐNG CHẦU-

Trong ba thứ nhạc cụ của  Ca trù, TMCS thú nhất là Trống chầu. Xin phép luyên thuyên tí tẹo, vì có hôm trong quán café PB (Paris Baguette) của một người Pháp gốc Việt ở gần trung tâm M. City, TMCS gặp một cụ Gs Vn hải ngoại, quê Nam định, tuổi trên cửu tuần, có hỏi về câu thơ của cụ Tú XƯơng “Lạc nhạn, Xuyên tâm đủ ngón chầu”. TMCS đã giải thích về nghĩa đen hai từ lạc nhạn, xuyên tâm, rồi diễn giải hai ngón chầu này  bằng động tác gõ bàn và ”tom chát” bằng miệng, thể hiện nhịp  và điệu trống lạc nhạn và xuyên tâm. Cụ Gs di tản rất ngạc nhiên vì chẳng những có nhịp  trống “xuyên tâm” mà lại còn “xuyên mau” và “xuyên thưa”, tương ứng với điệu hát nữa. Ông cụ tiếc mãi: “…chính mình là dân Nam định  mà khi còn đứng trên giảng đường chỉ biết giảng cho sinh viên  như con vẹt rằng đó là tên hai cách đánh trống chầu trong nghệ thuật hát cô đầu thời xưa…Tiếc quá,  hay thật, tận hôm nay mới rõ đầu đuôi, ngọn ngành…thì ra là thế…”. Qua câu chuyện với cụ G/s di tản, TMCS mới thấm thía: phải hiểu kĩ mới yêu sâu…chắc hẳn từ nay cụ Gs sẽ yêu hơn câu thơ TX và ngón trống chầu của Ca trù…

Trống chầu độc đáo đến mức THẦN KÌ, hỏi rằng : Thần kì ở chỗ nào ?

Cũng phải tìm mới hiểu tại sao lại thần kì ? do đâu mà thần kì ?

Ai cũng biết : nhạc dân tộc của VN có năm cung, nhạc tây có bảy nốt, còn Trống chầu chỉ có hai âm: TOM và CHÁT  (còn gọi là THÙNG và CẮC). Điều này tương ứng với hệ đếm nhị phân chỉ có hai chữ số 0 và 1 mà vẫn ghi đủ mọi con số to nhỏ, nhỏ to cần thiết.

Triết học phương Đông ( trước kia thường nhất nhất đều quy cho Tàu – nay có nhiều giả thuyết, chưa rõ nguồn đích xác : nam Trung Hoa,  Việt nam hay Cổ Mã lai…) đưa ra khái niệm hai thực thể đối lập, tạo ra vũ trụ muôn  loài là ÂM và DƯƠNG… 

Chỉ với 0 và 1, ÂM và DƯƠNG mà diễn đạt được vô cùng ,  biến hoá đến khôn tận…Trong toán học, hệ cơ số nhị phân  rất vĩ đại chỉ với số 0 và 1, người ta đã lập trình cho máy tính điện tử, lượng tử, robot, tiến tới trí tuệ nhân tạo…tính toán cho cao ốc  trăm tầng, cầu dài nhiều km, quỹ đạo bay vào vũ trụ vô cùng vô tận… Tương tự, trong trống chầu cũng chỉ với hai đơn nguyên tom – chát ( thùng cắc ) mà sự ngẫu ứng của quan viên đã tạo ra rất, rất nhiều ngón trống chầu thần kì… Có thể nói Trống chầu là linh hồn, cầm cân nảy mực, định giá cả ba phần thanh, nhạc, lời của một bài ca trù… với trăm màu, ngàn vẻ khác nhau chỉ qua hai âm TOM  và CHÁT (Thùng và Cắc) ! (Có lúc ngồi một mình TMCS cứ bật cười tại sao cái gì cũng cứ phải thành đôi : hệ đếm nhị phân có 0 và 1, triết lí phương Đông có  âm và dương, Phật học  có Sắc và Không…cho nên  Ca trù có “tomchát” cũng như thơ Tình nhất thiết phải có AnhEmKhông có cặp, có đôi thì hình như không có TẤT CẢ…)

Trống chầu đã thần kì đến vậy, nên trở thành một quan viên  giỏi là cực kì khó khăn! Chính trống chầu là khó nhất, khó hơn  nhiều , rất nhiều so với hát, gõ phách và chơi đàn đấy !

Xin đừng tưởng học phách, học đàn, học hát ca trù mới khó ! Phải đến cỡ tuổi “trăng rằm” TMCS mới vỡ vạc ra : Học cầm roi chầu, điểm trống cho đúng, cho hay, mới là cực khó, khó nhất đấy ! Không thể học máy móc mấy chiêu  “thùng cắc – tom chát”  rồi “máy móc” quất roi trống theo công thức định hình. Người quan viên giỏi phải tầm sư học đạo cực kì công phu để có năng lực thẩm âm cực tốt, phải có kiến thức văn học – thi ca rất tốt, lại phải biết nhiều từ Hán – Việt…thì mới học được kĩ năng và nghệ thuật cầm chầu ! Quan trọng nhất, đương nhiên là phải có tâm hồn THI SĨ + NHẠC SĨ  và nói chung phải  là một NGHỆ SĨ đích thực, nếu không chỉ gõ ra những tiếng tom chát, đinh tai – nhức óc ! Không đơn giản chút nào đâu…Nếu đầu óc và tâm hồn rỗng tuếch, thì dù gặp thày giỏi, có trống tốt, roi tốt, đóng bộ khăn áo đẹp mấy  cũng bằng thừa…Đào kép tay nghề, giọng ca tốt mấy cũng không cứu vãn nổi tình thế, nếu gặp phải ông quan viên  ấm ớ, tậm tịt, “i-tờ” ti tỉ tì ti…!

Tương tự như xoá nạn mù chữ, các cụ đã tận dụng giờ nghỉ giữa chừng, dạy TMCS rất sơ bộ và cơ bản  về “thùng”- đánh mặt trống- “ cắc” – đánh tang trống – ( tức : tom – chát) trong các cách đánh “trống giục” để mở đầu cuộc chơi, cách đánh “trống điểm” có công năng  như ta đánh dấu chẩm , phảy trong bài viết vào mỗi khi đào nương hát ngắt hết câu… Vì hồi đó, mới hơn chục tuổi lại “ ga tô – gà tồ”, nên tuy có nghe nói về các ngón chầu của các quan viên “cao thủ”, TMCS chỉ dám quất thử roi trống cho “trống giục” và “trống điểm câu” mà vẫn “lỗi” suốt ! 

Cũng giống như học chữ cái a,b,c để ghép vần, TMCS đã “luyện” mãi những bài cơ bản : : cắc thùng cắc, thùng thùng cắc, thùng cắc thùng, cắc cắc thùng, cắc thùng thùng…có thời gian ham đến mức vô công rồi nghề, ngồi một mình là : chát tom chát, tom tom chát, chát chát tom, chát tom tom… Lâu quá rồi, TMCS chỉ còn phảng phất cái không khí “tơ lơ mơ” mỗi khi có một câu thơ lời hay, ý đẹp hoặc đàn, phách, lời ngâm hoà quyện “tuyệt vời “ thì được người lớn “gà” cho:  quất mạnh roi chầu điểm một tiếng cắc, rồi tiếp 2-3 tiếng cắc- cắc -cắc… để đưa ra lời bình (comment) mang ngụ ý khen : hay, giỏi !

Còn hạ mã thì chơi : thùng – thùng – cắc …Nếu chơi cắc – thùng thùng thùng –  thì là thượng mã ( đánh thượng mã vào các khổ dồn)

Xuyên tâm , lạc nhạn thì hình như:

thùng cắc- thùng… là xuyên tâm.( đánh chậm vào đầu câu 4 gọi là xuyên thưa, đánh nhanh vào đầu câu 8 gọi là xuyên mau)

còn: thùng- thùng- thùng rồi cắc, tiếp sau quất vớt một roi thùng..thì là lạc nhạn, thường đánh lạc nhạn  vào những câu trầm, hát ngâm đổ giọng.…V.v…và…v.v…

Thường thì khi nghe “cắc” “cắc” liên tiếp, đào nương và kép biết là được tán thưởng, phấn khích như lên đồng, đàn phách và giọng hát hay hẳn lên…đó là cảm giác bao năm nay còn hằn sâu trong tâm tưởng TMCS !

 

Còn quá nhiều chi tiết lí thú về trống chầu mà TMCS mới “mon men” bên lề,  tưởng như có lúc mê hơn cả các chú các bác, quên cả nhếch nhác đòi về như hồi bé tẹo tèo teo, vờ nhè để vòi đào rượu cõng đi mua kẹo vỉa hè… thích lắm, nhưng quên cả rồi ! chỉ còn lơ mơ đôi nét, tỉ như:

Quan viên đánh trống trước khi đào kép đến : Sơ-cổ, Tòng-cổ và Trung-cổ. Ðào kép đến rồi đánh Thôi-cổ. Tòng-cổ thì có 3 tiếng khoan 2 tiếng nhặt. Trung-cổ thì một tiếng khoan hai tiếng nhặt. Thôi-cổ có 2 tiếng đều, không khoan không nhặt. (toàn là từ Hán Việt cả : Cổ : trống,  sơ:bắt đầu, trung: giữa, tòng : theo, thôi : dục)

 

Ðánh 12 tiếng cắc để gọi kép, 9 tiếng thùng để bảo kép lên lại dây đàn rồi 2 tiếng thùng liên tiếp để giục đào kép bắt đầu …

 

Chú ý – nếu đào nương đang hát mà quan viên đánh “liên tù tì” 5,6,7 cắc thì ý khác hẳn : tức là tỏ ra không muốn nghe cô đào ấy hát nữa, đòi thay cô khác. Nhưng cả chục năm trời, TMCS chỉ thấy quan viên đánh khen, tiếng “thuật ngữ” gọi là thùy châu, lạc nhạn, hạ mạ Quan viên đánh khen một tiếng cắc, 2, 3 tiếng thùng gọi là tranh tiêu, phi nhạn, thượng mạ Một khi đào nương hát quá hay, vừa ngắt lời ca, quan viên còn ngây ngất, chưa kịp đánh trống thùng thì đánh cắc lèo nhịp trên tay trống tức là tỏ ý khen nức khen nở…

Phức tạp và tinh vi (vi tính) thế, hỏi sao một trang thiếu niên sắp đến hồi “vỡ tiếng” như TMCS khi đó, lại không chết mê, chết mệt !Ấy, ở cỡ U90…TMCS nhớ được “bì bà bì bõm” như trên cũng là nhờ thuở xưa đã si mê cao độ  đấy ( từ Việt cổ: mê tít thò lò) !

Thôi, xin tạm dừng, kẻo quá đà mất…TMCS gõ hơi “tham” vì đoán là các bạn nước ngoài, VN hải ngoại và kể cả các bạn ở VN ít tuổi hơn TMCS còn  ít hoặc chưa biết gì về Ca trù . Khoản này có thể coi như TMCS là người “giác ngộ”  “hơi” sớm và nhớ “hơi” dai… vì đã có một thời mê như mê  truyện kiếm hiệp… Đúng là “gi , gỉ, gì, gi…” cái gì cũng …thích ! 

 
 
 
ca tru dang song hay chet? hinh 1
 (Ảnh: Quang Trung)

 

Xin lỗi, quý bạn đọc lớn tuổi, tầm ngoại cửu tuần, về tội TMCS đã  múa rìu qua mắt chuyên gia, chắc là quý vị biết và nhớ nhiều hơn…Nếu TMCS  sai  và sót , xin chỉ giúp… Xin lỗi & đa tạ trước

                                                          X

 ĐÔI NÉT PHẠM TIẾN DUẬT —“MON MEN” TÌM TAGORE…

 

Từ số này, TTTB@ sẽ giới thiệu bài thơ Trường sơn đông – Trường sơn tây của Phạm Tiến Duật . (bài này đã được nhạc sĩ Hoàng Hiệp   phổ nhạc).

 
Trước hết, theo thông lệ, xin giới thiệu đôi nét về tác giả Phạm Tiến Duật (nguồn tham khảo BKTT mở + thêm thắt tí chút  “gia vị” của TMCS ): 
 
Phạm Tiến Duật 
 
Sinh

Tỉnh Phú Thọ

Mất

4 tháng 12 năm 2007 (66 tuổi)

Hà Nội, Việt Nam

Công việc

Nhà thơ

Phạm Tiến Duật (14 tháng 1 năm 19414 tháng 12 năm 2007) là một nhà thơ Việt Nam với nhiều tác phẩm thơ tiêu biểu viết trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam.

Tiểu sử

Phạm Tiến Duật sinh ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam. Cha ông là nhà giáo, dạy chữ Hántiếng Pháp, còn mẹ làm ruộng, không biết chữ. Ông tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, nhưng sau đó không tiếp tục với nghề giáo mà quyết định lên đường nhập ngũ. Trong thời gian này, ông sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn. Đây cũng là thời gian ông sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng. Năm 1970, sau khi đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, Phạm Tiến Duật được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Chiến tranh kết thúc, ông về làm việc tại Ban Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt nam. Ông sống ở Hà Nội, là Phó trưởng Ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam. Ông cũng là người dẫn chương trình  dành cho người cao tuổi của kênh VTV3- Cây cao bóng cả –  Đài Truyền hình Việt Nam.  ( TMCS: Bây giờ chương trình đó đổi là “Vui- Khoẻ- Có ích” do nữ MC Thảo Vân (cựu phu nhân của danh hài Công Lý-  thường đóng vai Cô  Đẩu, trong Táo quân cuối năm, người  “qua đò” hai ba lần liên tục)- đảm nhận cùng với Giang  Còi (cũng là danh hài).

Ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001và được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2012.

Ngày 19 tháng 11 năm 2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký lệnh tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì cho nhà thơ Phạm Tiến Duật.

Ngày 4 tháng 12 năm 2007, vào khoảng 8:50, ông mất tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vì căn bệnh ung thư phổi.

Đóng góp

                                  Bìa Tuyển tập Phạm Tiến Duật, tập 1

Ông đóng góp chủ yếu là tác phẩm thơ, phần lớn thơ được sáng tác trong thời kỳ ông tham gia quân ngũ. Thơ của ông được các nhà văn khác đánh giá cao và có nét riêng như: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung và có cái “tinh nghịch” nhưng cũng rất sâu sắc. Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát trong đó tiêu biểu nhất là “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây” sáng tác cuối năm 1969, tại làng Cổ Giang, bên bờ sông Son, tỉnh Quảng Bình.

Những tập thơ chính:

• Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970), nổi tiếng nhất với tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính

• Ở hai đầu núi (thơ, 1981)

• Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983)

• Thơ một chặng đường (tập tuyển, 1994)

• Nhóm lửa (thơ, 1996)

• Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca, 1997)

• Tuyển tập Phạm Tiến Duật (in xong đợt đầu ngày 17-11-2007, khi Phạm Tiến Duật đang ốm nặng)

Ông được ca tụng là “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”, “cây săng lẻ của rừng già”, “nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ”. Thơ ông thời chống Mỹ từng được đánh giá  là “có sức mạnh của một sư đoàn”. (TMCS: đây là lối ca tụng “đôi lúc phảng phất” theo kiểu “tung hứng” trước khi PTD bị “cú vấp” bài thơ “Vòng trắng “!)

( TMCS: Tướng Đ.S Nguyên – tư lệnh Trường Sơn – quá “cưng” PTD, thời bình về làm bộ trưởng bộ  GTVT, TMCS thấy ông vẫn cứ bảo  rằng : “Thơ của PTD là khúc quân ca trữ tình của binh đoàn Trường Sơn” dù PTD đã dính đòn “ chết điếng” sau bài thơ “Vòng trắng”… những lúc đó, TMCS chỉ còn biết : thưa, vâng ! Cái “đoạn” đường đời này của PTD  thì TMCS cam đoan : nhớ như in – dù đã lâu rồi ! )

TMCS được đọc một số bài viết của chính PTD và một số bạn bè của PTD viết trên các báo ở VN:

PTD rất vui khi thơ mình được phổ thành bài hát  và dịch ra thơ Pháp, thơ Anh. PTD không hề khó tính và chấp nhận người phổ nhạc và dịch đều là những người sáng tác và được quyền có sự cảm nhận riêng. Thí dụ bài Trường sơn đông và Trường sơn tây có hai khổ mang khá đậm tâm tư nhà thơ thì lại không có trong bài hát, đó là sự cảm  riêng của người sáng tác ca khúc mà PTD rất tôn trọng. Hoặc có dịch giả Việt kiều dịch là “rừng sâu nhiều muỗi, mặc áo dài vào !…” PTD không hề khắt khe – ne nét, mà rằng: họ có ở rừng đâu mà biết ! Nhưng cũng có lúc PTD phát biểu: có bản, cũng bên Pháp, lại nói “xoá” nỗi nhớ (effacer la mélancolie), mình chỉ viết là “xua đi ” tức là còn có lúc “nó” trở về, chứ  “xoá ” thì làm sao lấy lại được nữa ! Song mình viết là theo cảm nhận của mình , làm sao mà yêu cầu ai cũng cảm như mình… PTD còn kể: “ …Có hôm tạt qua quán Karaoke, nghe thiên hạ hát “TS đông, TS tây”- thích lắm, chợt nghe đến câu …”xoá tan “ nỗi nhớ… lại buồn như “nhai” phải hạt sạn ! PTD kể chi tiết : mình vào xem tận mắt cái băng hình trong quán, và choáng người: Giời ạ, không chỉ “xoá ĐI ” mà là “xóa TAN” nỗi nhớ, coi như xoá tan cả thơ rồi !!! chắc nhạc sĩ phổ nhạc ko nhầm đến vậy đâu, cùng dân ”sĩ” cả, chắc là HH hiểu ý mình…mình chỉ viết là xua đi, xua tạm lúc nào đó, khi làm nhiệm vụ thôi…Vả lại, đành vậy, không nhất thiết ai cũng cảm nhận như ai, theo kiểu lính mặc  “đồng phục”…”.

TMCS rất chú ý ghi nhận điều này , phải tôn trọng cách cảm của người đọc, ngay một trong những dịch giả của TTTB@ cũng dịch “xua đi “ là effacer tức là “cứ theo ý tứ mà suy” thì chắc là PTD cũng thấy  không hề chi cả…cùng lắm chỉ cho là chưa “đồng cảm 100 %” thôi… Chính tác giả còn nghĩ rộng rãi thế, tức là độc giả và cả dịch giả, người phổ nhạc…đều có quyền bảo lưu cái “cảm” riêng của mình, miễn là đừng đi quá xa

Chính PTD đã kể:

“…Cả bài thơ, như đã nói, làm xong cuối năm 1969, nhưng hai dòng đầu tiên thì có trước đó gần hai năm. Bây giờ, nhân vật tạo hứng cho thơ đang sống ở Hà Nội, một hoạ sĩ đã thành danh. Hồi ấy, anh ta yêu một cô y tá ở phía Ðông Trường Sơn. Ngồi chung một ca-bin xe đi sang phía Tây, suốt đường anh ta nhắc đến người yêu. Nỗi nhớ của anh ra lây lan sang cả tôi, sang cả người lái xe. Mãi đến khi trời mưa, cái gạt nước phía trước mặt đã giúp tôi viết hai dòng đầu tiên:

“Anh lên xe trời đổ cơn mưa

Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ”

Bài thơ được viết sau nhiều chặng đường vượt rừng gian nan. Cho đến nỗi, “nếu chưa từng ở rừng, vượt rừng thì khó bề thông cảm hết với thơ ấy, bài ấy…

À, ra thế…nỗi nhớ là của anh hoạ sĩ lan sang tác giả và người lái xe…và hèn chi PTD chỉ muốn xua chứ không muốn xoá (effacer) nó đi…Thế thì làm sao mà đòi hỏi người đọc, người dịch cứ  phải cảm như tác giả, ai mà biết được cái tình tiết tinh vi này…Thảo nào mà tác giả đã viết câu: “nếu chưa từng ở rừng, vượt rừng thì khó bề thông cảm hết với thơ ấy, bài ấy…” (TMCS dịch tạm “đúng” cũng chỉ là hú hoạ kiểu”mèo khiếm thị” vớ cá rán …thực ra thì cũng là TMCS nghĩ rằng PTD mượn tứ “xua” của cái gạt nước với hàm ý chỉ “quơ đi quơ lại”, chứ cũng không có ý “xoá bỏ”, “”xoá hẳn”, sổ toẹt hoàn toàn cái nỗi nhớ kia……) Thế mới biết PTD thật phóng khoáng, cởi mở… Không thể yêu cầu mỗi người đọc đều phải biết chân tơ kẽ tóc , đầu đuôi xuôi ngược như chính tác giả…Tất nhiên biết được thì cũng hữu ích…

và rằng:

Không, không chỉ một tôi viết Trường Sơn Ðông – Trường Sơn Tây mà cả con muỗi, con bướm, cái gạt nước, ngọn măng rừng và đồng đội của chúng ta cùng viết…về TSơn

PTD ơi ! Chí lí quá !!! lại nhớ những lần gặp nhau khi xưa…TMCS hơn PTD xấp xỉ một giáp tuổi, nhưng lại kém trải nghiệm hơn… ở rừng Việt bắc lâu, nhưng chỉ mới vào đến cuối khu  tư, cách cửa ngõ  TS còn khá xa…song cũng cứ đánh bạo mà dịch thơ TS của PTD…vì tuy khả năng còn nhiều hạn chế, nhưng TMCS vẫn khao khát dịch về những con muỗi, cánh bướm, gạt nước, đọt măng … cùng tất cả những gì thuộc về những chàng trai, cô gái, những chiến binh của Trường Sơn nhất đái vạn đại anh hùng ! (Sấm Trạng : Trường sơn nhất đái, vạn đại dung thân ). Ở đây giữa “thế giới “tây tàu” tứ chiếng, TMCS vẫn ngẩng cao đầu dịch thơ Trường sơn của PTD.. với niềm tự hào “Ôi ! Tổ quốc giang sơn hùng vĩ…” và “Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước, Mà lòng phơi phới dậy tương lai…”.  Còn việc thiên hạ sẽ “cảm ” thế nào về TSơn của VN qua thơ dịch trên TTTB@, trước mắt chỉ biết mong rằng cơ bản được như điều hằng sở nguyện của TMCS…

 

Một bài thơ mà bao nhiêu là nguồn “cảm” đổ dồn vào, thế thì theo TMCS bao nhiêu người đọc, bấy nhiêu cách cảm cũng chẳng có chi là quá quắt.

( xem thêm tư liệu: báo Cà mau 2016- để thấy TMCS còn nhớ “khá” tốt chuyện hồi nảo nào nao…)

Như vậy mỗi chúng ta khi đọc PTD hoặc các bản dịch thơ PTD, hãy cảm nhận bài thơ thoải mái , miễn đừng đi quá  xa… Theo TMCS, kể cả trường hợp PTD có ý kiến:” Xoá   (effacer ) nỗi nhớ thì còn đâu là thơ, tôi chỉ viết  “xua” đi…” , thì người đọc, người dịch vẫn được QUYỀN cảm thụ theo ý mình  ( theo TMCS: effacer, balayer, chasser… hoặc gì gì nữa…là tuỳ cảm nhận mỗi người, không có làn ranh giới kẻ chỉ…)- Song TMCS tự suy luận (chủ quan) : PTD cũng như những nhà thơ khác sẽ thích thú hơn khi có ai đó – độc giả, dịch giả, nhạc sĩ phổ nhạc… có “cảm” nhận trùng hợp với chính người làm thơ

TMCS đã ngẫu nhiên có lần nhận được email của con gái một nhà thơ VN nổi tiếng , hiện định cư nước ngoài gửi về TTTB@ : “ Xin cám ơn bác TMCS – người đã hiểu kĩ từng ý trong bài thơ của bố cháu, ở đây nhiều người đã dịch nhưng chưa trúng hẳn như ý bố cháu đã giải thích lúc sinh thời…”. TMCS đã rất cảm động hồi âm rằng: “đó chỉ là cơ duyên may mắn, TMCS được nghe bạn của bố cháu kể lại… ! “…Dịch đúng ý tác giả, theo TMCS chưa hẳn đã là hay…mà dịch bay bổng theo cảm nhận riêng có khi lại nên thơ hơn ! tất nhiên mọi chuyện đều có giới hạn…

Nhân nói đến chuyện “cảm” trong việc dịch thơ và đọc thơ dịch, TMCS chợt nhớ đến đại thi hào Ấn độ  Rabindranath Tagore, hay Rabindranath Thakur, (6 tháng 5 năm 18617 tháng 8 năm 1941), ông là một nhà thơ Bengal, triết gia Bà La Mônnhà dân tộc chủ nghĩa được trao Giải Nobel Văn học năm 1913, trở thành người châu Á đầu tiên đoạt giải Nobel. 

Lúc TMCS còn cắp sách học THPT, đã từng chắp tay trước ngực, kính cẩn cúi đầu trước chân dung Tagore trong cuốn sách giới thiệu ông là tác giả của:

–   1000 bài thơ (chỉ tính trong 50 tập thơ)

  • 12 bộ tiểu thuyết nhiều tập.
  • 2000 bức tranh
  • 2000 bài hát –  trong có hai bài: một làm quốc ca Ấn độ, một làm quốc ca Bangladesh.
Có thể tinh hoa của vũ trụ  qua Himalaya – như một ăng-ten khổng lồ của hành tinh này – mà theo thuyết địa linh nhân kiệt đã hun đúc nên thiên tài Rabindranath Tagore  vĩ đại không chỉ riêng của Ấn độ một thời  mà chung của nhân loại vĩnh hằng…
 

TMCS được biết Tagore khi thì sáng tác bằng tiếng Anh trước, rồi dịch sang tiếng mẹ đẻ sau,  khi thì làm ngược lại. Có nhà phê bình thơ nổi tiếng của Ấn độ phát hiện những chỗ vênh nhau giữa hai thứ ngôn ngữ cho cùng bài thơ của Tagore. Tagore đã ân cần giải thích : “ You don’t know how to read my poems !” – Bạn chưa biết phải đọc những bài thơ của tôi như thế nào. Ý Tagore là: không phải tôi  chỉ dịch mà là “sáng tác “ khi chuyển ngữ thơ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác…

TMCS không biết PTD có đọc “lẩn mẩn” như TMCS không, nhưng xem ra có thể PTD cũng rất “thoáng” với nhạc sĩ  và dịch giả “đụng chạm” vào thơ mình và chấp nhận sự cảm nhận độc lập của người khác. Theo TMCS đó cũng là một biểu hiện của tài năng PTD !

Trong số này, trước hết TTTB@ sẽ giới thiệu toàn bộ hai bài thơ của Phạm Tiến Duật (PTD) được nhiều người biết đến và tiên lượng biết đâu ngay trên TTTB@ sẽ rất có thể cũng xuất hiện các cách “CẢM” khác nhau, và cũng rất có thể đều hay cả : 

Trường Sơn đông- Trường sơn tây (TSĐ- TST)

Vòng trắng.

TTTB@ sẽ giới thiệu tiếp từng phần các bản dịch Anh, Pháp, Hán  và các mẩu chuyện liên quan đến bài thơ TSĐ -TST, cùng những long đong của PTD vì bài Vòng trắng. Trước hết xin giới thiệu nguyên tác hai bài này.

Toàn bài TSĐ-TST :

TRƯỜNG SƠN ĐÔNG_ TRƯỜNG SƠN TÂY

Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Phạm Tiến Duật

Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn

Hai đứa ở hai đầu xa thẳm

Ðường ra trận mùa này đẹp lắm

Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.

Một dãy núi mà hai màu mây

Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác

Như anh với em, như Nam với Bắc

Như Ðông với Tây một dải rừng liền.

Trường Sơn tây anh đi, thương em

Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo

Muỗi bay rừng già cho dài tay áo

Rau hết rồi, em có lấy măng không.

Em thương anh bên tây mùa đông

Nước khe cạn bướm bay lèn đá

Biết lòng anh say miền đất lạ

Chắc em lo đường chắn bom thù

Anh lên xe, trời đổ cơn mưa

Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ

Em xuống núi nắng về rực rỡ

Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư.

Ðông sang tây không phải đường thư

Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo

Ðông Trường Sơn, cô gái “ba sẵn sàng” xanh áo

Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh.

Từ nơi em gửi đến nơi anh

Những đoàn quân trùng trùng ra trận

Như tình yêu nối lời vô tận

Ðông Trường Sơn nối tây Trường Sơn.

Nguồn: Trường Sơn – đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009

Và bài VÒNG TRẮNG.

VÒNG TRẮNG

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen

Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng

Tôi với bạn tôi đi trong yên lặng

Cái yên lặng bình thường đêm sau chiến tranh

Có mất mát nào lớn bằng cái chết

Khăn tang, vòng tròn như một số không

Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng

Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.

                                            8 – 1974

                                   (in lần đầu trên tạp chí Thanh niên) 

                                                     X

TTTB@ kì này giới thiệu hai khổ đầu bài thơ TSĐ TSST cùng các bản dịch.

Các phần khác như thường lệ

Kính thỉnh nhã giám.

TTTB@-TMCS

 

  • Cuối cùng,TMCS xin trả lời câu hỏi hay gặp nhất của cả bạn đọc Việt nam và nước ngoài, trong nước và hải ngoại gửi về TTTB@ :

Nguồn cơn nào mà TMCS cứ liên man, lan man say sưa dịch và viết “tràng giang đại hải”  (ngôn ngữ vỉa hè Hà nội là : “rất “phiêu” = rất say mê kiểu lãng tử, quên hết thảy vì “sự + nghiệp “ đa mang…) về thơ, về ca, về giai thoại, thi thoại…Việt nam.

Xin thưa: Đó là vì với TMCS, mỗi câu thơ, mỗi làn điệu, mỗi giai thoại, mỗi thi thoại…đều như mỗi tấc đất thuộc về giang sơn gấm vóc Việt nam, ai cũng có bổn phận góp phần gìn giữ…Góp được bao nhiêu cũng quý…cũng hơn chả làm gì…

 

 
TRƯỜNG SƠN ĐÔNG TRƯỜNG SƠN TÂY
                    Thơ: Phạm Tiến Duật
Dịch:
 
TMCS: Anh – Pháp – Hán
Trịnh Phúc Nguyên & Nguyễn Thuận  : Pháp
Phan Hoàng Mạnh    : Pháp
 
 
 

TRƯỜNG SƠN ĐÔNG_ TRƯỜNG SƠN TÂY

Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Phạm Tiến Duật

Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn

Hai đứa ở hai đầu xa thẳm

Ðường ra trận mùa này đẹp lắm

Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.

Một dãy núi mà hai màu mây

Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác

Như anh với em, như Nam với Bắc

Như Ðông với Tây một dải rừng liền.

 
 
 
Anh: TMCS
 

EASTERN AND WESTERN TRƯỜNG SƠN  MOUNTAINS.

( Poem by Phạm Tiến Duật – Translation by TMCS) 

Our hammocks are hang up in Trường sơn jungle at the moment,

But we are at these mountains’s two ends

And between us — a very long distance !

This season, how beautiful the path to the battle field is  !

The Eastern Trường sơn 

Always thinks of the Western Trường sơn.

Over the same mountains are the clouds with two different colours.

Here, it’s sunny but there, it’s rainy !

What a difference in weather !

Everything is like you and me, 

We are apart like the North and the South,

The East and the West…

Despite being in the same large forest !

 
 
Pháp: TMCS
 

 L’EST ET L’OUEST DE LA CORDILLÈRE DE TRƯỜNG SƠN

(Poème de Phạm Tiến Duật  – Traduit par TMCS)

Attachant les hamacs dans la même forêt de Trường Sơn,

Mais nous sommes à deux côtés de cette chaîne de montagnes,

Une très grande distance nous sépare.

Le chemin au front est si beau dans cette saison!

L’est et l’ouest – les deux côtés de ces monts

Toujours pensent l’un à l’autre.

Sur une même chaîne de montagnes,

Il y a deux couleurs de nuage

Et aussi deux différents climats:

Il pleut ici mais il fait du soleil là-bas.

Tout comme moi et toi ,

Comme le sud et le nord, comme l’est et l’ouest

Dans une même suite des larges forêts .

 
 
 
Hán : Phiên âm – Dịch – Chữ Hán

ĐÔNG TRƯỜNG SƠN – TÂY TRƯỜNG SƠN

Phạm Tiến Duật thi – TMCS dịch

Võng sàng đồng điếu Trường sơn thượng Cùng mắc võng trên Trường Sơn

Cha lưỡng nhị  sơn đầu viễn cư                  Hai đứa mình ở hai đầu núi xa nhau

Chinh lộ thử thời phong cảnh mĩ           Đường ra trận mùa này cảnh đẹp

Đông , Tây song địa cộng tương tư         Đôi miền Đông Tây chung nỗi tương tư.

Sơn tuy nhất đái  vân song sắc           Núi tuy một dải mây hai màu

Vũ thử hàn ôn  đô bất đồng                  Nắng mưa , ấm lạnh không giống nhau

Như Bắc phân Nam,  muội  biệt ngã.   Như Bắc chia Nam, em  xa anh,

Tự lâm nhất đái, Tây li Đông               Tựa rừng một dải mà Tây lìa Đông.

 
東長山-西長山 
(范進矞詩-相梅居士譯)
網床同吊長山上
咱倆二山頭遠居
征路此時風景美
東西雙地共相思
山雖一帶雲雙色
雨暑寒溫都不同
如北分南妹別我
一帶西離東
 
 
Pháp: Trịnh Phúc Nguyên – Nguyễn Thuận
 
 

L’Est et l’Ouest de la Longue Cordillère Trường Sơn 

Poète Phạm Tiến Duật

Nous avons suspendu nos hamacs sur la Longue Cordillère Trường Sơn

Nous deux séparés aux deux bouts très éloignés

La piste au front est belle cette saison

Le côté Est pense au côté Ouest de la Longue Cordillère

Une chaine de montagnes mais deux teintes de nues

Le ciel est aussi différent, ici le soleil, là-bas la pluie

Comme l’Est et l’Ouest, chaine de montagnes et forêts continues

 
 
Pháp: Phan Hoàng Mạnh
 
 

TRUONG SON-EST  –  TRUONG SON-OUEST

(Trduit par Phan Hoàng Mạnh)

Attachant le hamac dans la même forêt de Truong Son,

On est deux personnes séparées dans des coins bien éloignés.

Le chemin au front est bien beau dans cette saison,

Et le Truong Son-Est pense au Truong Son-Ouest.

Une même chaîne de montagnes, mais deux couleurs 

                                                                        de nuage!

Ici, c’est du soleil, là-bas, de la pluie, et l’atmosphère aussi

                                                                       est différente,

Tout comme toi et moi, comme le Nord et le Sud,

Comme l’Est et l’Ouest dans une suite de forêts continues.

PHỤ TRƯƠNG TTB@ No155

                    TMCS

TRUYỆN DÍ DỦM

WHAT DO YOU CALL…

( Gleaned by TMCS )

 

Teacher: Harold, how do you call a person who keeps on talking when people are no longer interested?

Harold: A teacher.

 
GỌI LÀ GÌ…?

(TMCS lượm và dịch)

Cô giáo: 

Harold, em gọi một người cứ nói mãi khi mọi người đã chán ngấy không muốn nghe nữa là gì ?

Harold: Thưa là Cô giáo ạ !

ĐỐ VUI 

TMCS

Kì trước

Qu’est-ce qui a des ailes et ne vole pas ? 

Ré: Un moulin

Kì này:

Pourquoi les flamands roses lèvent-ils une patte quand ils dorment?

Why do the flamingos raise a leg when they sleep ?

VÈ  & ẢNH (TMCS)

Quê hương VN  đang vào hè, nắng và nóng 35-38o, nhưng ở chỗ TMCS đang rét lắm, ban ngày trên dưới 10o, đêm có khi chỉ 2-3o. Bên này đang phải sưởi “ga” – ( khí đốt ) – có ống dẫn vào từng hộ như dẫn nước, không phải mua từng bình như ở nhà. Cũng như điện nước, các hộ cứ theo thông báo trên máy tính (computeur) mà thanh toán, trả tiền cũng qua conputeur. Có bản điều khiển chung cho từng phòng về thời gian tắt mở, nhiệt độ, chế độ sưởi… (để tiết kiệm). Ống dẫn “gas” dấu kín không trông thấy, nhà cửa rất sạch… Ở phòng khách  ngọn lửa sưởi cháy bập bùng sau các miếng kim loại nom như than củi ngày xưa, đẹp và ấm lắm ! và mọi người thường hay bật quạt lò để phả hơi ấm khắp phòng…Xin giới thiệu tấm ảnh để quý vị thấy rõ hơn mô tả “lòng thòng”. Đây là nơi mọi người trong gia đình, có khi cả khách khứa của TMCS, ngồi uống trà, cà phê, tán róc.. cũng là nơi TMCS ngồi với Nàng Thơ (dịch là chính !), lúc buồn tình thì nghêu ngao khúc hát “ống bơ rỉ” , bật bông ghi ta “tích tịch tình tình tang” giai điệu Nhớ chiến khu  (Đỗ Nhuận)… mà thả hồn về đêm nhà sàn nơi rừng sâu Việt Bắc tận tít mù xa và xưa… hoặc ngâm nga thơ dịch…

Chữ “thơ” trong câu:

                                 

                                     Non non, nước nước, tình tình

                           Tranh mình mình ngắm, thơ mình mình ngâm

                                                                                          TMCS – 19xy    

chứa tới  99% là thơ dịch + vè.

VÈ :

ĐÊM ĐÔNG DỊCH THƠ

Đêm rét – xứ người – lò sưởi ga,

Dịch thơ – rung rẩy – ngồi ngâm nga.

Lời tây – tứ Việt thành thơ dịch

Nghe máy* ê a , ngỡ ở NHÀ ! 

                                                       TMCS- Juin 2018

Mỗi khi dịch xong một bài từ thơ Việt thành thơ Anh, Hán hoặc Pháp… TMCS thường gõ lời dịch vào laptop rồi bật ra loa nghe thử  máy nó đọc tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Pháp … xem có v/đ gì về âm tiết hay trọng âm không. Sở dĩ TMCS phải làm như vậy, vì tuy các thày cô Ăng-lê đã hướng dẫn từ nhiều năm trước…nhưng để chắc ăn, tránh “khổ độc” vì Anh ngữ là thứ chữ viết “nhất tự đa âm” và nhất là trọng âm của từ vô quy tắc ,  “máy móc” tuy vô cảm nhưng chính xác hơn người “phi bản ngữ”…Quen thói, rồi “món” nào TMCS cũng thích thử… Thú vị lắm, như có  thư kí “đa ngữ” ( polyglotte) riêng, ngồi đọc hầu Big boss ( Sếp nhớn – Grand chef !) vậy

Mỗi lần ngồi bên cái lò sưởi gas trong phòng khách, TMCS thường ôn lại kỉ niệm nhà sàn Việt Bắc mùa đông những năm 40 thế kỉ trước cho con cháu nghe: mưa phùn gió bắc, nhà trống huếch trống hoác, bên dưới nhốt trâu, bên trên người ở, rét quá không ngủ được, dậy cho thêm củi vào bếp cháy bập bùng … mặc áo và choàng chăn trấn thủ sưởi cả giờ rồi mệt quá, lăn ra ngủ, đắp thêm manh chiếu lên cho ấm…Đứa cháu lớn rơm rớm nước mắt, thương hại hỏi ông: : Thời ấy, rét thế , ông có làm Thơ được không? TMCS lõm bõm câu được câu chăng, biến báo mà rằng:

Có chứ ! Nhiều nữa là khác :

         Nhà sàn Việt bắc khi xưa

Ta bên đống lửa, gió mưa ngoài giời.

                      …

        Lâu rồi chưa tắm, Giời ơi! 

Nắng lên, ra suối, ta bơi mấy vòng.

                     …

        Đêm đông bên ngọn lửa hồng

Đói vùi củ sắn , ấm lòng đêm đông…

                       …

Ông làm nhiều , nhưng Bà thích nhất câu này:

         Bao giờ nên vợ, thành chồng,

Thì ta nhóm ngọn lửa hồng bên nhau… 

 Lũ cháu cười phá lên, phá tan cả cái im lặng của đêm đông xứ Chuột túi…  Chúng nó đùa: bây giờ , ở đây , ông bà chỉ “tách” một cái là bật “gas” xong, “tách” cái nữa là quạt phả hơi nóng khắp phòng… chả phải kiếm củi, chả phải nhóm lửa…tha hồ thơ thẩn, thẩn thơ … thỉnh thoảng ông lại  “tửng tưng” hát cho cả nhà nghe…Ở đây ấm “sực”, chả cần mặc áo rét mà ông cứ hơ hơ cả hai tay…y như ngưởi rừng ở nhà sàn …! Đó là “cái rét tiềm thức ” đấy ông ạ ! (It’s the cold of subconscience, Grand Pa ! )

TMCS cười : Ấm áp  nhất là lúc cả nhà quây quần quanh ông bà…Những năm tháng tuổi Già còn được như thế này là Mùa Đông Hạnh phúc của cả một kiếp Người đấy …  Phải trải nghiệm ngót nghét một thế kỉ mới  ý thức được điều này, y như đêm nay …các cháu ạ…             

                  

        Đêm mùa đông, đêm mùa đông

Chuyện ngày xưa ấm lửa hồng đêm nay…

                                                             U90- TMCS(Juin-2018)

v.v… và v.v…

ẢNH: 
                               

 
 
 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

THĂM LÚA (454) THT

Bl(454) TTTB@ 154

 

DẠO ĐẦU TTTB@ No154

                           TMCS

LAN MAN   TẠP ĐỀ : 

VIẾT CHI ? THẾ SỰ – QUỐC SỰ – TÂM SỰ & CA TRÙ…

LẠI GOM CHUYỆN TRẦN HỮU THUNG

                    

                                                X

VIẾT CHI ? THẾ SỰ – QUỐC SỰ – TÂM SỰ …

TMCS lúc nào, cứ hễ rỗi rãi là lại  loanh quanh, luẩn quẩn, lẩn thẩn day dứt:

                       Viết chi đây ? Viết chi đây ?

                  Dạo đầu thứ bảy, kì này viết chi ?

Nhiều bạn đọc đã nửa hỏi han, nửa động viên TMCS mà rằng: 

                                                   …

                            Sao hay viết chuyện thuở nao,

                   Nửa phần háo hức, nửa ngao ngán lòng !

                           Văn chương thi hoạ đèo bòng,

                   Trên trang mạng gửi những dòng tâm tư…

                                                   …

Quả là gần đây, vô số ê-may (email) đã bay về TTTB@, trong đó đồng thời có nhiều sự trùng lời điệp ý – có một “bức” tâm thư rất thú vị, hóm hỉnh, sâu mà không cay, đọc chỉ thấy hay hay, ngồ ngộ  – “đùa” nhái  TMCS bằng một điệu văn khá “dị” cả ý lẫn lời – thư viết rằng:

“ Sao TMCS lại hay hứng thú viết chuyện đời nảo, đời nao, thoạt nhìn độ dài bài viết mà ngao ngán chán chường, nhưng cũng thường gặp những đoạn, tưởng chừng tào lao mà xiết bao thú vị ! Ví như  về những chuyến đi TQ, LX , tập trung cơ hồ toàn vào khoảng lưng chừng thế kỉ 20…mà nội dung cảm xúc giờ đây vẫn cứ  hây hây roi rói, tựa mấy cây non vừa “bói” hoa xuân, khiến cuộc hành hương trong cõi văn chương, thêm phần rực rỡ, bỗng đột nhiên, ai cũng ngỡ ngàng, vì “mạch văn” chợt rẽ ngoắt sang ngang, theo một hướng khó lường, pha trộn tinh tường, thêm thắt những điển – chuyện kim cổ dị thường, lủng củng lỉnh kỉnh, khiến người đọc phải đòi phen tỉnh tinh mơ mơ, ra khỏi mạng vẫn nửa tin, nửa ngờ suy ngẫm..…! “

 

“Vâng, nhiều “bức” email ở tầm “sư huynh”, “sư phụ” – cá biệt có cả “sư cụ” (hoà thượng) cũng gửi TMCS mấy bức ê-may, văn phong bay bổng, bóng gió với chút hóm hỉnh, góp ý, thân tình hiếm có…- đôi khi TMCS nhận được cả kiểu viết “humour” rất Ăng-lê của mấy bạn cựu chiến binh USA – tất tần tật  đều… rất chi là thật lòng “xây dựng”và vô cùng hữu dụng cho TTTB@ !!!

TMCS xin chân thành tiếp thu, suy ngẫm thêm… và thưa lại sau.

                                                             X

Ôi ! Có bao chuyện rõ ràng thực đến mười mươi mà lắm lúc chính người kể lể, cứ ngỡ ngàng như đang mơ màng mộng mị : tích cổ nhớ lại, lúc suy tư thì vẫn tựa như đang lắc lư, ngất ngưởng trong các quán trà, tịt mù xa tít, tận bên Tàu , chuyện kim hiện ra trong đầu, thời cứ như còn ngân nga, da diết đâu đây, tưởng như vẫn  ngất ngây suốt chiều dài đường sắt liên vận, hun hút ngút ngàn: Hà nội, Bắc Kinh, Mạc tư khoa,… Ôi,  truyện Bão tuyết của Pu-skin còn đó, tích bài thơ Thôi Hộ vẫn kia …mà sao người thì chung thuỷ sắt son, kẻ thời bội bạc phản trắc ! Sau bao năm tháng  ngọt ngào – cay đắng  , trải mấy thăng trầm bất trắc – trớ trêu , TMCS đã có lúc  buột mồm lỡ bút, đùng đùng nổi cơn thịnh nộ, mượn lời cụ Tú Xương mà văng : “Cha mẹ thói đời…”

Lí do nào ư, nguồn cơn nào ư? như đã có nhiều bạn hỏi…

 

Bởi chưng:

Đã “x,y,z…” lần, TMCS từng thích thú ê a – thậm chí ngây thơ ngâm nga bên cột mốc đường biên, hớn hở vô biên như một kẻ sắp được nhập cõi tiên trong tích Thiên thai huyền ảo…, ngâm rằng:

Bên ni biên giới là mình

Bên kia biên giới cũng tình quê hương…

                                           (thơ T.H – 1920-2002))

lòng lâng lâng, lai láng tình cảm ngây thơ khờ dại với người “chị hiền” vĩ đại kề bên, ngày đêm dốc sức làm “hậu phương” bao la cho “tiền đồn” anh dũng “quên” mình giữ nước – bảo vệ  cả “phe” và…chị ,

hoặc vô tư, sảng khoái ngẩng đầu ưỡn ngực, cất giọng vang vang, khí thế hừng hực …, ca rằng:

… …

Núi liền núi , sông liền sông,

Chung một BIÊN ĐÔNG

Mối tình Hữu nghị sáng như rạng đông…

… …

                                        (Ca từ  bài VN-TH…,  ĐNh. 1922-1991)

hồn bâng khuâng mãi với mênh mông mối tình quốc tế vô biên, chẳng đáy, không bờ …

nên mới :

đột ngột như trời sập bất ngờ, cảm thấy “bầm gan, tím ruột”, ví như người thật thà ,chân chất bị “lừa đảo” trắng trợn, do bỗng dưng gặp phải sự phản bội dã man tưởng chừng đã chấm dứt theo chế độ phong kiến từng kéo lê thê suốt mấy ngàn năm trên xứ sở của những tên khốn kiếp hơn cả lũ hoàng đế ” trời con ” tham lam nham hiểm, song vẫn “leo lẻo” láng giềng hữu nghị ! Hoá ra trên đống tro tàn của ý thức hệ “Thiên triều” đã ấp ủ và làm nảy sinh lại thói xưa tật cũ: muốn cướp cả thiên hạ về mình.  

ÔI ! nham hiểm – bỉ ổi quá, mà cũng bẩn thỉu- thối tha thay !…

TMCS viết ra chuyện xưa, tỏ bày tâm sự về thói đời bẩn thỉu ngoài tầm tưởng tượng của kẻ láng giềng xấu xa… âu cũng là chỉ muốn để mọi người, nhất là các bạn trẻ có cái nhìn xuyên suốt, định dạng cho thật đúng bộ mặt thật của kẻ gian hùng, tham lam truyền kiếp…

Chuyện trong nước, bên cạnh cả khối lớn sáng sủa, chiếm thế thượng phong…cũng còn rơi rớt những mảng  tối, tham nhũng, chạy chức lo quyền, viết sử  đảo điên đen trắng – trắng đen…không chặn-diệt kịp thời e sẽ có phen nguy cơ lan rộng, đe dọa  nghiệp lớn cùng sự trường tồn của sơn hà xã tắc…

( Mấy hôm nay nghe đâu lại đang rộn chuyện “đặc khu” lu bù trong nước- TMCS lo quá là lo, xa xôi chưa tỏ đầu đuôi to nhỏ – nhỏ to, chẳng dám hé răng nhăng cuội…chỉ mong huynh đệ tỉ muội bên nhà, hãy chớ lơ là mà thiếu bề cảnh giác…)

Lắm lúc…nghĩ lại, TMCS mới thông cảm vì sao thời xưa có những bậc danh nhân, chí sĩ đã chán nản thời cuộc muốn xa lánh tất cả mà ngâm câu :

Thế sự thăng trầm quân mạc vấn

Yên ba thâm xứ hữu ngư châu…

世 事 升 沈 君 莫 問

煙 波 深 處 有 漁 舟

 
 

 

 Tranh TMCS sưu tầm làm minh hoạ cho câu:

Yên hoa thâm xứ hữu ngư châu

煙 波 深 處 有 漁 舟

 

(Xin lỗi tác giả bức tranh này: lâu ngày TMCS đã chót quên quý tính đại danh. TMCS cũng từng vẽ một bức tương tự nhưng : Không  trăng, không ngư ông, không nhành cây và chim đậu – chỉ có con thuyền “nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai”, giữa mịt mùng khói sóng…Đã chụp ảnh lưu mà tìm mãi không ra… 

                           

                           Hao hao trong cảnh, gửi tình

                    Hôm nay tìm mãi, bực mình, không ra…)

    

Nghĩa  của hai câu trên  là  

                   

                   Việc đời lên xuống xin Người chớ hỏi

                   Nơi khói sóng thẳm sâu có chiếc thuyền câu

Câu này là của Cao Bá Quát (CBQ) viết – được nhiều đào nương ca trù hát lên làm ngây ngất người nghe….

Trong thời đại và bối cảnh lịch sử mới, ta cần có sự nhận định và cách hiểu đúng đắn mấy câu trên

Nhân dịp này, TTTB@ xin giới thiệu toàn văn bài viết của CBQ  và cũng nhân dịp “Giời cho” mà KHOE lời tạm dịch mấy câu chữ Hán và chuyển lục bát toàn bài do TMCS thực hiện kèm theo bản dịch ra thơ Ăng-lê cũng do TMCS “liều dịch” :

 

     TIÊU SẦU TỬU  (NHỊ) *

 

Nguyên tác: CAO BÁ QUÁT (1809 – 1855)

* * * * * * * * * * * *

Thế sự thăng trầm, quân mạc vấn

世 事 升 沈 君 莫 問

Yên ba thâm xứ hữu ngư châu

煙 波 深 處 有 漁 舟

Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu

Đem mộng sự đối với chân thân thì cũng hệt.

Duy giang thượng, chi thanh phong, dữ sơn gian chi minh nguyệt.

惟 江 上 之 清 風 與 山 間 之 明 月

Kho giời chung mà vô tận của mình riêng.

Cuộc vuông tròn phó mặc khuông thiên;

Kẻ thành thị, kẻ vui miền lâm tẩu

Gõ dịp lấy, đọc câu « Tương tiến tửu »*;

 « Quân bất kiến Hoàng-hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu, đáo hải bất phục hồi. »

君 不 見 黃 河 之 水 天 上 來 奔 流 到 海 不 復 回

Làm chi cho mệt một đời!

Cao Bá Quát : 高伯适

GHI CHÚ (TMCS)-

 

  • Bài này còn có tiêu đề là CHÁN ĐỜI hoặc NGÁN ĐỜI (Văn đàn bảo giám)  – NGHĨ ĐỜI MÀ CHÁN (Việt nam ca trù biên khảo)
  • Tên một bài thơ của Lí Bạch, mấy câu mở đầu như sau:

(李白)

 

TƯƠNG TIẾN TỬU (Lý Bạch)

Quân bất kiến:

Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai,

Bôn lưu đáo hải bất phục hồi!

Hựu bất kiến:

Cao đường minh kính bi bạch phát,

Triêu như thanh ty mộ thành tuyết.

(SẮP) MỜI RƯỢU (Lý Bạch)

Há chẳng thấy:

Nước sông Hoàng từ trời tuôn xuống

Chảy nhanh ra biển, chẳng quay về,

Lại chẳng thấy:

Thềm cao gương soi rầu tóc bạc

Sớm như tơ xanh, chiều tựa tuyết ?

* * * * * * * * * * * * * * *  

TMCS đã mầy mò dịch mấy câu chữ Hán và chuyển cả bài của CBQ sang lục bát như sau:

 

UỐNG RƯỢU GIẢI BUỒN (khúc II)

Tác giả: CAO BÁ QUÁT. (1809-1855)

Dịch mấy câu chữ Hán  và chuyển lục bát cả bài: TMCS

Hỏi chi lên xuống việc đời,

Chìm sâu khói sóng xa vời thuyền câu

Vắt tay ngẫm chuyện đâu đâu,

Thân ta với mộng khác nhau chút nào !

Chỉ là gió mát trên sông,

Trăng soi rặng núi mênh mông mịt mùng.

Kho trời cho, lớn vô cùng

Vuông tròn phó mặc ngàn trùng cao xanh.

Người về với chốn thị thành,

Kẻ tìm vui thú rừng xanh non ngàn…

Ngâm câu “Mời rượu” nhịp xưa,

Thấy chăng ai hỡi bao giờ ngừng trôi

Nước sông Hoàng tự lưng trời

Ào ào đổ xuống ra khơi không về…

Đời còn chi nữa mà mê !

Trong thoáng cao hứng, TMCS bất giác *đánh bạo” mà tạm dịch thành mấy khổ “Anh thi” đở dở ương ương như sau :

(* Chú: bất giác là từ đa nghĩa, bây giờ ít người dùng, TMCS sùng cổ, chọn nghĩa cuối cùng  trong từ điển NQH để dùng thử – coi như “chơi với chữ như một người già hưởng cái thú chơi đồ cổ” vậy-  : bất giác là không ngãn được, không cầm lòng được.

Td: Không ngăn được, không nhịn được, không cầm lòng được. § Cũng như “bất câm” . ◇Lí Lăng : “Thần tọa thính chi, bất giác lệ hạ” , (Đáp Tô Vũ thư ) Sáng ngồi nghe chuyện ấy, không cầm lòng được để lệ rơi ).

Và đây là bản dịch ra “Anh thi” của TMCS (thơ Anh- dùng từ Hán Việt  là Anh thi cho “oách” – nghe từa tựa Đường thi )
 

DRINKING TO DISSIPATE  SADNESS (II)

(Poem by Cao Bá Quát – Translation by TMCS)

Don’t ask me about the vicissitude of the world affairs .

Through the thick vapour 

Which looks like the smoke wave over the river

They can see a single fishing boat over there.

Putting a hand on my forehead, I understand:

No difference between a dream and myself !

There is only the breeze which blows over the river.

And the moonlight covering all mountains- layer by layer…

What a big treasure given by God to mankind 

Let Heaven decide every thing of life!

While one would stay in the city,

The other one – as his desire-

In the forest, leads a secluded life.

I rhythmically declaim the  verses ” Drink-please!” :

“The Yellow River’s  water – as you see-

From the high sky pours down

Then runs to the sea,

And never returns…do you see? “

Why do we  have to be fatigued for this life ?

                                                 X

Nhưng theo TMCS, ta cần suy ngẫm về hàm ý của từ thế sự. Thế sự  nghĩa chung rất rộng, bao hàm mọi việc trên đời, trong xã hội, trong gia đình, trong quan hệ người với người, thường gói ghém trong cụm từ nhân tình thế thái – nôm na là tình người và thói đời- quả là THẾ SỰ bời bời , kể cả đời không hết : Những mặt tiêu cực trong đời sống thường nhật, hoăc đôi khi những vấp váp của bản thân trong cuộc sống, va chạm với người khác, thất bại cá nhân trong một vài lãnh vực (thường là tự thân trải nghiệm hoặc chứng kiến những cảnh thất bại về công danh sự nghiệp, các  tình huống lừa thày phản bạn…)…dễ làm con người chán nản, rơi vào tâm trạng yếm thế, muốn thoát li cuộc sống thực phũ phàng, đi tìm những chốn xa xôi, hẻo lánh, ẩn dật, vui thú với cảnh vật thiên nhiên… Danh nhân CBQ tài cao , chí lớn , sinh chẳng gặp thời mà phẫn chí, trong  thời điểm buồn chán đã viết ra bài này…Tất nhiên tâm lý tiêu cực ấy đã ngược lại chí hướng của chính CBQ và cơ bản cũng không còn phù hợp với cuộc sống ngày nay… Trong mấy bài bài đã “gõ” trước đây của mình, TMCS  không chỉ đề cập về thế sự mà là quốc sự. Dù bất luận trong hoàn cảnh nào, ta không thể không quan tâm đến vận mệnh tổ quốc, sự toàn vẹn về chủ quyền lãnh thổ, biển đảo. Đó là NGHĨA VỤ thiêng liêng của mỗi công dân

Bởi vậy, người xưa đã chỉ viết :

Thế sự thăng trầm quân mạc vấn

chứ không ai viết:

Quốc sự thăng trầm quân mạc vấn cả. 

Chuyện còn mất, thịnh suy của vận nước vượt trên tầm thế sự thông thường mà trở thành quốc sự. Về v/đ này , sách cổ có câu:

國家興亡,匹夫有責 

Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, 

nghĩa là:  một người dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng về sự hưng thịnh hay suy vong của đất nước

Cũng có cách nói: 

Xã tắc tồn vong, thất phu hữu trách

社稷存亡,匹夫有責 

Ý nghĩa cũng là : Nước nhà còn mất, người dân thường cũng phải có trách nhiệm 

Chữ thất phu 匹夫 ở đây có ý chỉ người  dân thường, không có chức sắc, địa vị gì trong xã hội. Td: 匹夫 Người dân thường. ◇Chu Quyền : Cổ chi hiền nhân, tiện vi bố y, bần vi thất phu , , (Trác Văn Quân ) Người hiền thời xưa, mặc áo vải hèn hạ, sống nghèo như dân thường. 

Cớ sao TMCS lại phải lắm điều, nhiễu sự dẫn ra đủ chuyện Ta lẫn Nga, pha chút Tàu … quanh chuyện này…

Vì hai lẽ đơn giản:

Lẽ một : 

Điển tích kim cổ bản thân là những bằng chứng hùng hồn, súc tích { consis (Fr) – consise (Eng.) } có khả năng thay thế ngắn gọn cho rất nhiều lời diễn giải lòng thòng ( verbocité -verbosity ), nhất là ở vào trình độ văn phong còn ”cà kê cà cộ”, chỉ “bẻm mép” mà viết chẳng nên câu như TMCS. 

Lẽ hai: 

TTTB@ thường ưu tiên sử dụng điển và chuyện với bạn đọc nước ngoài, chủ yếu là lớp bạn trẻ VN hải ngoại. Lứa bạn này đa số thạo điển và chuyện bên  Tây Âu, ít biết điển của Ta, của Nga  và của Tàu. Bởi thế TMCS mới thường dùng chuyện và điển phương Đông để hấp dẫn , coi như dùng “của ngon, vật lạ” nhằm thu hút số lượng bạn đọc đông đảo này và cung cấp cho họ một số tư liệu tham khảo về văn học và sự kiện có thể họ ít biết đến.  TTTB@ may mắn có số lượng bạn đọc người nước ngoài và VN hải ngoại ngày càng đông, có nhẽ cũng là nhờ “thủ pháp” thu hút bạn đọc kiểu này. Mong quý bạn đọc trong nước thông cảm và cho phép tái sử dụng…

Ấy, cũng vì cái lẽ hai này là một tác nhân nhàm chán, thường gây ra cảm giác “biết rồi, khổ lắm…” với quý bạn đọc cao niên trong nước, nên TMCS đã nhiều  lần giải thích và nhận lỗi. Lần này cũng vậy, đồng thời TMCS cũng mong nhiều bạn trẻ thông kim bác cổ trong nước thông cảm với lí do nêu trên….

(Trong thực tế, để giới thiệu Thơ Việt, TMCS cũng thường tranh thủ kết hợp giới thiệu vài khía cạnh tinh hoa khác của nền văn hoá – văn hiến VN, từ người dân bình thường đến các danh nhân, thi nhân, văn nhân, anh hùng , hào kiệt và đất nước biển trời, giang sơn gấm vóc của người Việt  …qua cách vận dụng tương tác hai lẽ trên. Có khi thì dùng điển và chuyện kim cổ để nêu bật điều muốn nói,  cũng có khi lại từ điều muốn nói lồng thêm các điển chuyện kim cổ nước nhà để cung cấp thêm tư liệu bổ ích cho bạn đọc và thu hút thêm thiện cảm của bè bạn quốc tế với VN… Nhưng chỉ vì lòng ham muốn và thiện ý thì bao la, thăm thẳm mà kĩ năng diễn đạt bằng lời lẽ, câu cú của TMCS thì quá ư  tệ hại, kém cỏi , nên đã không biết bao lần phải tạ lỗi chư độc giả. Tham vọng này cùng sai sót đó – chắc sẽ còn tồn tại với TTTB@ và TMCS lâu dài, mong quý vị thông cảm…) … 

                                                           X

CA TRÙ

Ca trù là một thú thanh tao cao nhã của nhiều tao nhân mặc khách, danh nhân chí sĩ thời Nho học thịnh hành ở nước ta…Những bài ca trù có nội dung rất đa dạng, không chỉ là chuyện riêng tư  mà có khi nói lên tâm sự, ý chí, hoài bão, nhận định về thời cuộc. Bài trên của CBQ chỉ là một trong vô vàn dẫn chứng…

…Có dịp, TMCS sẽ quay lại chủ đề trên. 

Nay bài này đã chót gõ dài, TMCS muốn được tạ tội với chư vị bằng cách giới thiệu một tư liệu  khá hiếm liên quan đến ca trù và một vĩ nhân của dân  tộc ta  và danh nhân thế giới :chủ tịch HCM ! 

Như một bản năng, tò mò vốn là một “năng khiếu” bẩm sinh của TMCS – chẳng có thày cô, huynh trưởng nào dạy cả… 

Sau khi đọc nhiều lần Nhật kí trong tù và các bài thơ chữ Hán của chủ tịch HCM, TMCS thấm thía Người quả là bậc đại danh nho lại có tâm hồn rất Nghệ sĩ và đạo đức Cách mạng cao cả, và qua tìm hiểu  lại được biết quê hương Người cũng là vùng đất màu mỡ của hát ví, hát dặm/giặm, hát ca trù…không biết liệu Người có quan tâm  hay yêu thích môn nghệ thuật ca trù không ??? TMCS phỏng đoán là có, nhưng cứ loay hoay đi tìm bằng chứng dấu tích hoài…rồi bỗng ….

tình cờ TMCS tìm được chút tư liệu sau đây xin cung cấp để quý vị tham khảo. Vị nào có thêm tư liệu khác , phong phú hơn xin bổ sung.

Chủ tịch HCM cũng rất thích ca trù, đăc biệt là giọng ca của  cụ Quách thị Hồ – NSND, cụ QTH lại giỏi Hán Việt, chê cả Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu mà khen bản dịch của Tản Đà. TMCS xin trich mấy dòng trên Tuổi trẻ on line 27-5-2009 để quý vị tin tưởng 100% v/đ chủ tịch HCM yêu thích ca trù là có thực:

“…Trước đấy, nhà thơ Chu Hà bị phê bình dữ vì cái tội dám để các nghệ nhân Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc nổi hứng đua nhau hát ca trù trong chương trình thơ – nhạc cả một chiều ngày mùng một Tết Nhâm Dần (1962) ở Văn Miếu. Nhưng Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu cho biết rằng hôm đó chính Bác Hồ đã đến nghe tâm đắc đến hết buổi. Nghệ Tĩnh quê Bác nổi tiếng là một trung tâm thơ phú, một trung tâm ca trù – hát nhà tơ….”

Xin hỏi ngoài lề:

 Hát ví dặm, hay ví giặm ? Vị nào biết xin mách giùm nhất là quý bạn đọc quê vùng Nghệ Tĩnh.

Có người bào là  :  “ hát “dặm” – đi xa, không gian ngoài trời rộng rãi thoáng rộng…

Có người bảo là : hát giặm – như cấy giặm, giặm chân…người này hát, rồi lại người kia hát , hát “giặm” lên nhau !…

Mỗi phái còn có nhiều lập luận dài dòng nữa, cứ hao hao như câu “sư nói sư  phải, vãi nói vãi hay “, TMCS thời mới chỉ đi qua ,chưa la cà ở Nghệ an dài ngày nên chịu, chưa thấy có giải đáp nào thuyết phục cả !…Mong được chỉ bảo. Xin cám ơn trước.

Quý vị nào có thêm tư liệu về chủ tịch HCM với ca trù , xin gửi về TTTB@. Đa tạ.

Chú: 

Lúc sinh thời, đêm giao thừa và ngày Tết, Bác thường “vi hành” thăm nhân dân, tham dự các cuộc vui với đồng bào. (Hồi kí về Bác của Vũ Kỳ). 

LẠI GOM CHUYỆN TRẦN HỮU THUNG- TÁC GIẢ THĂM LÚA.

TMCS có may mắn quen biết vợ chồng nhà văn Võ văn Trực (VVT),vì có một thời cùng hay đi họp phụ huynh cho con với cả vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên nữa. VVT vốn có mối quan hệ rất thân thiết với THT. Vợ nhà văn VVT cùng thi Pháp ngữ, niveau D với TMCS để đi công tác châu Phi , nhưng bà “bỏ cuộc” vì lí do sức khoẻ…Hai vợ chồng quen thân với THT và thường kể nhiều chuyện rất lí thú về THT.

Quả thực THT không chủ định làm thơ viết văn, càng không có ý định sáng tác kịch bản phim, viết lời bình…

THT trước hết là một nông dân và giữ nguyên nếp sống ấy đi theo Việt Minh, tham gia khởi nghĩa, cướp chính quyền, làm chủ tịch xã, rồi viết các bản tin để phát trên phương tiện loa đài thời chiến…Cứ cái đà làm thơ ca hò vè lục bát dân dã ấy, THT vô tình thành nhà thơ, nhà văn lúc nào không biết. Nghe đâu, nhờ vậy mà THT được cử đi dự lớp huấn luyện viết văn do cơ quan tuyên huấn địa phương mời mấy nhà thơ, nhà văn của TƯ tản cư thời chống Pháp tới giảng mấy bài cơ bản…Như chim non dần đủ lông cánh, THT ngày càng viết được nhiều và “chất lượng” hơn…Thế là Thăm lúa, Anh vẫn hành quân ra đời và nổi lên với những bài văn nóng hổi kiểu “Vinh rực lửa”… Vũ Quần Phương đã viết : THT từ cán bộ phong trào cơ sở mà thành nhà thơ chuyên nghiệp lúc nào và như thế nào, chính ông cũng không biết…

TMCS thì chỉ thích những chuyện vặt : THT đá bóng khoẻ quá, xô ngã tướng Nguyễn Chí Thanh trên sân cỏ làng quê, thời chiến. Sau này, THT vào thành phố sống vẫn tích trữ đóm tre, dép lốp cũ vứt đi để đêm mưa rào đi bắt ếch trong các hầm hố tránh máy bay. THT ra “tỉnh” ở, tết đến vẫn nhớ hội vật trong làng xưa, một mình quần nhau với đối thủ tưởng tượng…VVT đi chơi về thương hại giục : thắng rồi, vỗ bụng nó đi…THT đập tay bành bạch xuống nền nhà , rồi thở hồng hộc: thèm vật quá, mệt nhưng thắng tưởng tượng cũng vui…mình lừa được nó trúng miếng “hiểm” như lúc vật thật…

THT lúc nào cũng thích nhà quê, thường rủ VVT đi thăm các đền chùa miếu mạo, giải thích các chữ Nho cho VVT hiểu…

Li kì và lí thú là một hôm VVT đưa THT về nơi vợ VVT đang dạy học cách xa HN tới ba- bốn chục Km. Cơm no, rượu say thì trời đổ mưa mãi không tạnh…Nhà chi có mỗi một chiếc gường, vợ chống VVT bàn nhau trải chiếu ngủ đất để bác THT nằm giường…THT thính tai, liền khẽ khàng bảo  : Vẽ chuyện! Mình nằm ngoài, Trực nằm giữa, vợ mi nằm trong…và cười khà khà…

Với TMCS, ai đã vĩ đại – thì trước hết phải vĩ đại cả trong những chi tiết bình thường nhỏ nhất trong cuộc sống ! Chả biết THT  được người đời nhìn nhận ra sao, nhưng chỉ xét riêng những điều vặt vãnh nhất, TMCS thấy ông là…vĩ đại hơn nhiều “nhà nọ-nhà kia” được tung lên tận ngoại chín tầng…

Ôi chao , cứ đà này chả biết bao giờ gõ hết chuyện…xin phép stop, chắc quý vị đã mệt nhoài…hơn cả THT vật tưởng tượng !

Xin tha tội cho TMCS…

                                                                 X

TTTB@ kì này giới thiệu toàn bài Thăm lúa cùng bản dịch. các phần khác như thường lệ.

Kính thỉnh nhã giám

  TTTB@-TMCS

THĂM LÚA
Thơ Trần Hữu Thung
Dịch:
TMCS: Anh & Hán
Trịnh Phúc Nguyên : Pháp
Phan Hoàng Mạnh  : Pháp

THĂM LÚA 

Trần Hữu Thung (1923-1999)      

Mặt trời càng lên tỏ            

Bông lúa chín thêm vàng   

Sương treo đầu ngọn gió  

Sương lại càng long lanh.

Bay vút tận trời xanh      

Chiền chiện cao cùng hót

Tiếng chim nghe thánh thót

Văng vẳng khắp cánh đồng 

Đứng chống cuốc em trông 

Em thấy lòng khấp khởi  

Bởi vì em nhớ lại        

Một buổi sớm mai ri   

Anh tình nguyện ra đi  

Chiền chiện cao cùng hót  

Lúa cũng vừa sẫm hột  

Em tiễn anh lên đường 

Chiếc xắc mây anh mang  

Em nách mo cơm nếp  

Lúa níu anh trật dép     

Anh cúi sửa vội vàng 

Vượt cánh đồng tắt ngang 

Đến bờ ni anh bảo  

“Ruộng mình quên cày xáo 

Nên lúa chín không đều  

Nhớ lấy để mùa sau  

Nhà cố làm cho tốt” 

Xa xa nghe tiếng hát  

Anh thấy rộn trong lòng 

Sắp đến chỗ người đông 

Anh bảo em ngoái lại 

Cam ba lần ra trái   

Bưởi ba lần ra hoa 

Anh bước chân đi ra 

Từ ngày đầu phòng ngự  

Bước qua kì cầm cự  

Anh có gửi lời về     

Cầm thư anh mân mê 

Bụng em giừ phấp phới 

Anh đang mùa thắng lợi 

Lúa em cũng chín rồi     

Lúa tốt lắm anh ơi        

Giải thi đua em giật      

Xoè bàn tay bấm đốt   

Tính cũng bốn năm ròng 

Ai cũng bảo đừng mong  

Riêng em thì vẫn nhớ  

Chuối đầu vườn đã lổ  

Cam đầu ngõ đã vàng 

Em nhớ ruộng nhớ vườn  

Không nhớ anh răng được 

Mùa sau kề mùa trước  

Em vác cuốc thăm đồng 

Lúa sây hạt nặng bông   

Thấy vui vẻ trong lòng 

Em mong ngày chiến thắng.  

VISIT THE RICE-FIELD

Poem by Trần Hữu Thung – Translation by TMCS

The sun rose up higher and higher

The yellow of ripening rice ears became darker and darker.

Swinging in the wind,

The dew became more and more sparkling.

The skylarks took their flight

And sang together in the high sky.

The large field was resounded

With their melodious songs being so nice.

Standing there, leaning on the hoe, I saw…

I was very happy

To recall everything

That happened that morning… 

As a volunteer you started away

In high tune, the skylarks were singing together.

In the field, our rice  colour became darker. 

When I saw you off,

You went with a rattan bag on shoulder.

On my arm –

A bag made of  spathe of areca palm

In which there was some glutinous rice.

From your foot slipped a sandal

By the rice plants.

You hastily wore it again.

Through the field

We took a short cut then.  

At the other end of the field , to me you talked:

“This year, to plough once again, we forgot…

So, rice could not be ripe at the same time 

Remember it, at home you’ll do your best

For the next harvest…”

Being excited by the singing from afar,

You told me: “You can go home now,

We are soon coming to the crowd…”

                     X

We spent three seasons of oranges

And three seasons of pomelo flowers.

You started away

On our resistance’s defensive stage* first days…

Now we are in the contending stage* of the war,

You sent me a letter,

Holding it carefully

I am too happy !

You are in triumph season,

My rice is ripening,

The yield of rice is greater than usual,

I am rewarded in the emulation.

To my counting, oh- my dear,

We have been separated for four years.

They tell me, don’t worry…

But I always think of you, my dear.

In the garden  some banana bunches begin to appear,

Along the alley, the oranges are now yellow.

I often think of our field and garden,

How can I not think of you, my dear !

Season by season,

With hoe in hand I visit our field

Seeing beautiful rice ears with big grains, 

I am so happy

To think of the Day of Victory. 

*- Note:

The Vietnam resistance war against the French aggressors consisted of three stages :

defensive stage, contending stage and general counter-attack stage.

QUAN ĐẠO

(Trần Hữu Thung Thi- TMCS dịch)

Thái dương cánh  chiếu diệu     Mặt trời càng chiếu rọi

Thuỷ đạo cánh gia hoàng           Lúa càng thêm vàng

Sương lộ phong đầu động         Sương lay dộng đầu gió

Ảnh hình cánh thiểm quang       Hình bóng càng óng ánh

Bách linh điểu thướng thiên      Chiền chiện bay lên trời

Không bích khiếu liên miên       Trên không trung hót liên miên

Quần điểu du dương khiếu        Bày chim hót thánh thót

Âm thanh hưởng mãn điền        Tiếng vang khắp cánh đồng.

Ỷ sự thiếp quan khán                  Chống cuốc em đứng trông…

Tâm  trung cảm mãn hân            Lòng thiếp rộn niềm vui

Nhân hồi tưỏng quá khứ            Bởi vì em hồi tưởng

Vãng nhật nhất thanh thần         Ngày xưa một sớm mai

Quân tình nguyện thượng lộ     Anh tình nguyện lên đường

Bách điểu khiếu cao thanh        Chiền chiện cao giọng hót

Đạo lạp  tông hoàng sắc            Hạt lúa màu vàng nâu

Tống quân cha lưỡng hành       Tiễn anh, đôi ta cùng đi

 Quân đái nhất đằng nang          Anh mang một cái túi mây

Thiếp hiệp đái nhu mễ               Em kẹp theo cơm nếp

Đạo trung quân thoát hài          Anh tuột dép trong lúa

Mang mang quân cấp chỉnh      Anh vội vàng sửa

Tiểu lộ việt điền khai                  Băng đường tắt qua đồng

Tại thử biên quân viết:             Đầu bờ ruộng anh bảo :

Cha điền vị  đảo canh              Ruộng mình quên chưa cày xáo

Bất đồng thời đạo thục            Lúa không chín cùng lúc

 Kí trụ dĩ thi hành                      Em nhớ kĩ thực hành

Minh niên tố đắc hảo                Mùa năm sau làm được tốt

Ca thanh hưởng viễn xứ         Xa xa vang tiếng hát

Quân ý mãn hân hoan             Ý anh đầy niềm vui

Tướng tiếp cận quần chúng   Sắp đến gần đám đông

Phụng quân ngôn thiếp hoàn.Vâng lời anh em quay về

Tam thì cam kết quả                 Ba lần cam ra quả

Tam độ du khai hoa                  Ba kì bưởi nở hoa

Phòng ngự tự đầu nhật           Từ ngày đầu phòng ngự 

Quân đăng trình biệt gia.        Anh lên đường xa nhà

Đáo tương cự chiến cục         Đến giai đoạn cầm cự

Âm tấn kí do quân                   Có tin tức do anh gửi về

Thiếp thủ chấp quân tín         Tay em cầm thư anh

Hân hoan mãn thiếp tâm        Lòng em đầy vui mừng

Quân liên tục chiến thắng      Anh liên tiếp chiến thắng

Thục đạo mãn  cha điền         Lúa chín đầy ruộng nhà

Cực hảo cha môn đạo            Lúa nhà mình cực tốt

Thiếp tiêu đoạt thử niên         Năm nay em được giải thưởng

Thiếp tâm trung ám toán        Em tính nhẩm trong lòng

Dĩ tứ niên quang âm              Đã qua được bốn năm

Biệt tưởng, nhân nhân viết   Mọi người bảo đứng nhớ

Thiếp nhưng thường tưởng quân Em cứ thường nhớ anh

Viên đầu tiêu kết quả            Đầu vườn chuối đã trổ

Hạng ngoại cam vi hoàng    Ngoài ngõ cam đã vàng

Thiếp tưởng cha điền địa     Em nhớ ruộng vườn mình

Hà duyên bất tưởng lang     Sao lại không nhớ anh

Thời vụ tiếp thời vụ              Mùa vụ nối tiếp nhau

Thiếp huề sự khán điền       Mang cuốc em thăm ruộng

Mãn điền hảo đạo lạp           Lúa má tốt đầy đồng

Tâm hứng phấn triền miên  Lòng em thấy vui hoài

Khải hoàn nhật thiếp đẳng  Em đợi ngày chiến thắng

觀稻 

陳有椿詩 – 相梅居士譯

太陽更照耀

水稻更加黃

霜露風頭動

影形更閃光

百靈鳥上天

空碧叫連綿

群鳥悠揚叫

音聲響滿田

依鋤妾觀看

心中感滿欣

因回想過去

往日一清晨

君情願上路

百鳥叫高聲

稻粒棕黃色

送君咱倆行

君戴一藤囊

妾挾戴糯米

稻中君脫鞋

忙忙君急整

小路越田開

在此邊君曰

咱田未倒耕

不同時稻熟

記住以施行

明年做得好

歌聲響遠處

君意滿欣歡

將接近群眾

奉君言妾還

三時柑結果

三度柚開花

防御自頭日

君登程別家

到相拒戰局

音信寄由君

妾手執君信

欣歡滿妾心

君連續戰勝

熟稻滿咱田

極好咱們稻

妾標奪此年

妾心中暗算

已四年光陰

別想人人日

妾仍常想君

園頭蕉結果

衖外柑為黃

妾想咱田地

何緣不想郎

時務接時務

妾攜鋤看田

滿田好稻粒

心興奮纏綿

凱還日妾等

VISITE DES RIZIERES

Le soleil se lève de plus en plus clairement,

Les épis de riz mur deviennent plus jaunes,

La rosée se suspend au bout du vent,

Et devient encore plus scintillante.

S’envolant bien haut vers le bleu firmament,

Les alouettes chantent en choeur.

Les cris d’oiseaux harmonieusement modulés,

Se résonnent de loin,par dessus les champs.

M’appuyant sur la pioche, je regarde,

En mon coeur, je me réjouis

De ce matin- là,

comme ce matin-ci,

Òu tu t’es volontairement parti

Les alouettes chantent en choeur en haut,

Les épis de riz commencent à murir.

Je te reconduis en route;

Tu portes un sac de rotin,

Je porte sous l’aisselle une spath de riz gluant.

Les plantes de riz retiennent tes sandales,

En hate tu t’inclines pour les remédier

.

Quand nous avons traversé un champ,

Tu m’as dit,nous avons oublié de bien labourer la terre,

C’est pourquoi le riz ne murit pas régulièrement;

Retiens cela, chérie,pour qu’à la saison prochaine,

Tu t’efforceras de bien labourer la terre.

De loin,parviennent des chants,

Tu te sens ému,

Bientôt nous nous approcherons

Du milieu plein de monde,

Tu me dis de retourner.

Trois fois déjà, les orangers ont donné des fruits,

Trois fois déjà, les pamplemoussiers ont fleuri,

Tu t’es déjà parti

dès au début de la période de”Défensive”,

A la période du”Maintien de la Résistance”

Tu nous as envoyé des mots,

Tout émue je tiens en main ta lettre,

En mon coeur,je me sens bien réconfortée.

Tu es dans la saison des victoires,

Mes plantes de riz déjà sont muries,

Oh! Notre riz est très beau,mon chéri,

Et j’ai recu un prix de compétition.

Je compte le temps sur mes doigts,

Déjà quatre années sont passées,

Tout le monde m’a dit de ne pas trop t’attendre;

Mais moi particulièrement,je ne cesse de penser à toi.

Les bananiers au bout du verger déjà poussent des jeunes régimes,

Les orangers au bout de l’allée déjà jaunissent,

Je me soucie des rizières ,du verger,

Comment ne pourrais-je ne penser à toi!

Saison après saison,les saisons se suivent,

La pioche sur l’épaule,je vais visiter les champs,

Les plantes de riz sont lourdes d’épis,

En mon coeur,je me réjouis

D’attendre le jour triomphal de la victoire finale…

         Traduction du poème Thăm lúa 

                            de       Trần Hữu Thung(1923-1999)

                            par      Trịnh Phúc Nguyên

Pháp : Phanh Hoàng Mạnh

 VISITE AUX RIZIÈRES

Le soleil se levant devient de plus en plus brillant,

Les épis de riz mûr deviennent de plus en plus dorés.

Des gouttes de rosée se suspendant devant le vent,

Deviennent de plus en plus scintillantes.

Volant bien haut dans le ciel bleu,

Des alouettes chantent en choeur.

Les voix d’oiseaux résonnent mélodieusement

Et remplissent tout le vaste champ.

M’appuyant sur la pioche, je contemple

Et me sens toute enthousiasmée dans le coeur. 

C’est que je me souviens

D’un certain matin semblable…

Où tu t’es enrôlé volontaire…

Ce matin-là, chantaient aussi les alouettes en haut.

Les grains de riz commençaient à peser dans les épis…

Je te reconduisis dans ton départ.

Tu portais ta malle de rotin,

Ja tenais en main le paquet de riz gluant.

Tes sandales étant retenues par les tiges de riz ,

Tu t’étais abaissé pour les réparer en hâte.

Ayant traversé la largeur du champ,

Tu m’as dit lorsque nous étions arrivés à cette diguette:

“Nous avons manqué le labour final de notre rizière,

C’est pourquoi le riz ne mûrit pas bien régulièrement.

Retiens-le bien ma chérie,  pour qu’à la saison future,

Tâche de mieux travailler la terre.”

De loin, parvenaient des chansons,

Tu te sentais tout émotionné.

Lorsque nous nous approchions de la place pleine de monde,

Tu me dis de retourner.

Les orangers ont trois fois donné des fruits,

Les pamplemoussiers ont trois fois fleuri.

Tu t’étais mis en route

Depuis le commencement de la période “Défense Passive”.

Au temps de l’époque “Maintien de la Résistance”,

Tu nous as envoyé des notes.

La main palpant ta lettre,

Je me sens maintenant toute réconfortée.

Tu es au sein de la saison victorieuse,

Mes rizières aussi sont déjà mûres.

Notre riz est très beau, mon chéri,

Et j’ai reçu un pris de compétition.

Calculant le temps sur mes doigts,

C’est déjà passé quatre longues années.

On me dit de ne pas trop attendre,

Mais moi, je n’ai pu cesser de penser à toi.

Les bananiers du bout du jardin donnent déjà des grappes.

Les oranges près de l’allée sont déjà jaunes.

Etant attachée à nos rizières et jardins,

Comment pourrais-je ne pas penser à toi?

Saisons aptrès saisons,

Je visite nos champs, la pioche sur l’épaule.

Nos plantes de riz sont lourdes d’épis.

Me sentant le coeur plein de joie,

J’attends le jour de la victoire finale. 

                           Version française de Phan Hoàng Manh

PHỤ TRƯƠNG TTTB@ No 154

                         TMCS

 
TRUYỆN DÍ DỦM

CORRUPTION

( Gleaned and translated into English by TMCS)

In a country, it is said in a daily newspaper: “Fifty percent of the government staff have been involved in corruption”. Considering the above mentioned information is a dangerous rumour, the Prime Minister of that country asked the news paper to rectify its wrong information. On the next day, the correction of that newspaper was as following: “Fifty percent of the government staff have not been involved in corruption”.

TMCS’s comment.

What a wonderful correction!

 

THAM NHŨNG

(TMCS lượm lặt – kể và dịch ra Anh ngữ)

Ở một nước nọ, một tờ báo hàng ngày đã đăng tin: Năm mươi phần trăm nhân viên chính phủ từng dính líu vào các vụ tham nhũng. Ông Thủ tướng nước ấy cho rằng thông tin trên của tờ báo là một tin đồn nguy hiểm, đã yêu cầu tờ báo ấy phải cải chính. Hôm sau, tờ báo ấy đã đính chính như sau :

Năm mươi phần trăm nhân viên chính phủ chưa từng dính líu vào các vụ tham nhũng. 

TMCS bình:

Tuyệt vời ông mặt trời !

ĐỐ VUI ( TMCS)

Kì trước:

Quel mot courant a une seule consonne, et cinq voyelles toutes différentes ?

Ré: Oiseau

Kì này:

Qu’est-ce qui a des ailes et ne vole pas ? 

ĐÔI TẤM ẢNH & MẤY CÂU VÈ

-CHIM BÊN KHUNG SỔ:

Một hôm TMCS “phi” xe về đến nhà, toan mở cửa , bỗng dưng để ý thấy một chú chim “gù gù” trên bệ cửa sổ, cạnh lối ra vào (xem ảnh : trên khung kính cửa sổ, có bóng chiếc xe màu đỏ của cháu ngoại TMCS) cất tiếng như chào hỏi mừng rỡ, chắc là Nó kể lể phải đợi TMCS đã rất lâu…TMCS rón rén đến gần và khẽ khàng chào hỏi : Xin chào ! Hello ! Bonjour ! Khoẻ không? How ar’you ?…Comment vas-tu ? Đây có nhẽ là một cánh chim trời, sang sáng vẫn  cùng hàng chục bạn chim khác  sà xuống vườn, quanh chỗ TMCS ngồi toạ thiền cả tiếng đồng hồ, người không nhúc nhích, chim chẳng ồn ào, cả hội phăng phắc như những pho tượng vườn, nhân điểu “đồng thiền”…Cả nhà, mới đầu còn lạ, vì chim dạn dĩ khác thường, nhiều con như còn muốn đậu trên vai trên đùi TMCS, sau quen dần, vợ con và các cháu đều bảo: ấy là do TMCS, cả tâm tính và tướng mạo đều hiền từ như một nhà Sư, nên chim chóc cảm thụ được đức từ bi mà không sợ hãi nữa. 

Con chim trên cửa sổ giống như chim ngói bên mình, nhưng lại đỏm dáng đội cái mào rất đẹp trên đỉnh đầu. TMCS vuốt nhẹ nhưng không chạm vào mình nó mà dỗ :  yên cho Thày chụp một pô ảnh, kỉ niệm sớm nay…Nó ngoan ngoãn y theo, không nhúc nhích, khiến pô ảnh rất mỹ mãn… (xem bên dưới )

Sở dĩ, mảnh vườn của TMCS có sức hấp dẫn với nhiều loai chim như vậy vì bất kì cánh chim nào đau yếu hoặc bị thương tật đến đây đều được TMCS chu cấp đẩy đủ nước uống, lương ăn và bôi thuốc chống nhiễm trùng suốt thời gian trị bênh, dưỡng thương…Cánh chim nào lành lặn, mạnh khoẻ thời bay đi,  còn chẳng may không qua khỏi…TMCS chôn cất cẩn thận ở gốc cây trong vườn và thắp nén nhang nhân đạo… như vĩnh biệt một sinh linh… Chẳng nhưng chim muông, mà có lần một chú cáo, đêm hôm qua đường chắc do quáng đèn đã bị tai nạn ô tô, TMCS cũng đã đào huyệt chôn ở gốc cây vỉa hè và thắp nhang…Hình như những hành động nhỏ nhặt này đã có tác dụng tu tâm, dưỡng tính tạo nên phong thái từ bi cho TMCS, nhờ  vậy cảm hoá được nhiều sinh linh khác và cũng nhờ vậy nhận được mối thiện cảm từ nhiều loai hoa cỏ, chim muông thường ngày tiếp xúc, tuy không trao đổi băng ngôn ngữ từng loài, nhưng đã giao hoà bằng năng lượng chung của tình bác ái…  

Sáng nào cũng vậy, rất nhiều chim đến cũng dự thiền với TMCS…Hình như cả hoa lá trong vườn cũng vậy, phải chăng giữa muôn loài trong thiên nhiên này có thể giao hoà với nhau qua những dải sóng  đặc biệt thuộc trong trường sinh học (biologic field – champ biologique)…Gần đây, TMCS có đọc một số tài liệu nói về thiết bị truyền sóng điện não, điều khiển được vật khác, Td: VTV  đã giới thiệu hai học sinh lớp 8 ở VN, có thày giáo hướng dẫn , đã lắp một thiết bị truyền sóng não làm co ruỗi được các ngón tay trên một bàn tay giả để lắp cho người khuyết tật…
 
Nhiều vị cao tăng gốc Âu, từng là Gs – Ts dạy Toán học, Vât lí lí thuyết ở một số trường ĐH danh tiếng, cùng một số vị sư người Ấn, Myanmar, Nepal, Thailand…là những Buddhists tiểu thừa (Theravada) – tu hành và n/c Phật học nguyên sơ , không pha  trộn Confusianism, Laoism…hàng ngày xuống núi, khất thực không ăn chay, qua đàm đạo, trao đổi, giải thích kinh Sanscrit – Phạn (TMCS chỉ biết về kinh kệ chữ Nho vốn đã được cài trộn nhiều tư tưởng của Khổng – Lão ) cho TMCS, hầu hết đều cho là ngoài trừ đọc-dịch thơ tình, và đàn hát tình ca ra, TMCS đã có nếp sống, phong thái và tư duy hao hao một nhà tu hành theo Buddhism nguyên sơ cách đây khoảng ngót 3000năm( Primary Buddhism)…  

Hi vọng với tình yêu thiên nhiên chân thật của mình, với quá trình thiền định mấy chục năm ròng, TMCS đã sơ bộ tích được năng lượng tối thiểu đủ truyền tới chim muông, hoa cỏ quanh nhà mình thông điệp : Yêu thương nhau sẽ làm cho cuộc đời nay đẹp thêm, đẹp mãi…

Xin mời quý vị xem ảnh và thưởng vè :

                ĐIỂU ĐÀM

                                TMCS    

     Từ phương xa thẳm nào đây,

Vườn ta chim đến ngày ngày bên ta,

       Bắt sâu bọ, chăm cỏ hoa,

Câu thơ, tiếng hót, bên ta toạ thiền,

    Vườn trần chung một cõi Tiên,

Thày trò đàm đạo, bạn hiền kết giao.

     Nghe chăng lời gió lao xao,

Cỏ hoa ríu rít: nơi nào như đây !
 
Inline image

CHỮ VIỆT XỨ NGƯỜI:

TMCS trôi dạt đã lắm nơi không nhớ hết…Hôm nay nhân tiện xe nhà bỏ không, liền tranh thủ la cà quán xá, tìm chút hương vị quê hương: hoặc bún chả hoặc phở bò… Từ bãi gửi xe, đang lò dò mò mẫm, chợt đến môt ngã tư…TMCS  ngước mắt lên, định coi thử đang trong  phố, ngõ nào: chợt thấy mấy biẻn chỉ đường toàn bằng tiếng Việt…

Quá bình thường nếu như ở Hà nội, Nam định hay đâu đó trên đất nước Việt nam thân yêu… Nhưng ở đây TMCS thấy như có dòng điện chạy qua người…Chợt trong đầu TMCS loé lên một ý tưởng, hỏi một người nước ngoài xem họ có biết là biển gì không…Đây rồi, một cặp vợ chồng người Âu, trạc tuổi trung niên: TMCS xin phép hỏi đường và chỉ vào tấm biển mà rằng: Tôi không hiểu họ viết gì ! Bà vợ nhanh mồm nhẹ miệng hơn anh chồng, đáp lời: Không phải tên phố đâu, biển chỉ đường đấy ! bằng chữ Việt nam đấy…TMCS lại hỏi tiếp: ông bà biết tiếng Việt ạ ? – Người chồng lên tiếng : Không, Hai cái biển chỉ tên hai trường ĐH, ở đấy có nhiều du học sinh VN học, buổi tối họ  đứng bán hàng trong các hiệu của người Vn nên tôi biết… Còn cái biển kia  chắc là biển chỉ đường ra ga đường sắt nội đô…Ông đến từ Korea hay Taipei, chỉ thạo Anh ngữ tất nhiên không biết mấy cái biển kia … TMCS cười thầm và cám ơn cặp vợ chồng người qua đường ấy, rồi bỗng thoáng bật cười: chắc lại mấy thày giáo Sài gòn di tản sang đây giúp nhà chức trách địa phương làm cái biến này. Bên này họ dùng đầu máy điện cả rồi, phải gọi là Ga đường sắt, chứ sao cứ nói Ga xe lửa mãi như cái hồi còn đốt lửa trên các đầu tầu hơi nước ( steam locomotive : locomotive à vapeur) xình xịch than củi đun nước trong nồi hơi “xúp-de” ( chaudière ). Bây giờ mấy “cụ” Vn này lạc hậu về ngôn ngữ quá, lại lười biếng hoặc định kiến hẹp hòi, không học thêm tiếng mẹ đẻ mà vẫn dùng những từ ngữ từ thời trước 1975 ở SG mang sang đây. Chả thế mà bà xã TMCS vừa đặt chân xuống xứ sở này, không chịu nổi, đã chạy vạy xin bộ GD Australia chi viện tài chính để mở một ngôi trường tiếng Việt dạy tiếng Việt đương đại cho con em người Việt sinh trưởng ở đây từ lớp 1-12 ! May mà tiếng Việt được là một trong mấy ngoại ngữ ưu ái , được cộng thêm điểm để  vào đại học , nên nhà trường của bà xã TMCS đã rất đắt khách , phải mở thêm suốt từ vỡ lòng cho đến hết tú tài . Cũng theo yêu cầu của nhà nước ở đây: các bệnh viện, cơ sở giao dịch quan trọng phải có sẵn phiên dịch viên (bên này dùng từ “thông dịch viên”) để hỗ trợ những người Việt không sử dụng được Anh ngữ… Khi đó TMCS chỉ là tay thư kí quèn xách cặp cho bà xã sắm vai Hiệu trưởng!…TMCS thường nhắc con cháu: ở đây họ quan tâm và biết mình là VN thì phải hết sức cẩn thận, đừng làm điều gì không tốt để mang tiếng xấu mà đắc tội với quê hương đất nước… 
 
 
Xin mời quý vị xem vè  & ảnh của TMCS

Inline image

PHỐ NHỎ XỨ NGƯỜI

TMCS

Ta sững người trong con phố nhỏ:

Giữa nơi xa, mấy chữ quê nhà

Dịu dàng nhắc nhở người xa xứ

Gìn giữ thanh danh nước Việt ta !

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

THĂM LÚA (453)

Bl(453) TTTB@ 153

DẠO ĐẦU TTTB@ No153

                    TMCS

LAN MAN –  

XẾP LẠI CHUYỆN CŨ

GOM CHUYỆN TRẦN HỮU THUNG

XẾP LẠI CHUYỆN CŨ

Vì nhiều lí do, trong đó chủ yếu là TTTB@ muốn dồn sức vào trọng tâm Thơ Việt và cũng vì điều kiện biên chế và thời gian eo hẹp , số  email gửi  về trao đổi, đề nghị giải đáp nhiều v/đ thuộc các lãnh vực khác nhau…ngày càng nhiều, vượt qua khả năng có hạn… nên TTTB@ một lần nữa, xin trân trọng thông báo chung như sau:

– Ưu tiên số một dành cho những nội dung liên quan đến thơ Việt.

– Chỉ trả lời bằng thư riêng khi có vđ cá biệt, những vấn đề chung của nhiều bạn đọc sẽ được gộp lại giải đáp trên TTTB@.

– Không lặp lại câu đã trả lời – nhất là những câu xa chủ đề thơ Việt.

– Ngôn ngữ trao đổi qua emails với bạn đọc: Anh ngữ chỉ dùng với bạn đọc nước ngoài. Tiếng Việt : với bạn đọc VN hải ngoại và trong nước.

Riêng về v/đ liên quan đến bộ sử  15 tập bị thu hồi do được rất nhiều bạn quan tâm, vẫn tha thiết hỏi ý kiến TTTB@, TMCS xin vắn tắt nêu lại lần chót như sau:

TMCS chưa đọc cuốn này, vả chăng chủ đề lịch sử không thuộc về trọng tâm của TTTB@, nên không thể giải đáp thêm về các phản hồi mới của quý bạn đọc trong, ngoài nước , người Việt và người nước ngoài. Để khép lại vấn đề này, TTTB@ xin nhắc lại lần cuối.

Về nguyên tắc, v/đ đã nêu ra trước đây về giặc và nguỵ quân, nguỵ quyền, TTTB@ giữ nguyên ý kiến: Kẻ đến xâm lược VN là giặc xâm lăng, chính quyền và quân đội làm tay sai, bán nước cho giặc là nguỵ quyền , nguỵ quân, nguỵ binh. Từng cá nhân có thể cải tà , quy chính hưởng lượng khoan hồng của nhân dân Việt nam , nhưng bản chất phi nghĩa của cuộc chiến xâm lăng – gắn với khái niệm giặc- và bản chất phản quốc của chính quyền, quân đội làm tay sai cho giặc  gắn với cách gọi đích danh là nguỵ thì không bao giờ được thay đổi.  Không kẻ nào được xuyên tạc chân lý đó. Nếu có cuốn sách nào viết ngược lại nội dung trên thì đó là nguỵ thư, nguỵ sử phải bị tiêu huỷ và  cần truy cứu trách nhiệm kẻ viết bậy.  TTTB@ sẽ không trao đổi thêm về v/đ này nữa.

Về từ Tháp ngà: nguồn gốc của từ này, TMCS đã nêu rõ.

Nay có bạn đọc hỏi thêm, TMCS xin nhấn mạnh: gọi như vậy là còn có phần “khoan dung” coi như lí do tác giả viết sai vì kém hiểu biết thực tế, chứ nếu có đầy đủ bằng chứng xác thực về việc tác giả cố tình xuyên tạc nội dung khi viết với dụng ý xấu xa thì không thể dùng từ Tháp ngà được nữa. Khi đó phải lên án nghiêm khắc hơn , thậm chí truy cứu đến nơi đến chốn trách nhiệm của tác giả như đối với những kẻ phản động hoặc bọn “trở cờ” (từ dùng trên phâyx-búc – facebook của mấy anh bộ đội cụ Hồ) bỏ chính theo tà…

( Tối qua, TTTB@ nhận được một số emails của bạn đọc thắc mắc về việc VTV đưa hinh ảnh đám cưới hoàng gia Anh chứa đựng nhiều nghi thức, ý nghĩa xã hội, chính trị… rườm rà, chẳng có liên quan gì với ta,  với thời lượng quá nhiều, chi tiết quá thừa… so với thời lượng dành cho các sự kiện trọng đại khác như 7/5- 9/5 , 19/5…, TMCS đề nghi quý vị phản ánh v/đ này với các cơ quan hữu trách trong nước. Ở một nơi xa xôi, với định viên và nguồn thông tin hạn chế…TTTB@ chưa đủ số liệu căn cứ, cũng như điều kiện, và “tầm vóc” để tham gia ý kiến về chuyện này. 

TTTB@ xin cám ơn sự tín nhiệm của quý bạn đọc, nhưng xin được tập trung vào công việc trọng tâm  là Thơ Việt. V/đ quý vị nêu ra quá lớn, liên quan đến cơ quan truyền thông tầm cỡ nhất nhì ở VN do một TGĐ -ô.TBM- là cán bộ cấp cao-TW UV phụ trách, , đáng được đệ trình để cơ quan có thẩm quyền và trách nhiệm trong nước xem xét, cân nhắc và xử lí … thận trọng, công minh và nghiêm túc. ) 

Đây là lần cuối TTTB@ nêu những v/đ này. Xin quý vị miễn trao đổi tiếp.

GOM CHUỴÊN TRẦN HỮU THUNG…

It nhất đa số người Việt trong nước đều biết đến Trần Hữu Thung (THT) là nhà thơ, nhiều lúc hứng chí viết văn xuôi. Về thơ thì hầu như ai cũng biết bài Thăm lúa, ai hay hát (chưa cần hát hay) đều biết bài Anh vẫn hành quân của THT do nhạc sĩ Huy Du phổ nhạc… Người tò mò – hao hao cái tạng của TMCS – còn biết đến cả thơ tình của THT (xem số trước)…

Nhưng có lẽ ít ai biết và nhớ được : THT còn là nhà viết kịch bản phim tài liệu truyền hình  và phim truyện!

Nói có sách , mách có chứng, TMCS xin mời quý vị đọc bài viết sau  đăng trên báo Nghệ an số 18/8/2017 của Châu Phú – người đã cùng tham gia làm phim với THT:

…“ …Nhưng kể ra, tôi lại có sự may mắn hiếm thấy không dễ gì nhiều người khác có thể có được. Ấy là khi được đi với ông  (tức THT) hàng tháng trời, rong ruổi khắp địa bàn Diễn Châu, trao đổi công việc trong suốt cả năm 1989 khi ở Diễn Châu, khi ở Vinh trong quá trình làm phim tài liệu “Thăm quê thấy nhiều gợi mở” mà ông là tác giả kịch bản và viết lời bình.

Liên hoan phim Truyền hình toàn quốc năm 1990 diễn ra tại thành phố quê hương Bác nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người, bên cạnh nhiều kết quả đáng nói hồi đó, “chú, cháu” chúng tôi rất, rất vui vì bộ phim đoạt giải cao nhất trong số các tác phẩm dự thi của tỉnh đăng cai.

Nếu có thể gọi là “thành công” thì chắc chắn, người góp công lớn của bộ phim không ai khác chính là Nhà thơ Trần Hữu Thung, trước đó từng là tác giả kịch bản phim truyện nổi tiếng “Ngày ấy bên sông Lam”

Nên nhớ, chỉ trước đó ít lâu, nhà-thơ-về-hưu đã vượt lên trên các cây viết văn xuôi sừng sỏ của đất nước này để đoạt giải A Cuộc thi viết bút ký-phóng sự do Báo Văn nghệ phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức, với bút ký nổi tiếng “Ký ức đồng chiêm”.

Lần này, tuy tuổi cao, sức khỏe có hạn và tham gia vào một lĩnh vực mới là phim tài liệu truyền hình, ông vẫn chứng minh được sức vóc của một “đô vật” có hạng trong cuộc tụ hội nhân tài, vật lực cả nước.

Hơn 30 năm trước, rõ ràng quê nhà Diễn Châu đã làm được điều mà ít nơi làm được, là sự tôn trọng, đánh giá cao cống hiến của mọi nhân tài, con em quê hương, bất kể tuổi tác, đang làm việc hay đã nghỉ hưu. Rất đáng mừng là truyền thống này luôn được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân nơi đây gìn giữ và phát huy.

Điều bây giờ nhiều địa phương đang tích cực làm thì chính Diễn Châu đã triển khai từ hơn 30 năm trước, để góp phần quảng bá hình ảnh thiên nhiên, đất nước, con người, tiềm năng, lợi thế, chính sách thu hút đầu tư… để đi trước đón đầu thời kỳ hội nhập và phát triển.

Nhà thơ Trần Hữu Thung hồi đó khi nghe ý tưởng của lãnh đạo huyện, sự góp sức của Đài Truyền hình Nghệ An đã hăng hái tham gia, không ngại đi đến bất cứ nơi đâu trên địa bàn để có được những cảnh phim ưng ý nhất, không ngại khuya khoắt, sớm hôm, duyệt đi bàn lại để có được những lời bình vừa đắc địa lại vừa mang đậm dấu ấn không lẫn vào đâu được của tác giả “Thăm lúa”và “Ký ức đồng chiêm”!

Do được cùng đi thực tế, trao đổi, trò chuyện với Nhà thơ Trần Hữu Thung trong suốt quá trình làm bộ phim đó, sau này tôi thường “khoe” với bạn bè rằng, tôi hiểu, biết Diễn Châu cho đến nay là nhiều hơn, sâu hơn so với… quê mình!

Tôi cũng không bao giờ quên chuyện một buổi chiều ngồi trên đê cỏ may hóng gió biển, chợt nhớ bài viết của Nhà thơ Võ Văn Trực về tình bạn với Nhà thơ Trần Hữu Thung, tôi cất tiếng hỏi “Bạn vong niên là răng, chú?”. Vốn dốt Hán văn, hiểu biết lõm bõm, tôi ngờ có thể bị… chê, không biết chừng? Nhưng không. Ông thủng thỉnh và bất ngờ như lâu nay vẫn thế trước tất cả bè bạn, anh em (và lần này là chú-cháu), rằng: “Bạn vong niên là bạn khác tuổi. Như chú với cháu!”

Tôi ngạc nhiên, thán phục và vô cùng biết ơn vì câu nói đó của ông.

Đó cũng là lần đầu tiên trong đời, tôi nhận ra một con người mà sức vóc sáng tạo bền bỉ và phong phú đến vậy, lại luôn hiện ra trong mắt mọi người, kể cả với người chập chững như tôi, với phong thái giản dị, gần gũi và thuyết phục hoàn toàn từ lúc nào không biết. Tôi cũng nhận ra rằng, mọi thành công mà ông có được, từ thời trai trẻ và cả sau khi về hưu, luôn gắn bó chặt chẽ với mảnh đất này, vạt lúa vừa sậm hột này, giọt sương long lanh đầu ngọn cỏ này, con chiền chiện này, núi Hai Vai này,…

 
 
Trần Hữu Thung, Nghệ An
Trần Hữu Thung. Ảnh chụp năm 1995.
 Nguồn: Báo Nghệ An 18/8/2017- TMCS st.

Tôi từng được một vài người đi trước sẻ chia câu chuyện lựa chọn, cách đi đường dài và từng có lúc nghĩ mình đã sai bước, đã lao vào ngõ trống khi chọn về quê, bước lùi tiến tới thất bại toàn tập. Khi trước mặt, sau lưng có biết bao “tấm gương” về sự thành đạt ở một nơi đô hội, thông thoáng nào đó, về sự níu kéo cố hữu nào đó…

Chỉ đến khi nghe về Trần Hữu Thung qua anh em, bè bạn, đọc thơ văn của ông, trực tiếp nghe ông nói thật khẽ, thật sâu, tôi mới hiểu, rằng, càng trở về quê, càng đi sâu vào miền quê dân dã thì con người và tài năng của ông càng phát sáng, theo cách đậm đặc của riêng ông.

Và thành công được như Trần Hữu Thung, giành được sự ghi nhận và thán phục của anh em, bè bạn gần xa ngay cả lúc “ở quê” như ông, chắc chắn không có nhiều, nếu không nói ông là số 1, là hiếm!

Đến bây giờ tôi vẫn mang theo sự nuối tiếc, ân hận về một điều ông dành cho tôi nhưng đã không thực hiện được. Ấy là lần tôi ra thăm ông ở khu tập thể Bệnh viện Diễn Châu, như hiểu được ý tứ nào đó của tôi sau những lần chú, cháu chuyện trò, ông nói “Lúc nào gom toàn bộ thơ của cháu, đưa chú xem, may chi nói được vài câu…”. Tôi mừng quýnh, líu ríu dạ thưa.

Nhưng tôi chưa kịp ngồi mổ cò từng chữ (khó nhọc và đầy lo lắng) thì ông đã đi xa vào một ngày cuối tuần năm ấy.

Đó là một trong những điều khiến tôi nghĩ thật lâu, thật kỹ để tới năm 2003 mới hoàn thành bài thơ “Ở quê” với lời đề tựa “Kính viếng Nhà thơ Trần Hữu Thung”. Xin được chép hai câu mở đầu, thay cho lời kết bài, lời muộn màng của một người đi sau luôn hết mực yêu kính Nhà thơ:

Thơ đưa ông từ người nông dân thành nhà thơ

từ Vinh ra Hà Nội

rồi ra thế giới

Còn ông, ông chọn con đường từ Hà Nội về Vinh

rồi về quê!

Châu Phú

Với TMCS, Trần Hữu Thung đã yên nghỉ vĩnh hằng tại quê hương Diễn Châu, Nghệ an nhưng tên tuổi  cùng sự nghiệp văn chương của ông đã và sẽ mãi  mãi được ghi tạc  trong lòng mỗi người VN yêu nước và yêu thơ văn Việt nam !

Từ đáy lòng, TMCS xin bày tỏ lòng kính phục Ông – từ một cán bộ Việt Minh, ông làm chủ tịch xã, rồi lặn lội qua bao thăng trầm của quê hương và bản thân, ông đã viết văn, làm thơ, rồi làm cả phim nữa…Không lúc nào ông nghĩ mình là nhà này, nhà nọ…Ông viết văn, làm thơ… như khi ở quê nhà cày ruộng, bắt cá, đánh vật… làm công tác của thôn , của xã, của huyện…Chuyện THT làm thơ, viết văn, sáng tác kịch bản xi-nê-ma…, tất cả cứ tự nhiên như tất nhiên phải thế, cứ như sông, suối thì từ nguồn nào cũng phải đổ ra biển …Với TMCS, ông cũng lại giống như một con dao “pha” đa năng, đa dụng, bổ quả cau, têm miếng trầu tiếp khách khứa, chẻ thanh củi, đun ấm nước mời bạn bè…đều được cả ! mà con dao ấy  – gặp thời chiến, khi đất nước có giặc –  mài sắc làm gươm báu xung trận , đánh địch tan tác tả tơi giữ làng, giữ nước cũng vô cùng lợi hại…Từ những ngày trứng nước và bão táp của CM và KC, lớp người như ông thật là cần thiết đến mức không thể thiếu được với nhân dân và đất nước ta… Tất nhiên, nếu chịu khó đọc lại những gì ông viết khi mới chập choạng vào làng văn – như Vũ Quần Phương kể – thì điều đáng ghi nhận đầu tiên là ông đã phải vừa làm vừa chăm chỉ mò mẫm, học tập thêm, hao hao cái dạng Phùng Quán…nhìn xa hơn nữa, ta thấy THT cũng tự trưởng thành trong nghề văn với đôi nét từa tựa như nhân vật chính trong tự truyện Мои университеты –  Những trường đại học của tôi – do Макси́м Го́рький viết ( tên thực:  Алексе́й Макси́мович Пешко́в) nhưng có nhiều thuận lơi hơn vì quanh ông khi đó đã có nhiều văn nghệ sĩ tài ba để ông tiếp cận và trao đổi, học tập – trau dồi thêm…cuộc sống vật chất trong KC tuy khó khăn nhưng đã tươm tất hơn cảnh ngộ của M.Го́рький thuở hàn vi…

Đọc đi đọc lại THT để dịch thơ ông, TMCS thường hay liên tưởng đến Phùng Quán với những câu văn hừng hực trong Vượt Côn đảo, Tuổi thơ dữ dội và những câu thơ cháy bỏng nhiệt tình CM…

Theo TMCS : cùng dấn thân vì CM-KC trên mặt trận văn chương, giữa THT và PQ đã không còn ranh giới khác biệt nào về xuất thân, tuổi đời, tuổi nghề, bút pháp, thể loại, trình độ… Họ đã làm tất cả vì CM và KC !

Từ tác phẩm của THT và PQ, tất cả đều toát lên khí phách, và khí thế của thời đại, tuy ở các khía cạnh và bối cảnh khác nhau, nhưng không hiểu tại sao  nghĩ tới lớp THT – PQ, TMCS vẫn cứ hay mường tượng đến  hình ảnh những người Bôn-sê-vích của CM tháng 10  trong Thép đã tôi thế đấy (Как закалялась сталь) của Николай Островский và trong thơ bậc thang hừng hực khí thế CM của  Влади́мир Влади́мирович Маяко́вский tuy điều kiện và hoàn cảnh lịch sử, xã hội rất khác nhau… TMCS đã không it lần nín thở, người nóng bừng…hoà trong đám bạt ngàn công chúng Nga đông nghìn nghịt, lặng người nghe đọc “câu được câu chăng” những trang thơ hùng hồn, bất hủ của  В. Маяко́вский trên quảng trường mang tên ông…Còn nhớ như in, cái thời Nga ngữ còn rất “cập quạng”, lần nào TMCS cũng cần vài ba bạn Nga tri âm, tri kỉ tháp tùng giúp đỡ mới nghe “thủng” những câu thơ ngắt mạch rất kì diệu do các nghệ sĩ Nga đọc quá hùng hồn cuốn hút – chứ không ngâm nga réo rắt như những nghệ sĩ VN ngâm thơ…Qua bao năm tháng, cái cảm giác sôi sục ấy vẫn không ít  lần tái hiện, trỗi dậy mạnh mẽ trong tâm tưởng mỗi khi TMCS độc hành trên đường vắng, rì rầm cất tiếng hát lời thơ “Anh vẫn hành quân” của THT theo nhạc điệu Huy Du phổ cho bài ấy… Nếu  không thể không công nhận những đóng góp vĩ đại của dòng văn học CM Nga vào thắng lợi của CM tháng 10 và cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh của LX thì ở VN dòng văn học CM, KC với sự tham gia của vô số nhà văn , nhà thơ cỡ THT và PQ cũng có vị trí tương đương tuy ở trong những bối cảnh và điều kiện lịch sử, tầm vóc khác nhau… TMCS thấy rằng giữa hai nền văn học nghệ thuật và những nhà văn, nhà thơ  LX, Vn thuộc thế kỉ trước (bao gồm cả THT, PQ) ngoài những đặc điểm riêng biệt cũng có những nét tương đồng rất cơ bản: đó là tất cả đều vì sự nghiệp cách mạng  và bảo vệ Tổ quốc rất cao cả, rất thiêng liêng mà những nhà văn, nhà thơ hai nước tuy  cách xa nhau ngàn vạn dặm, không hẹn mà nên, họ  đã trở thành đồng nghiệp, đồng chí của nhau, cùng tham gia CM rất tự giác , tự nguyện với tất cả nhiệt tình và khả năng của mình…TMCS có cảm nhận rằng họ đã làm công việc sáng tác của mình rất tự nhiên như vẫn từng giây, từng phút hít thở khí trời để sống…Đấy chính là lí tưởng rất cao rất đẹp của những thế hệ nghệ sĩ CM hai nước trong thời đại của mình…Hình như ở VN, chúng ta đã kịp thời hoặc hơi sớm nói đến “lớp cầu thủ vàng” của bóng đá mà còn khiêm tốn, ít tự nói về lớp văn nghệ sĩ của thời CM và KC…(Có nhẽ TMCS đã khập khiễng chăng?)

Là một thường dân VN sống xa quê hương trong lúc tuổi cao, TMCS tự cho mình quyền được ngẩng cao đầu nhìn khắp thế giới để rất tự hào về dòng văn học CM-KC của đất nước với những thi tài, văn tài bình dị, khiêm tốn đã lặng lẽ quên mình, nhiệt tình đóng góp vào thắng lợi lịch sử vô cùng lớn lao của dân tộc. Họ không hề ồn ào, khua chuông gõ mõ, nhưng tiếng vang của những tác phẩm của họ còn mãi trong lòng người đọc Vn và bè bạn thế giới….

Sống thanh thản, không bon chen…giữa đô thị phồn hoa ….THT vẫn giữ nếp quê xứ Nghệ, và sẵn sàng vì sự nghiệp chung làm tất cả mọi việc không một chút nề hà, đắn đo, lưỡng lự…Đó chính là tấm gương sáng cho nhiều thế hệ nhà văn- nhà thơ noi theo… 

Những tác phẩm của THT trên nhiều phương diện, dù đạt tầm vóc nghệ thuật khác nhau , nhưng theo TMCS đều phản ánh cái TÂM trong sáng tuyệt vời của một người dân xứ Nghệ tài hoa, yêu dân, yêu nước , yêu đời…TTTB@ – TMCS vô cùng vinh dự được giới thiệu thơ ông cũng các bản dịch với bạn đọc năm châu, bốn biển…

                                                       X

TTTB@ kì này giới thiệu tiếp  Thăm lúa  và các bản dịch. Các phần khác như thường lệ.

Kính thỉnh nhã giám

  TTTB@-TMCS

THĂM LÚA
Thơ Trần Hữu Thung
 
Dịch:
TMCS: Anh – Hán
Trịnh Phúc Nguyên : Pháp
Phan Hoàng Mạnh : Pháp
 

THĂM LÚA 

Trần Hữu Thung (1923-1999)      

Mặt trời càng lên tỏ            

Bông lúa chín thêm vàng   

Sương treo đầu ngọn gió  

Sương lại càng long lanh.

Bay vút tận trời xanh      

Chiền chiện cao cùng hót

Tiếng chim nghe thánh thót

Văng vẳng khắp cánh đồng 

Đứng chống cuốc em trông 

Em thấy lòng khấp khởi  

Bởi vì em nhớ lại        

Một buổi sớm mai ri   

Anh tình nguyện ra đi  

Chiền chiện cao cùng hót  

Lúa cũng vừa sẫm hột  

Em tiễn anh lên đường 

Chiếc xắc mây anh mang  

Em nách mo cơm nếp  

Lúa níu anh trật dép     

Anh cúi sửa vội vàng 

Vượt cánh đồng tắt ngang 

Đến bờ ni anh bảo  

“Ruộng mình quên cày xáo 

Nên lúa chín không đều  

Nhớ lấy để mùa sau  

Nhà cố làm cho tốt” 

Xa xa nghe tiếng hát  

Anh thấy rộn trong lòng 

Sắp đến chỗ người đông 

Anh bảo em ngoái lại 

Cam ba lần ra trái   

Bưởi ba lần ra hoa 

Anh bước chân đi ra 

Từ ngày đầu phòng ngự  

Bước qua kì cầm cự  

Anh có gửi lời về     

Cầm thư anh mân mê 

Bụng em giừ phấp phới 

Anh đang mùa thắng lợi 

Lúa em cũng chín rồi     

Lúa tốt lắm anh ơi        

Giải thi đua em giật      

 
Anh:
 
 

VISIT THE RICE-FIELD

Poem by Trần Hữu Thung – Translation by TMCS

The sun rose up higher and higher

The yellow of ripening rice ears became darker and darker.

Swinging in the wind,

The dew became more and more sparkling.

The skylarks took their flight

And sang together in the high sky.

The large field was resounded

With their melodious songs being so nice.

Standing there, leaning on the hoe, I saw…

I was very happy

To recall everything

That happened that morning… 

As a volunteer you started away

In high tune, the skylarks were singing together.

In the field, our rice  colour became darker. 

When I saw you off,

You went with a rattan bag on shoulder.

On my arm –

A bag made of  spathe of areca palm

In which there was some glutinous rice.

From your foot slipped a sandal

By the rice plants.

You hastily wore it again.

Through the field

We took a short cut then.  

At the other end of the field , to me you talked:

“This year, to plough once again, we forgot…

So, rice could not be ripe at the same time 

Remember it, at home you’ll do your best

For the next harvest…”

Being excited by the singing from afar,

You told me: “You can go home now,

We are soon coming to the crowd…”

                     X

We spent three seasons of oranges

And three seasons of pomelo flowers.

You started away

On our resistance’s defensive stage* first days…

Now we are in the contending stage* of the war,

You sent me a letter,

Holding it carefully

I am too happy !

You are in the triumph season,

My rice is ripening,

The yield of rice is greater than usual,

I am rewarded in the emulation.
 
Hán- Phiên âm – Nghĩa (TMCS)
 
 

QUAN ĐẠO

(Trần Hữu Thung Thi- TMCS dịch)

Thái dương cánh  chiếu diệu     Mặt trời càng chiếu rọi

Thuỷ đạo cánh gia hoàng           Lúa càng thêm vàng

Sương lộ phong đầu động         Sương lay dộng đầu gió

Ảnh hình cánh thiểm quang       Hình bóng càng óng ánh

Bách linh điểu thướng thiên      Chiền chiện bay lên trời

Không bích khiếu liên miên       Trên không trung hót liên miên

Quần điểu du dương khiếu        Bày chim hót thánh thót

Âm thanh hưởng mãn điền        Tiếng vang khắp cánh đồng.

Ỷ sự thiếp quan khán                  Chống cuốc em đứng trông…

Tâm  trung cảm mãn hân            Lòng thiếp rộn niềm vui

Nhân hồi tưỏng quá khứ            Bởi vì em hồi tưởng

Vãng nhật nhất thanh thần         Ngày xưa một sớm mai

Quân tình nguyện thượng lộ     Anh tình nguyện lên đường

Bách điểu khiếu cao thanh        Chiền chiện cao giọng hót

Đạo lạp  tông hoàng sắc            Hạt lúa màu vàng nâu

Tống quân cha lưỡng hành       Tiễn anh, đôi ta cùng đi

 Quân đái nhất đằng nang          Anh mang một cái túi mây

Thiếp hiệp đái nhu mễ               Em kẹp theo cơm nếp

Đạo trung quân thoát hài          Anh tuột dép trong lúa

Mang mang quân cấp chỉnh      Anh vội vàng sửa

Tiểu lộ việt điền khai                  Băng đường tắt qua đồng

Tại thử biên quân viết:             Đầu bờ ruộng anh bảo :

Cha điền vị  đảo canh              Ruộng mình quên chưa cày xáo

Bất đồng thời đạo thục            Lúa không chín cùng lúc

 Kí trụ dĩ thi hành                      Em nhớ kĩ thực hành

Minh niên tố đắc hảo                Mùa năm sau làm được tốt

Ca thanh hưởng viễn xứ         Xa xa vang tiếng hát

Quân ý mãn hân hoan             Ý anh đầy niềm vui

Tướng tiếp cận quần chúng   Sắp đến gần đám đông

Phụng quân ngôn thiếp hoàn.Vâng lời anh em quay về

Tam thì cam kết quả                 Ba lần cam ra quả

Tam độ du khai hoa                  Ba kì bưởi nở hoa

Phòng ngự tự đầu nhật           Từ ngày đầu phòng ngự 

Quân đăng trình biệt gia.        Anh lên đường xa nhà

Đáo tương cự chiến cục         Đến giai đoạn cầm cự

Âm tấn kí do quân                   Có tin tức do anh gửi về

Thiếp thủ chấp quân tín         Tay em cầm thư anh

Hân hoan mãn thiếp tâm        Lòng em đầy vui mừng

Quân liên tục chiến thắng      Anh liên tiếp chiến thắng

Thục đạo mãn  cha điền         Lúa chín đầy ruộng nhà

Cực hảo cha môn đạo            Lúa nhà mình cực tốt

Thiếp tiêu đoạt thử niên         Năm nay em được giải thưởng

 
 
Chữ Hán  TMCS
 
 
觀稻 
陳有椿詩 – 相梅居士譯 
 
太陽更照耀 
水稻更加黃
霜露風頭動 
影形更閃光 
 
百靈鳥上天 
空碧叫連綿 
群鳥悠揚叫
音聲響滿田
 
依鋤妾觀看
心中感滿欣 
因回想過去
往日一清晨
 
君情願上路
百鳥叫高聲
稻粒棕黃色
送君咱倆行 
君戴一藤囊
 
妾挾戴糯米
稻中君脫鞋 
忙忙君急整
小路越田開 
 
在此邊君曰
咱田未倒耕
不同時稻熟 
記住以施行
明年做得好
 
歌聲響遠處
君意滿欣歡
將接近群眾
奉君言妾還 
 
三時柑結果
三度柚開花 
防御自頭日 
君登程別家
 
到相拒戰局 
音信寄由君 
妾手執君信 
欣歡滿妾心
 
君連續戰勝
熟稻滿咱田
極好咱們稻
妾標奪此年
 
Pháp : Trịnh Phúc Nguyên

VISITE DES RIZIERES

Le soleil se lève de plus en plus clairement,

Les épis de riz mur deviennent plus jaunes,

La rosée se suspend au bout du vent,

Et devient encore plus scintillante.

S’envolant bien haut vers le bleu firmament,

Les alouettes chantent en choeur.

Les cris d’oiseaux harmonieusement modulés,

Se résonnent de loin,par dessus les champs.

M’appuyant sur la pioche, je regarde,

En mon coeur, je me réjouis

De ce matin- là,

comme ce matin-ci,

Òu tu t’es volontairement parti

Les alouettes chantent en choeur en haut,

Les épis de riz commencent à murir.

Je te reconduis en route;

Tu portes un sac de rotin,

Je porte sous l’aisselle une spath de riz gluant.

Les plantes de riz retiennent tes sandales,

En hate tu t’inclines pour les remédier

.

Quand nous avons traversé un champ,

Tu m’as dit,nous avons oublié de bien labourer la terre,

C’est pourquoi le riz ne murit pas régulièrement;

Retiens cela, chérie,pour qu’à la saison prochaine,

Tu t’efforceras de bien labourer la terre.

De loin,parviennent des chants,

Tu te sens ému,

Bientôt nous nous approcherons

Du milieu plein de monde,

Tu me dis de retourner.

Trois fois déjà, les orangers ont donné des fruits,

Trois fois déjà, les pamplemoussiers ont fleuri,

Tu t’es déjà parti

dès au début de la période de”Défensive”,

A la période du”Maintien de la Résistance”

Tu nous as envoyé des mots,

Tout émue je tiens en main ta lettre,

En mon coeur,je me sens bien réconfortée.

Tu es dans la saison des victoires,

Mes plantes de riz déjà sont muries,

Oh! Notre riz est très beau,mon chéri,

Et j’ai recu un prix de compétition.

 
Pháp: Phan Hoàng Mạnh

        VISITE AUX RIZIÈRES

Le soleil se levant devient de plus en plus brillant,

Les épis de riz mûr deviennent de plus en plus dorés.

Des gouttes de rosée se suspendant devant le vent,

Deviennent de plus en plus scintillantes.

Volant bien haut dans le ciel bleu,

Des alouettes chantent en choeur.

Les voix d’oiseaux résonnent mélodieusement

Et remplissent tout le vaste champ.

M’appuyant sur la pioche, je contemple

Et me sens toute enthousiasmée dans le coeur. 

C’est que je me souviens

D’un certain matin semblable…

Où tu t’es enrôlé volontaire…

Ce matin-là, chantaient aussi les alouettes en haut.

Les grains de riz commençaient à peser dans les épis…

Je te reconduisis dans ton départ.

Tu portais ta malle de rotin,

Ja tenais en main le paquet de riz gluant.

Tes sandales étant retenues par les tiges de riz ,

Tu t’étais abaissé pour les réparer en hâte.

Ayant traversé la largeur du champ,

Tu m’as dit lorsque nous étions arrivés à cette diguette:

“Nous avons manqué le labour final de notre rizière,

C’est pourquoi le riz ne mûrit pas bien régulièrement.

Retiens-le bien ma chérie,  pour qu’à la saison future,

Tâche de mieux travailler la terre.”

De loin, parvenaient des chansons,

Tu te sentais tout émotionné.

Lorsque nous nous approchions de la place pleine de monde,

Tu me dis de retourner.

Les orangers ont trois fois donné des fruits,

Les pamplemoussiers ont trois fois fleuri.

Tu t’étais mis en route

Depuis le commencement de la période “Défense Passive”.

Au temps de l’époque “Maintien de la Résistance”,

Tu nous as envoyé des notes.

La main palpant ta lettre,

Je me sens maintenant toute réconfortée.

Tu es au sein de la saison victorieuse,

Mes rizières aussi sont déjà mûres.

Notre riz est très beau, mon chéri,

Et j’ai reçu un pris de compétition.

PHỤ TRƯƠNG TTTB@ No153

                               TMCS

TRUYỆN DÍ DỦM

IT’S DUE TO THE COMMAS…

(Gleaned – Translated into Eng. by TMCS)

A father wanted his new born baby to become a famous poet, so used Virgile – the name of a great Rome poet – for his baby’s name. But unfortunately, because of his emotion, the word Virgile was written into “Virgule” (comma).

Virgule didn’t become a poet, but only a simple clerk of a post office. He fell in love with his young neighbour, Sophie by name, but she always thought of another young man …

One day, Sophie came to the post office to send a telegraph to a young man that she loved but he never paid attention to her…

She met with Virgule and told Virgule: “I would like to send a telegraph…”. Virgule told her :”please, read to me…”

She read : “I love you”comma” when will you tell me “  I love you” “comma” I’m waiting for your answer…”.

Of course, Virgule was very happy, because to his thinking, his neighbour’s telegraph said :

“I love you- Virgule- When will you tell me “I love you”? Virgule ! – I’m waiting for your answer …“.

Virgule fell in love with Sophie and asked for her hand…

So they soon married and led a happy life…

TMCS comment:

Happiness sometime comes unexpectedly !

NHỜ CÓ DẤU PHẢY

(TMCS sưu tầm từ Truyện cười của HL,  chỉnh biên, rút gọn và dịch ra Anh ngữ)

Một ông bố mong rằng đứa con mới sinh ra của mình sẽ trở thành một thi sĩ nổi tiếng, bởi vậy ông đã lấy tên Virgile của một nhà thơ La mã nổi tiếng đặt cho con. Nhưng chẳng may do xúc động ông đã viết nhầm Virgile thành Virgule (dấu phảy).

Virgule đã không trở thành một thi sĩ mà là một nhân viên bưu điện bình thường. Anh ta phải lòng một cô hàng xóm, tên là Sophie, nhưng cô này lại chỉ đang tơ tưởng đến một chàng trai khác …

Một hôm, Sophie đến bưu điện để gửi  một bức điện  cho chàng trai mà cô ta yêu nhưng gã không hề để ý đến cô…

Cô ta đã gặp Virgule và bảo anh ta: Tôi muốn gửi một bức điện…

Virgule đáp: Xin cô vui lòng đọc để tôi ghi…

Sophie đọc : “ Em yêu anh dấu phảy khi nào anh sẽ nói với em anh yêu em dấu phẩy Em chờ anh trả lời…”

Tất nhiên Virgule đã trả lời ngay lập tức, bởi vì anh ta hiểu nội dung bức điện như sau:

Em yêu anh- Virgule ! Khi nào anh sẽ nói với em “ Anh yêu em”- Virgule ? Em chờ anh trả lời.

Virgule liền yêu  và cầu hôn Sophie…

Chẳng bao lâu…họ cưới nhau và sống một cuộc đời hạnh phúc.

TMCS bình:

       Đôi khi hơn cả trong mơ

Chuyện trăm năm đã bất ngờ xảy ra…

ĐỐ VUI (TMCS)

Kì trước:

Pourquoi les livres de mathématiques sont toujours tristes?

Ré: Parce qu’ils ont  des problèmes.

Kì này:

Quel mot courant a une seule consonne, et cinq voyelles toutes différentes ?

VIDEO (SƯU TẦM TRÊN MẠNG) & VÈ (TỰ BIÊN-TỰ DIỄN) 

(TMCS)

Không ngờ câu chuyện TTTB@ bỏ lửng trong kì trước sau bài thơ của Thôi Hộ mà TMCS bụng bảo dạ: “để dự trữ khi nào bí mới lục ra”, lại được nhiều bạn đọc trong ngoài nước phản hồi: “sốt ruột lắm, đề nghị TMCS kể luôn…”.

Thế là :

                            Vâng, xin lĩnh ý kể ngay !

                  Quả tu kiếp trước, kiếp này được trao:

                         Chuyện quê góp nhặt tào lao,

                  Được nhiều bạn “thích”*, vui nào vui hơn !

                         Còn giời, còn nước, còn non,

                 Còn nhiều bạn đọc thì còn luyên thuyên…

* Thích = like (thuật ngữ  trên “mạng”, với TMCS hàm ý chính  chỉ là OK !)

Quanh bài thơ Đề đô thành nam trang của Thôi Hộ có nhiều dị bản ( đã giới thiệu) mà cả kết cục cũng rẽ theo hai ba ngả khác nhau, sai đúng khôn lường…

Phổ cập hơn cả và còn lưu trong văn bản thư viện bên Tàu là giai thoại của Phùng Mộng Long, xin lược kể vắn tắt như sau: 

Thôi Hộ (TH) trên đường du xuân ghé vào một nhà trong thôn trang phía nam kinh đô xin nước uống,  bất ngờ gặp được cô gái xinh đẹp có đôi má ửng  thắm cả sắc hoa đào, nhưng tới năm sau TH quay lại thì  nhằm đúng lúc nàng đang lâm chung vì tương tư chàng- chàng đau thương, than khóc thảm thiết…Chợt nàng hồi sinh và cha nàng đã gả nàng cho Thôi Hộ… Họ đã đẹp đôi, bách niên giai lão, tràn ngập hạnh phúc gia đình…

Hồi TMCS còn “bôn ba” khắp đông tây nam bắc xứ Tàu, thường la cà vào các quán  “bụi” nghe các nghệ nhân Tàu ngâm bài thơ trên và kể  câu chuyện này dưới nhiều dạng nghệ thuật dân gian tương tự như vè, sẩm…bên ta, đôi khi có cả ca nương xinh đẹp phụ hoạ và đàn phách réo rắt đệm theo. TMCS thường gọi một ấm trà Long Tỉnh kèm đĩa hạt dẻ…ngồi “vắt chân chữ ngũ”, nhâm nhi, tí tách  dỏng tai nghe, tuy đã quá biết cốt chuyện vì nghe kể đi kể lại vô số lần, nhưng TMCS vẫn khoái được chia vui với đám thính giả bình dân và nhất là được học thêm rất nhiều tiếng Tàu phương ngữ trên đất nước bao la bát ngát, dân đông như bày ong lũ kiến, đến mức tịnh không ai biết nổi TMCS chẳng phải dân “khựa” như họ! Tất nhiên trong bối cảnh đó, TMCS phải ăn, mặc, nói năng…nhất nhất bắt chước như một người dân bản địa thực thụ chứ không ngất ngưởng “com lê- cà vạt” như khi đứng trên khán đài VIP Thiên an môn – Pekin, “xem” những cuộc diễu hành, duyệt binh quốc khánh nước Tàu “kéo” lê thê từ sáng đến quá trưa, chân mỏi nhừ , tay vẫy vẫy lọt thỏm giữa đám thành viên tứ chiếng của các đoàn báo chí, văn công, văn nghệ, các hội Hữu nghị các nước… được mời dự lễ với tư cách bạn bè  thuộc lớp “bình dân” nhất- chả có chức sắc gì ngoài cái “mác” thống nhất “đ/c Bạn !”- mục đích chính của BTC chắc là nhằm “trang trí”, lấp cho kín lễ đài quá “khùng”…- Đó là thời nước CHND T.Hoa vừa mới thành lập, đang độ tuổi nhà trẻ – mẫu giáo, thế giới còn chưa biết mấy…chứ sau này khi họ “trưởng thành”, đủ cánh thừa lông rồi, thì chỉ thấy mời toàn … quan to…Khách khứa, “đồng chí Bạn” cũng phải thuộc hàng  quan to, không phải quan to , đương nhiên là ra dìa, vì tấc đất tấc vàng của chỗ đứng ấy dù chỉ trong khoảnh khắc cũng là rất có hạn… 

“Dân vạn đại”, TMCS luôn có mặt trong các hàng quán mỗi khi đến Tàu để nghe đám nghệ nhân Tàu kể đi kể lại các tích chuyện Tàu lưu truyền muôn thuở qua không biết bao nhiêu triều đại…Thời gian là cái “sàng” rất tốt…cái gì còn lại ít nhiều đều có giá trị cả…Tuy chả dư dật, nhưng TMCS khá hào phóng mỗi dịp thưởng thức văn nghệ dân gian Tàu…chả thế mà mấy vị nam nữ nghệ nhân khiếm thị, mỗi lần nhận ra TMCS qua giọng nói đã buông đàn xuống, ôm choàng lấy TMCS mà rưng rưng: “ Đa tạ …tiên sinh tái hạ cố…!” …

Về sự tích bài thơ TH có nhiều dị bản, đến bây giờ đã chìm nổi lênh đênh với nhiều trải nghiệm lộn xộn buồn vui, TMCS xin chia ra hai luồng chính:

Luồng “bác học”- tham khảo bài viết của nhiều danh sĩ cận đại Tàu như các vị Lỗ Tấn, Lão Xá, Đinh Linh…:Theo các vị này, kết cục có “hậu” của văn sĩ họ Phùng chỉ là hư cấu, cho hợp mong muốn của người đời !

Luồng dân gian- Các bình luận viên vỉa hè – lối xóm cứ có “hậu” là thích. Theo các vị này: trên đời đã “thừa” chuỵên buồn, hà cớ lại còn bày thêm chuyện buồn trong văn chương nữa!  Bởi vậy, họ lấy làm mừng cho TH và cô gái trong bài thơ, tuy thực lòng, họ cũng thấy khó tin…

Luồng dân gian này cho là cả nước Tàu có một bi tình sử Lương Sơn Bá (梁山伯) – Chúc Anh Đài (祝英台) đã là nỗi buồn đủ san sẻ cho cả tỉ dân, nên muốn tránh chuyện  bi ai… TMCS còn nghe nói, sau khi thấy Truyện Kiều của ND của VN được UNESCO công nhận là di sản văn hoá nhân loại, người Tàu cũng “đua đòi” đệ trình sự tích Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài lên UNESCO, nhưng nghe nói chưa “đi đến đâu”, nhiều việc khác cần hơn , nên TMCS cũng không theo rõi được, chả biết “hạ hồi phân giải “thế nào…Hình như vẫn “im ỉm ìm im”…chìm vào dĩ vãng….

Ý riêng của TMCS về thi thoại TH :

Chả nên hư cấu – chỉ cần biết đến hai câu cuối

“Nhân diện bất tri hà xứ khứ, Đào hoa ý cựu tiếu đông phong” …coi như “ chấm hết” cả chuyện thơ, chuyện đời, mà TMCS đã dịch là:

     

       Đào đang cười với gió đông

Y như năm trước mà không bóng người… (xem phần dưới)

Người đọc sẽ bâng khuâng và lâng lâng với nét đẹp quạnh hiu của vang bóng năm xưa! thế mới hay và thế mới thơ…

Đến đây xin kính tặng quý độc giả các bản dịch bài này ra thơ Việt, Anh và Pháp theo cảm nhận và cung cách  RIÊNG  của TMCS : Người và hoa ánh hồng lẫn nhau – nhiều dịch giả lừng danh trong ngoài nước khi dịch bài này ra thơ Việt và thơ các thứ tiếng Tây đã bỏ sót ý quan trọng hồng lẫn nhau (tương ánh hồng : 映紅) làm giảm đi vẻ đẹp của sắc hồng trên gương mặt cô gái- không thể chỉ dịch là cùng hồng , đều hồng hay ửng hồng mà rứt khoát phải có ý lẫn nhau -và ở bản Việt: đảo hai câu cuối để nhấn vào ý  quạnh hiu, hẫng hụt của chàng trai TH khi quay lại tìm cố nhân mà tịnh không bóng ai ! Xin kèm video có hình ảnh và giọng ngâm Hoa ngữ trong giai điệu ngũ cung trên đàn tam thập lục của cố Gs Trần văn Khê mà theo cảm nhận của TMCS có lẽ  cũng cực hiếm nghệ sĩ Tàu ngâm được như Gs (dường như  là Gs đã không ngâm mà hát theo điệu Bình báng nhưng bằng tiếng Hoa  – TMCS không dám chắc vì nghe chưa rõ lắm…) :

題都城南莊 

崔護

去年今日此門中,

人面桃花相映紅;

人面不知何處去,

桃花依舊笑東風.

Phiên âm (TMCS)

ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ 

Đào hoa y cựu tiếu đông phong

Dịch nghĩa (TMCS)

ĐỀ THƠ Ở THÔN TRANG PHÍA NAM KINH THÀNH

Năm ngoái, ngày này, trong cổng này,

Mặt người và hoa đào ánh hồng lẫn nhau.

Không biết người đi đâu

Hoa đào vẫn cười với gió đông như xưa.

Dịch thơ (TMCS)

ĐỀ THƠ Ở THÔN TRANG PHÍA NAM KINH THÀNH

(Thơ Thôi Hộ- TMCS dịch)

Ngày này, năm ngoái, cổng đây

Ánh nhau người với đào  hây hây hồng.

Đào đang cười với gió đông,

Y như năm cũ mà không bóng người.

Pháp (TMCS)

 

ÉCRIT AU VILLAGE DU SUD DE LA CAPITALE

(Traduction de TMCS)

Dans cette porte, ce jour-là de l’année passée

La face d’une jeune fille et les fleurs du pêcher 

Ont  reflété leur rouge mutuellement.

Maintenant,  on ne sait pas où est la fille,

Les fleurs du pêcher, comme l’antan, 

Sourient encore à la brise de l’orient

Anh (TMCS)

WRITING IN A VILLAGE AT THE SOUTH OF THE CAPITAL

(Translation by TMCS)

In this doorway, on the same  day of last year

The young girl’s cheeks 

And the flowers of this peach tree

Reflected their  red mutually.

Now,  they don’t know where the girl is,

Peach flowers, as in last year,

Are smiling  at the eastern breeze

20140129 GS Trần Văn Khê – Tác phẩm của Thôi Hộ – YouTube

 
Nháy chuột sẽ xem được Video.
 

https://www.youtube.com/watch?v=SYzobkR6eMk

Jun 28, 2015 – Uploaded by Viện Thẩm Mỹ Lê Hành

Cố GS Trần Văn Khê với Cố Huynh Trưởng GĐPT Nguyễn Ngọc Hải trong bài Tình Ca của Cố NS Phạm Duy! – D

VT;

TMCS chợt nhớ đến hồi lang bạt kì hồ ở trời Âu, cũng từng nghe ý kiến các bạn tây đầm bàn về cái hay của “bi kịch”:

Nhiều người Âu thích chuyện tình buồn trong kịch của Sếch-pia. Họ cho rằng nếu để các vở Rô-mê-ô  Giu-li-ét hay Ô-ten-lô kết thúc có hậu thì chả còn gì để xem !

Ngược lại, với truyện Đông-ki-sốt, đa số dân Tây lại thích kết luận “ hợp tình- hợp lí “ của nhà vua để đôi trẻ được vẹn toàn bên Hiếu bên Tình sau bao sóng gió ! 

Bỗng TMCS chợt nhớ tới thời giữa thế kì trước, mỗi dịp “được” đi LX  bằng tàu hoả từ Hà nội qua Pekin , xuyên Xi-bê-ri tới Ma-xcơ- va (và ngược lại), trên “tàu liên vận quốc tế” luôn luôn vang vang giọng hát “ Hà nội- Bắc kinh- Mạc tư khoa” xao xuyến lòng người…Cái thời tình quốc tế vô sản gắn liền với tình yêu nước của cả người LX, TQ và VN, việc đầu tiên của TMCS mỗi khi đến LX là vào lăng viếng Lê Nin và cả Stalin ( thời tiền Khơ-rút-xốp)…Trước khi có những giây phút rưng rưng khó tả  trước di hài hai vị, là đằng đẵng cả hơn chục ngày đêm xình xịch tàu hoả, TMCS thường mang theo các sách Tàu và Nga để đọc, chỗ nào lơ mơ thì chả cần tra từ điển mà hỏi ngay các “đ/c Bạn Nga” phục vụ trên tàu, họ nhiệt tình và say sưa giải thích như được làm thày giáo , cô giáo cho một lữ khách “mê tiếng Nga- ngôn ngữ của Lê-nin” như TMCS hằng được dạy dỗ… Trong đó có truyện ngắn về Tình yêu của đại THI HÀO Nga Pu-skin .. Trước đó, TMCS chỉ chú ý đến thơ Tình Pu-skin , nhưng không ngờ các chuyện Tình (truyện ngắn – văn xuôi) của Pu-skin đọc trên tàu hoả của Nga lại say lòng người đến thế…Lúc đó, với tình yêu Nga và nói chung bao trùm cả LX, TMCS đã đánh giá  “ Truyện ngắn về tình yêu trai gái  của người Nga là hay Đệ nhất thế giới … ”.

Vì nhiều  truyện Nga có vui, có buồn mà đa số kết thúc vẫn…rất lãng mạn và ” có hậu”.

Thí dụ – truỵện Bão tuyết kể rằng:

Tóm tắt…

Đó là câu chuyện kể về nàng Maria tuổi 17 yêu kiều. Vẻ thanh tao của nàng khiến các chàng trai đắm đuối. Nhưng nàng chỉ yêu chàng lính kéo cờ Vladimir. Và Vladimir cũng yêu nàng thắm thiết. Đôi uyên ương gặp sự ngăn cản từ gia đình Maria, và cuối cùng hai người quyết định bí mật tổ chức hôn lễ tại một nhà thờ. Đến ngày hẹn, bão tuyết điên cuồng, Vladimir đã lạc đường, không đến được nơi hẹn. Còn Maria vẫn đến được nhà thờ kia, nhưng nàng đã ngất xỉu. Cũng trong cơn bão tuyết đó, một chàng trai khác, Burmin, đã tình cờ lạc tới  nhà thờ đó. Vì sự nhầm lẫn, linh mục đã tổ chức hôn lễ cho Burmin và Maria. Hôn lễ xong, Maria tỉnh dậy, và thét lên rằng Burmin không phải là chàng Vladimir. Burmin bỏ đi, còn Maria quay trở về nhà với nỗi u sầu, tương tư. Cha mẹ Maria thấy vậy, đã đồng ý cho con gái mình cưới Vladimir, và họ đã gửi thư thỉnh cầu đến Vladimir. Nhưng rồi, phúc đáp lại là sự khước từ của Vladimir , sau đó Vladimir đã ra trận và hy sinh… 

Một ngày kia, tình cờ Burmin gặp lại Maria…sau khi chiến tranh kết thúc với  quân hàm đại tá  và một vết thương trong chiến tranh…Những ngày đầu, họ chẳng hề biết nhau là ai….

Khi đó gia đình nàng Maria đã dọn đến nơi ở mới để khỏi tiếp xúc với kỉ niệm buồn ngày xưa… Đại tá Burmin tình cờ đến trọ nhờ nhà Maria trên đường về quê.…Nhưng rồi chàng cứ nấn ná, dường như lửa đã gần rơm…Một hôm, Burmin buồn bã tâm sự với Maria rằng mình đã làm hôn lễ trong nhà thờ sau một trận bão tuyết, cha cố đã làm lễ  nên chàng không thể  tái hôn…Nghe chàng kể lể mọi tình tiết, Maria oà lên : Những gì em mất trong cơn bão tuyết thì trận bão đời đã đem lại anh cho em

Maria thuật lại đầu đuôi chuyện này với mẹ mình, rồi đôi trẻ quỳ xuống…Thế là mẹ Maria sung sướng, tíu tít lo mọi việc cho đại tá Burmin và nàng Maria nên vợ nên chồng… 
 
(Còn nhớ khi ấy, gấp cuốn truyện Nga lại, với TMCS bằng mớ  tiếng Nga  “cà cộ” trong đầu, vỡ được ra cái nội dung vừa li kì vừa lãng mạn lại rất có “hậu”như vừa lược kể, quả là một chiến tích, một kì công…TMCS vui sướng đến ngây ngô, ngớ ngẩn… còn đem  câu chuyện vừa đọc này khoe với cả mấy vị hành khách và nhân viên nam nữ trên tàu liên vận toàn là…Nga ! Tất nhiên họ đã đọc từ “tám hoánh” rồi, nhưng ai ai cũng xiết chặt tay, ôm hôn, chúc mừng,… chia vui với “phát hiện” của TMCS ! Ôi, mối tình quốc tế vô sản lúc bấy giờ thật ngây thơ và trong veo, cả TA và cả BẠN…Nó còn được kéo dài qua nhiều năm tháng, rộn ràng, tưng bừng, và thắm thiết, cao trào đỉnh điểm  nhất…  có nhẽ là vào tháng hữu nghị Việt  Trung Xô tổ chức ở cả ba nước…Ba dân tộc mà cứ như ba anh em ruột thịt một nhà, trong những ngày băng giá, quây quần quanh ngọn lửa hồng ấm áp tình quốc tế trong veo, hơn cả pha lê thượng hảo hạng…Không có gì khác , ngoài yêu thương và tin cậy lẫn nhau, gửi gắm tất cả cho nhau !!!…Ôi! chàng trai TMCS – như một chú “gà tồ” thường “ngẩn tò te” vì được dạy dỗ quá kĩ lưỡng- lúc đó “ôm chặt” niềm tin sấm sét ở hai tiếng Hữu Nghị đồng nghĩa với muôn đời muôn kiếp gắn bó nhau, không va chạm, không xung đột…Bây giờ nhớ lại, suy ngẫm, TMCS nghĩ mãi không ra: các  cảm giác trên phải dùng từ gì để diễn đạt cho…thoả đáng, đúng đắn…Khó quá ! khi phần nào trải đời, nhìn lại mình xưa xửa xừa xưa…nửa thương mình, nửa giận đời… (…bỗng dưng chợt nhớ câu của cụ Tú Xương: Cha mẹ thói đời … Có nhẽ ngụ ý rằng : Damn the … ways of this world, Tha ma để, nhân tình thế thái…他媽的,人情世態… nhưng hình như vẫn còn là “quá” nhẹ nhàng so với tiếng mẹ đẻ VN ! Nhất là với cái tội nói leo lẻo một đàng, làm quàng làm xiên một nẻo, định đi cướp đất, cướp biển của hầu như ba bề bốn bên hàng xóm rồi bị đánh nhừ tử, bò lê kéo càng, hoặc trốn bặt không dám vác mặt mo ra hầu toà quốc tế …thì “cái thói đời….”ấy đáng trừng trị trời chu đất diệt, chứ không chỉ rủa bằng mấy câu “lịch sự” mượn của cụ Tú…)
… Có vẻ như thời ấy, người Nga chăm đọc sách hơn – kể cả ở nơi công cộng: trên tàu xe, trong công viên…, nên rất thông cảm, tâm đầu ý hợp với những ai cùng sở thích, chứ không tất bật như dân Nga hồi đầu thế kỉ 21 mà TMCS có dịp tiếp xúc. May mà trên quê hương CM tháng 10 vẫn còn đông đảo lớp người “cũ” để duy trì “gien” quý  bôn-sê-vích một thời… Mắt thấy , tai nghe…khi TMCS có dịp tìm về bạn cũ, thăm lại chốn xưa ở Mátxcơva và cả ở Len…gặp mấy ông, bà bạn già Nga,  đã lụ khụ nhăn nheo cả. Họ và TMCS, cầm tay nhau, vỗ lưng nhau, nhìn vào đáy mắt, đáy lòng nhau…tất cả, đều rưng rưng mắt cay, lệ ứa…vẫn gọi  nhau bắng từ ĐỒNG CHÍ chan hoà, thân thiết, yêu thương!… và thầm thì: Ôi,  Ngày Xưa, bao giờ lại được như thế…Niềm Hi vọng còn đây…)

Niềm rung động chân thành và sâu sắc tột độ theo kết cấu truyện của Puskin với giọng văn Nga êm êm, đằm thắm trong loạt truyện ngắn : Con đầm pích, Cô tiểu thư nông dân, Phát súng, Bão tuyết…đã khơi sâu thêm tình yêu nước Nga, người Nga một thời, khiến TMCS với cái vốn Nga ngữ “cà cộ” khi ấy, cứ ngỡ như toàn là chuyện có thật, xảy ra đâu đó quanh mình…Và tất cả khiến cho TMCS có cảm giác: xét về  tính nhân văn thì chả có tác phẩm nước nào hoàn hảo hơn văn thơ Nga. Đó có thể là một cảm nhận phiến diện, cần nhìn nhận  lại, nhưng quả là có một thời như vậy…Ấy cũng là cái thời mà cả người Việt nam và công dân Xô viết, hầu như ai ai cũng “rứa” cả, chả thế mà Công- xtăng-tin Xi-mô-nốp đã viết cho Tố Hữu sau khi biết bản dịch : Жди меня (Hãy đợi anh)  của ông đã được TH dịch ra thơ Việt “Đợi anh về”:

                                     …Nơi đây tôi biết thơ tôi

                           Muôn sau sống mãi trong lời thơ anh…

                                                     Thơ  Ximô-nốp— NX Sanh dịch

Hèn chi…đến Xi-mô-nốp còn …”lướt khướt” thế, huống hồ… ấu trĩ  và ngây thơ (kiêm cả ngây ngô) như TMCS thời đó, chả “phải lòng” văn thơ Nga và nhân dân Nga ! 

Tất nhiên không thể đem mấy câu thơ Thôi Hộ so sánh với truyện ngắn Pu-skin, vì đó là hai lãnh vực hoàn toàn khác nhau ví như không thể đem trọng lượng (tính bằng Kg) so sánh với độ dài (tính bằng Km)…

Tất nhiên TMCS mang ơn cả Puskin, Thôi Hộ … cũng như nhiều nhà văn, nhà thơ khác, nhờ họ mà TMCS đã võ vẽ ít nhiều về ngoại ngữ để đến tận hôm nay còn tập toạng đọc báo, xem TV, coi bóng đá ngoại hạng Anh, Pháp…đôi khi nín cười mỗi lần nghe “thủng” được lời lẽ các chính khách cỡ bự, chí choé tranh cử tổng thống ở Mỹ, ở Pháp… bới móc nhau như  dân “anh chị đường phố”, mới đây còn nghe “khớ” rõ tiếng Nga của Ngài Tổng thống Puskin – ( hình như vẻ ngoài vẫn “đôi lúc” ở Ngài còn phảng phất, mơ hồ thấp thoáng tí chút bóng dáng phong thái từ thời “đồng chí” – tavarits xửa xưa -товарищ) – sau khi đắc cử trịnh trọng tuyên thệ nhậm chức…v.v…và…v.v… Chỉ dám tào lao đến thế là cùng, chứ TMCS chưa bao giờ dám dịch cả một bài thơ Việt ra thơ Nga như dịch giả N. Chân ( mà chỉ dám cá biệt xí xố đôi câu khi ngẫu hứng ngồi “róc rách” với mấy bạn Nga), đôi lúc ti toe dịch thơ Việt ra thơ Pháp về lâu dài cũng còn phải dựa dẫm nhiều vào các dịch giả lão thành cỡ TP Nguyên, PH Mạnh…để được chỉ bảo thêm…

Ối chao ôi là  ôi  chao !

Có mỗi câu tỏ mỏ – tò mò bằng cái móng tay của bạn đọc mà TMCS đã lan man – liên miên  làm mấy cuộc mộng du trên đường thiên lí, lò dò về quá khứ để tìm câu giải đáp…Tìm mãi mà chả đâu vào đâu…Toan xoá đi tất cả, nhưng đến hẹn rồi, TTTB@ đang dục bài…quý vị thông cảm đọc tạm vậy…Vốn nghèo của TMCS chỉ có vậy, biết làm sao…

MỘNG DU (TMCS)

Chống gậy, đạp xe về quá khứ

Tìm lời giải đáp tận xa xưa

Gặp bao Chuyện đẹp và Tình đẹp

Phủ bụi thời gian, khuất nắng mưa…

Thôi, tới đây, TMCS xin thay anh “Virgule” -Dấu phảy – trong Truyện dí dủm bằng chú “Point final” – Chấm hết – vậy ! hẹn quý vị : Kì sau tái ngộ…

( Chuyện xưa xửa xừa xưa…chắc là TMCS nhớ lại có nhiều chỗ “vênh váo” so với nguyên đai-nguyên kiện, nhưng đại để là vậy, TMCS cũng thấy chả cần tra cứu mất công….nhớ đâu gõ đấy…vì bài  này gõ ra chủ yếu để quý vị tìm hiểu và thư giãn, chứ không phải dùng làm tư liệu nghiên cứu…)

           

        Mải  vui chót đã lạc đề, 
Đành ngưng câu chuyện cà kê chỗ này, 
       Rằng hay, quả thật “chửa” hay, 
   Xa xôi quê kệch quà này kính dâng… 
 
 

                                                              TMCS- May 2018.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?