HOA VƠI RƯỢU (tiếp theo và hết)

Bl(411) TTTB@ No102

HOA VÀ RƯỢU (Tiếp theo và hết)

DẠO ĐẦU TTTB@ No102
                    TMCS

THƯ GIÃN – LẠI CON SỐ VÀ CON SÔ…

Sau bài lan man về 8000 lễ hội/năm của người Việt, TTB@ không ngờ nhận được quá nhiêu phản hổi. Xin báo cáo ngay, để quý bạn đọc trong ngoài nước khỏi sốt ruột :

Đây là trường hợp nhất trí cao hiếm hoi, chưa từng có về một v/đ nêu ra trên TTTB@. 

100% bạn đọc  trong ngoài nước và cả bạn đọc nước ngoài  đã từng  hoặc chưa từng một lần chứng kiến  lễ hội  ở VN đều nhận định rằng TTTB@ đã đề cập chuyện này rất đúng đắn nhưng  chỉ có điều không kịp thời! Tại sao bao nhiêu năm nay đã “tiêu cực, lộn xộn, phản cảm…” đến mức ngoài sức tưởng tượng như vậy mà bây giờ mới nêu ra… Nhiều bạn nước ngoài và cả các bạn trẻ VN hải ngoại cứ tưởng đâu Lễ và Hội ở VN vẫn ít nhiều Thơ và Mộng như trong bài Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp mà TTTB@ đã hân hạnh giới thiệu hầu quý vị…

TMCS xin thay mặt TTTB@ ” vụng cả chèo lẫn chống “ biện bạch như sau :

Muộn còn hơn không ! ( Các bạn Tây  hay nói với TMCS :  Better late than never ).

Có còn hơn không ! tương đương : Something better than nothing. ( Có chút gì đó, tốt hơn chẳng có gì )

Các bạn Tây còn hay nói:
If you cannot have the best, make the best of what you have. 
Nghĩa là: Nếu bạn không thể có điều tốt nhất thì hãy làm tốt nhất điều mà bạn có thể  !

(Đại ý :      Nếu không có gì tốt hơn,
              Làm điều tốt nhất bạn còn khả thi ! )

Tất cả những gì TMCS đã làm là đúng như ba câu danh ngôn đông tây kim cổ trên đã dạy !

Cũng có một số ý kiến “lục vấn” rằng:

Viết như TMCS đã viết, liệu có được những “NHÀ” có trách nhiệm và chức quyền ngó đến không?

Sao không DÁM trực tiếp gửi đến những địa chỉ cụ thể, BIẾT CHẮC là thừa THẨM QUYỀN và KHẢ NĂNG g/q vấn đề ?

Xin thưa:

Cũng như trên phố xá và trong ngõ xóm, nhà có nhà to nhà nhỏ, nhà cao nhà thấp… Nhà CAO  và TO quá  khó trông xuống. nhưng NHÀ NHỎ và THẤP thì dù sao cũng gần “thảo dân” hơn. Họ sẽ nghe được ít ra là văng vẳng từ thẳm sâu đáy giếng  mấy tiếng “ì ộp” của “cụ nhái bén “ U90” này mà truyền tai nhau  tới mấy nhà NHÀ TO, NHÀ CAO… 

TMCS “bụng bảo dạ” hay là chờ sang năm, nhờ  cánh mấy danh hài cỡ Xuân Bắc, Công LÝ, Chí Trung, Quang Thắng, Quốc Khánh…đưa vào cái tiết mục “Gặp gỡ cuối năm”, trong đêm Giao thừa vừa “cù”cho khán giả cười vui vừa “nửa nạc nửa mỡ” đưa cái chuyện này  đặt vào miêng TÁO Văn Hoá  và Ngọc Hoàng để nhẹ nhàng “lăng xê” ý tưởng này lên Thiên Đình và hàng triệu khán giả VTV …

Nói vui thế chứ, hôm trước , TMCS xem VTV buổi Thời sự 19h đã thấy ông Bộ trưởng VPCP phát biểu : “Nếu Bộ trưởng bộ Văn hoá “khó”nói thì cứ b/c thẳng thắn để Thủ tướng nói… “. 

Té ra là chả biết từ nguồn nào, chắc na ná như TTTB@, Thiên đình đã được “đánh động” dù là còn có phần hơi khẽ khàng…

Tuy vậy TMCS vẫn ngẩn tò te, nghĩ mãi chưa ra : tại sao Bộ trưởng VH lại KHÓ NÓI nhỉ, thảo dân TMCS văn võ song “tồi” mà kí cách kì cạch còn GÕ được ngần ấy trang , post đi khắp năm châu bốn biển, lại được các cháu s/v tình nguyên hải ngoại dịch ra Ăng-lê ít nhiều có tiếng vang xa muôn vạn dặm, trong vài ba ngày có cả ngàn phản hồi, có khi còn được BIẾT ĐẾN nhiều hơn câu ông Bộ trưởng VPCP nói trên sóng VTV 1, VTV 3 hôm ấy, mà  khoảng cách từ Bộ trường VH đến TT lại “ Xa xôi” hơn cả câu thơ NB:

      “Nhà Em xa cách quá chừng,
EM van  ANH đấy  ANh ĐỪNG …yêu EM…” 

Cũng có tí vênh nhau trong các phản hồi:

Ấy là thiên hạ “sắc mắc” sao TMCS chỉ nói định tính giảm đi loại lễ hội này, tổ chức luân phiên loại lễ hội kia, bỏ hẳn đi vĩnh viễn loại lể hội vô nghĩa mà không đưa ra  định lượng  và lên danh sách từng loại ở từng địa phương… theo kiểu  “chỉ tận tay, day tận trán” !

ÔI, các ngành các ban…lại cả các NHÀ to đùng to đoàng, cao ngất  cao ngưởng, học hàm học vị, chức sắc  danh hiệu,… tùm lum, tá lả…  còn chả làm nổi lại bảo cái “xó lều” TTTB@ với lão TMCS lụ khụ lẩm cẩm thì hơi đâu mà gánh “đặng” ! Trong từ ngữ Vn có cụm “một túp lều tranh , hai trái tim vàng”, đấy là cái lều mới toanh cơ, đây ọp ẹp ngót thế kỉ rồi – nó trống rỗng huếch hoác, rệu rã lắm rồi…Chỉ một cơn gió nhẹ là… “THÔI RỒI, LƯỢM ƠI…”…sao mà KHAM nổi việc tày dình  !

Giờ phút này thì TMCS tin rằng, câu nói của Ông Bộ trưởng ( nói theo xã giao quốc tế thông dụng : Sir Minister – NGÀI Bộ trưởng, kiều “nội bộ phe ta” : Com. Minister – Đ/c Bộ trưởng) bộ VPCP đã đến tai Tứ trụ rồi. G/q ra sao thì có lẽ … “Hãy đợi đấy “! ( Посмотрим : tên một cuốn phim hoạ hình của LX cũ châm biếm một con cáo   tinh quái nhưng hay bị “hố” chiếu nhiều năm cùng thời Bông Hoa nhỏ buổi đầu của Ti vi đen trắng VN ). Mong chư vị hãy cùng TMCS kiên nhẫn chờ đợi và đợi chờ…Chả lẽ chuyện này khống có hồi kết hậu hĩnh sao ! Nhưng có thể đoan chắc là một số dân chúng và quan chức địa phương, nơi sở tại của những lễ hội có nội dung “nhếch nhác”, phản cảm” sẽ VÙNG LÊN phản ứng quyết liệt nếu bị “ĐỤNG CHẠM”, chưa  biết chừng còn xảy ra “khiếu kiện tập thể” cù nhầy, có thế mới làm SIR Bộ Trưởng VH phải đắn đo , chưa trình bày với TT CP ! Còn nhắc nhở nhẹ nhàng kiểu PHỦI BỤI (phất trần) thì 100% vẫn cứ  là 100% i xì như cũ !!! Quý vị nào còn  bán tín bán nghi, xin chờ hạ hồi phân giải sẽ rõ tức thì… Các thế lực THỦ CỰU, bàn lùi… sẽ cố thủ bằng  CHIÊU TRÒ : Chyện lễ hội không vội được đâu !!!

Có nhiều ý kiến nêu rõ là 8000 lễ hội năm là TO QUÁ, giảm đi cả trăm lần cũng còn nhiều. Giả dụ từ 8000 xuống 80, tức là rút gọn 100 lần, tính ra mỗi tỉnh vẫn còn hơn một lễ hội/năm ! Nước ta kể cả khi giàu cũng vẫn phải làm ăn chăm chỉ, chưa chi đã vung tay quá “cả đỉnh đầu” thì sao mà không tụt hậu thảm hại được ! Rứt khoát phải xoá bỏ kiểu tư duy thuần nông “tháng giêng là tháng ăn chơi”. 

(Ngớ ngẩn nhất là chiêu trò “Phát ấn đền Trần “: Đã có giám định khoa học nào về chiêc ấn ấy, thật ? giả ? niên đại ? nơi sản xuất? thời gian đã sử dụng trong cung vua…Rất có thể đây chỉ là một phiên bản chưa rõ nguồn gốc xuất xứ…Cho dù đã đúng 100% sao không đưa vào bảo tàng lịch sử để cả nước và khách quốc tế chiêm ngưỡng v.v… PHÚC LỚN sao không để cả nước, toàn dân và bè bạn quốc tế, nhân loại tiến bộ đã sát cánh nhau ủng hộ các cuộc đấu tranh của dân tộc ta cùng hưởng lại chỉ bo bo cho mấy vị thức thâu đêm xô đẩy, chen chúc nhau mà xin xỏ hưởng với nhau! Ở cõi linh thiêng, vua Trần  chứng kiến sự việc này chắc cũng thở dài ngán ngẩm, Tám thế kỉ trôi qua rồi mà sao con cháu các Ngài vẫn …?…thế !)

Thôi, xin quý bạn đọc vui lòng rộng lượng cho TMCS đánh lảng sang chuyện khác… (Chớ nên cùng nhau, tay trong tay tiến vào…ngõ CỤT! ) 
                                                           X

Kì trước TMCS định bụng sau nội dung “Tám ngàn cái lễ hội” sẽ đến “ Ba tỉ tám cái lít Bia”, nhưng nay vỡ mộng rồi ! Té ra v/đề liên miên lan man lắm:

Số liệu thống kê này lạc hậu rồi, có thể nhiều hơn thế nhiều ! Lại còn lắm thứ : bia lon, bia chai, bia nội, bia ngoại, bia chui, bia lậu, cả bia hơi “xăng mác” (ko rõ thương hiệu…)…

Đi đôi với Bia không thể không nói đến Rượu.
Đâu chỉ có rượu của các doanh nghiệp chính thức được cấp phép s/x, hoặc các loại rượu ngoại nhập khẩu chính quy tử tế. Có tài Thánh cũng không nắm hết được có bao nhiêu thứ rượu lậu ; Rượu nhập lậu và s/x lậu trong nước. Đã nhập lậu , s/x lậu ắt là có tiêu thụ lậu. Tiêu thụ lậu thì thiên biến vạn hoá : từ các cửa hàng lớn nhỏ, đôi khi chui cả vào siêu thị. Còn chợ búa, hàng quán trong phố xá, hang cùng ngõ hẻm, vỉa hè quán cóc thì có giăng thiên la địa vọng cũng chịu…khi mà cả người bán và kẻ mua đều dám chơi ú tim với c/b quản lí thị trường, cũng các cỡ chi cục chi mịch, phòng phành thuế má phường, quận, thôn . xóm…
Rượu lậu thì không ai biết đâu là thật, dỏm, nó lẫn lộn giữa rượu dân tự nấu để  “tự sản tự tiêu”, theo kiểu chưng cất truyền thống như hai chị em NHi (trong Hoa với rượu của NB) với các loại rượu kết hợp lậu với gian, pha tạp lộn xộn với cồn công nghiệp và vô số chất độc hại gọi là rượu bổ ngâm tẩm rắn rết, rễ cây, thuốc bắc, thuốc nam,…  hạ thổ, ngâm ao , ngâm giếng…Số người ngộ độc, cứu được hoặc không cứu được chắc là vô phương thống kê đầy đủ…

Ấy là chưa kể các thứ bệnh tật liên quan đến thứ đồ uống có men này …tàn phá sức khoẻ, gây tổn thất bao nhiêu cho xã hội và gia đình…

Có Rượu có Bia ắt liên quan đến đồ nhắm, món nhậu, đến đặc sản từ gia súc, gia cầm, đến thú rừng,  cá biển, sơn hào hải vị…

Chỉ riêng món “Tờ cây” (Cầy tơ) bảy món và món Tiểu hổ đã làm khốn khổ bao nhiêu nạn nhân ! Từ đây lại làm phát sinh ra Cẩu tặc và Miêu tặc chuyên đi bắt trộm Chó và Mèo với đủ mọi phương tiện mưu  và mẹo từ đánh bả, đặt bẫy, đến dùi cui điện cao thế, phi xe máy quăng thòng lọng bách phát bách trúng, lôi xềnh xệch con vật giãy giụa, chết đau chết đớn trên cả quãng đường dài…Ước chi có nhà Đài nào phục kính quay cảnh dã man này đưa lên TV để rúng động dư luận, lên án làm chùn tay bọn “sát cẩu” bất nhân cũng là góp phần thức tỉnh các bợm nhậu vô tư và vô tình … Bọn tặc này gây náo loạn và nhiều tên bị dân chúng đánh đến chết mà xem ra bọn còn lại đâu có sợ, cá biệt có nơi, có lúc chúng còn dám chống trả gây tử vong cho người muốn bảo về chó , mèo…  Các chủ lò giết mổ  Chó và Mèo thì chỉ cần lợi nhuận ! Quán  nhậu chỉ cần đủ hàng “phục vụ” khách nhậu ! Không ai cần biết nguồn gốc chó mèo được cung cấp từ đâu…
 
Trời không dung, đất không tha…tất tần tật… Quả là MỘT DÂY CHUYỀN TỘI ÁC !!!

Ai lui tới, ai là Thượng đế của các quán Cầy tơ, Tiểu hổ ?
Đủ mọi thứ : cán bộ, viên chức, công nhân viên, nhà kinh doanh, cả dân đề đóm, cờ bạc, anh chị xã hội đen…cứ cuối tháng là rủ nhau đi giải ĐEN…  Bọn này chả cần lên chùa DÂNG SAO Giải Hạn, cúng bái, kinh kệ lôi thôi, vào quán nhậu giải hạn say sưa khoái khẩu lại có cơ may thoát khỏi vận ĐEN , vào CẦU, trúng QUẢ…hết cầu này đến cầu khác, xong quả này tới quả kia… Đây là một kiểu LUÂN HỒI hiện đại chăng???

TMCS sực nhớ đến TAM LANG (1900-1986 tên thật Vũ Đình Chí), nhà văn chuyên về phóng sự nổi tiếng thời Pháp thuộc. Ông này viết phóng sự vào loại No 1 (nơm bờ oăn) thời đó ! Còn nhớ, TL viết phóng sự Tôi kéo xe ( 1932), ông ta làm phu xe thực sự, rạp lưng kéo từng cuốc xe, nghe đủ lời chửi bới, chèo kéo khách, tranh khách, cơm hàng cháo chợ thực sự như một cu li xe thứ thiệt…để mô tả hết sức đẩy đủ, trung thực về kiếp cu-li xe kéo !
Bây giờ chúng ta có Khoa báo chí, có cử nhân Tiến sĩ , Gs về ngành này , sao chả thấy ai làm phóng sự giỏi về bia, rượu, chó, mèo ? Ước gì có Nhà nào đó, quên mình là NHÀ, tạm bỏ đi làm phóng sự về Rượu và Bia vạch trần mọi thủ đoạn, mánh lới, tác hại rượu bia và các khâu nhậu nhẹt liên quan… thì ích quốc lợi dân biết mấy ! 

Chắc có ai đó sẽ lên tiếng :

Này TMCS, chớ quên người Nga nổi tiếng với Vodka, người Tiệp – Bia đen, người Pháp – vang Boọc đô (Bordeaux). người Đức -…Thôi, thôi…

Xin thưa: 

Ta học là học cái hay, chứ ko phải cái gì cũng học…Vodka, uống văn minh khác( mà chưa chắc đã hợp với đ/k mọi nước ) , uống say xỉn ôm gốc cây, cột điện nôn thốc nôn tháo để cảnh sát dìu cả hai vợ chồng lên xe cũi (xe có song sắt) chở về đồn , lập biên bản phạt…lại là chuyện khác ! (TMCS chứng kiến cảnh bi đát này ở Nga  không chỉ một lần). Ở Tiệp, ở Đức, ở Tàu , ở Nhật …đâu đâu cũng có hai mặt : thưởng thức bia, rượu văn minh, lịch sự và nốc vô tội vạ, bạo hành gia đình, tan cửa nát nhà, khuynh gia bại sản…lại là chuyện khác, đáng buồn là ngày càng lây lan…

Tai hoạ là ở chỗ  RANH GIỚI giữa chừng mức, văn minh với quá khẩu , bê tha chỉ lơ tơ mơ, lờ tờ mờ, nhỏ hơn cả sợi tóc. quá đà mãi  mà chưa tỉnh…thoát nạn lần này, còn VÔ Số lần khác…

Báo chí bên Tàu cũng phê phán cái tệ nạn Rượu và lễ hội Thịt chó, trong đó có câu: Hàng chục triệu, trăm triệu người say xỉn quanh năm mà bao nhiêu thế kỉ nay có thấy xuất hiện thêm được một Lý Bạch nào nữa đâu. 

Hỡi các bợm rượu hãy mau tỉnh ngộ, đừng nguỵ biện về “thánh tửu”, “tiên tửu” với “thi tửu”…nữa ! Kiểu giải trình này cũ hơn Trái đất rồi ! Chả thấy Thánh với Tiên đâu, nhưng Tục tửu thì nhan nhản…

Còn tai nạn giao thông: phân nửa là có liên quan đến bia và rượu !

ÔI ! ba tỉ tám lít bia, cộng với rượu nữa thì trên 5 tỉ là cái chắc và theo ước tính chưa có  cơ sở từ thủ đô Thịt chó – một thời Nhật tân còn được gọi là PHỐ 37 (HN có 36 phố phường , nên Nhật Tân được coi là Phố No 37) – tụ điểm của những ai cần giải ĐEN mỗi cuối tháng âm lịch, số Chó hiến tế cho các kì giải Đen  theo thống kê chưa đầy đủ trên các trang mạng là khoảng vài triệu con/ năm ! 

Với số người chết vì tai nạn GT khoảng trên chín nghìn người/năm thì chí ít liên quan đến bia rượu cũng khoảng bốn, năm nghìn mạng người /năm !

Gần đây, nạn  ngộ độc rượu đang tăng nhanh đột biến. Chỉ riêng một đám hiếu ở Lai châu đã có hàng chục người ngộ độc rượu (pha cồn công nghiệp) trong đó đã có 7 ca tử vong ! Có những vụ khủng bố, chết khoảng mươi người, người ta đã treo cờ rũ quốc tang, chả lẽ …để đến mức phải cờ rũ  vì…ngộ độc rượu sao ! SOS !!!

ÔI! Bia với Rượu, chả có nước nào Cấm  mà chả lẽ VN mình lại Cấm, lí do: uống  “vừa phải” lại có khi có lợi  ! Khó xác định “mức vừa phải” lắm…Vả lại  các bợm RTC (Rượu + thịt chó) còn có lá bùa : Nam vô tửu như kì vô phong !…

Tốt nhất là mỗi người tự giác hạn chế đến mức tối đa và các nhà đài nhà báo nên từ chối quảng cáo các loại bia tuy chưa có lệnh cấm như với thuốc lá, rượu ! (Chỉ cần không tiếc rẻ món thu nhập “ĐÁNG KỂ” của khoản quảng cáo này là thực hiện dễ ợt, còn xã giao với Nhà Bia, Nhà Rượu ư ? Nhà đài, nhà báo thiếu gì cách từ chối lịch sự và khéo léo, đâu cần thuê tư vấn về kĩ thuật Giao tiếp và Ứng xử mới từ chối chuyện QC được…Làm gì có chuyện  cả nể trong thời kinh tế thị trường có định hướng @ này  !). 


TMCS vẫn cứ ước ao GIÁ MÀ  lượng tiêu thụ bia và rượu, số chó và mèo phải chết vì các cuộc nhậu ở nước ta cứ mỗi ngày mỗi giảm, càng sớm, càng nhanh, càng tốt. Và nếu ta có bị xếp hàng đội sổ, đứng thứ BÉT trên hành tinh này về khoản tiêu thụ Bia, Rượu, Thịt chó, Thịt mèo thì có sao đâu? càng đáng mừng là đằng khác  ! 

NÓI THẬT LÒNG:

TMCS không giận ai đó đã và sẽ bảo rằng TMCS viết cứ như Lễ hội và có thể sau bài này là gồm cả Rượu Bia, “Tờ cây” , Tiểu hổ là  những thứ QUỐC NẠN.

Nói sòng phẳng thì hiện trạng trên đang là những v/đ RẤT NHỨC NHỐI đáng báo động ! QUỐC NẠN hay không là do cách thức tiến hành : Lễ hội dẹp hết các tiêu cực thương mại hoá, mê tín dị đoan, chém giết súc vật, tranh cướp tài lộc… Bia rượu có mức độ, vào những dịp xuân thu nhị kì không có tác dụng, a/h gì đến xã hội, đến người khác và bản thân …thì chả có gì phải bàn cả ! 

 Không biết ngoài các vị chân tu ra, còn mấy người cùng ý nghĩ trên như TMCS ??? Lạc hậu và Lạc lõng quá chăng ?

Thôi , gõ nữa sẽ đi vào gõ CỤT ! Xin dừng tại đây cho….”VỪA PHẢI”…kẻo TMCS mang tội  lắm điều ! Chưa biết chừng bị KẺ XẤU lợi dụng để phản “tuyên chuyền” !…

 VỀ VŨ ĐÌNH LIÊN-ĐÔI NÉT BỔ SUNG.

Đáp ứng y/c của một sô bạn đọc muốn có tư liệu chính thức về Vũ Đình Liên, TMCS xin trích đoạn từ BKTT mở như sau :

Vũ Đình Liên (12 tháng 11 năm 1913– 18 tháng 1 năm 1996), là một nhà thơnhà giáo nhân dân Việt Nam. Bài thơ Ông Đồ của ông được một nhà phê bình văn học xem là một trong mười bài thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ Mới.

Tiểu sử

Vũ Đình Liên sinh tại Hà Nội, nhưng quê gốc ở thôn Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Ông đỗ tú tài năm 1932, từng dạy học ở các trường: Trường tư thục Thăng Long, Trường Gia Long, Trường nữ sinh Hoài Đức để kiếm sống. Ông học thêm trường Luật đỗ bằng cử nhân, về sau vào làm công chức ở Nha Thương chính (còn gọi là sở “Đoan”- Douane) Hà Nội.
Năm 1936, ông được biết đến với bài thơ “Ông đồ” đăng trên báo Tinh Hoa
Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia giảng dạy nhiều năm và từng là chủ nhiệm khoa tiếng Pháp của Đại học Quốc gia Hà Nội .Vũ Đình Liên còn là một trong những nhà thơ lớp đầu tiên của phong trào Thơ mới.
Ngoài thơ ông còn hoạt động trong lĩnh vực lý luận, phê bình văn học và dịch thuật. Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam

Tác phẩm
Một số bài thơ nổi tiếng: Ông đồ, Lòng ta là những hàng thành quách cũ, Luỹ tre xanh, Người đàn bà điên ga Lưu xá…
Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (cùng Nhóm Lê Quý Đôn-1957) 
Thơ Baudelaire (dịch-1995)


Là một nhà thơ, một “ông đồ hiện đại” – Nhà giáo Nhân dân rất trung thực và khiêm tốn, ông thường nói với bè bạn thân quen: “Cái nghịch lý trong bài thơ Người đàn bà điên ga Lưu Xá của tôi gần với cảm hứng của Baudelaire khi ông ta viết bài thơ Những bà già còm cõi (Les petites vieilles)”.

“…
Hãy yêu họ vì dưới những manh quần rách tả
Những tấm da mong manh, vẫn là những tâm hồn
…”

Hồi còn được hân hạnh “điếu đóm” các cụ tiền bối, khi nghe hóng  hớt mấy câu trên, TMCS cũng đã liều lĩnh “té nước theo mưa” mà dịch  “sái” qua lời dịch của thi sĩ-dịch giả Bô-đờ Liên:

       …Dưới làn da mỏng mong manh,
  Áo quần tơi tả, phong phanh trên người
              Bao tâm hồn ấy tuyệt vời,
  Hãy yêu thương những mảnh đời già nua…
                                                                    TMCS

Tính Nhân văn, lòng Thương người của Bô-đờ-Liên thể hiện rất rõ khi ông chọn dịch Beaudelaire trong bài “À une Malabaraise” (Gửi em gái xứ Malabar -Ấn độ) :

Thân cứng đờ trong manh áo chật
Em phải lê la trong bùn rãnh chúng tôi,
Nhặt miếng bánh thừa hay miếng thịt ôi
Đem bán rẻ những hương trời sắc nước
Mắt tư lự ngắm nhìn trong sương mù vẩn đục
Tìm những bóng dừa quê hương xa vắng tự bao giờ…

Nghe các cụ trao đổi với nhau bằng Pháp ngữ ào ào “ như  nước lũ…TMCS loáng thoáng bắt được ý chính, rồi  mô phỏng kiểu “theo đóm ăn tàn “ , câu được câu chăng mà liều dịch:

         Thân em áo chật cứng đờ,
 Chúng tôi bùn bẩn dày vò khổ em
      Thịt ôi, bánh rữa vẫn thèm
Nhặt nuôi hương sắc lấm lem qua ngày !
         Mắt tư lự, màn sương dày.
Rặng dừa xứ sở  tháng ngày em trông…  
                                                            
                                                             TMCS

Bây giờ ngẫm lại, TMCS thấm thía VĐL quả là xứng đáng với danh hiệu NGND, ông không chì là Thày của những học sinh sinh viên đã thọ giáo ông, mà những bài thơ ông sáng tác hoặc dịch đều là những bài học rất tốt về TÌNH NGƯỜI cho hậu thế .

THÔNG TIN THÊM VỀ NGUYỄN BÍNH:

Với câu hỏi những bài thơ nào của NB đã được phổ nhạc, tuy chưa đảm bào có thống kê đầy đủ, nhưng TMCS tin chắc chắn là ít nhất có những bài sau đây đã được phổ nhạc :

1 Tiểu đoàn 307 được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc và được Quốc Hương hát rất thành công.
2 Người hàng xóm được Anh Bằng phổ thành ca khúc Bướm Trắng
3 Cô hái mơ được Phạm Duy phổ nhạc
4 Lỡ bước sang ngang được Song Ngọc phổ nhạc
5 Nhạc xuân được Đức Quỳnh phổ nhạc, Thanh Lan hát
6 Thời trước đượcVăn Phụng phổ nhạc thành bài Trăng sáng vườn chè]] và Hương Lan hát
7 Ghen được Trọng Khương phổ nhạc, Đức Tuấn trình bày
8 Gái xuân được Từ Vũ phổ nhạc, Thanh Lan trình bày
9 Cô lái đò được Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc, Ngọc Bảotrình bày
10 Chân quê được Minh Quang phổ nhạc, ca sĩ Quang Linhtrình bày
11 Nụ tầm xuân được Phạm Duy phổ nhạc
12 Mưa xuân được Huy Thục phổ nhạc
13 Chân quê. Trung  Đức phổ nhạc

v.v…
                                                                       X

TTTB@No102 giới thiệu ba khổ cuối của bài  thơ Hoa với rượu cùng với các bản dịch Anh,Pháp, Nga  và Hán.
Các phần khác như thường lệ.

Kính thính nhã giám
    TTTB@-TMCS
Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

HOA VƠI RƯỢU (410)

Bl(410) TTTB@ No101

HOA VƠI RƯỢU

DẠO ĐẦU TTTB@ No 101
                   TMCS

LAN MAN : PHÍA SAU NHỮNG CON SỐ
                                  (TMCS) 

Chúng ta đang sống trong thời đại @ (a còng), thời đại Số (Digital) ! Nhưng TMCS  lại muốn lùi về thời đại tập đếm, thời đại của những chữ số , những con số…
Trước hết xin bàn về con số 8000, có lẽ phải đến kì sau – hoặc muộn hơn- mới bàn đến con số ba tỉ tám. 

Để quý vị khỏi thấp thỏm, TMCS xin tiết lộ luôn:

TÁM NGHÌN là con số vo tròn số lượng  LỄ HỘI các loại hàng năm ở Việt nam, viết cho chính xác theo ngôn ngữ Toán (có kèm thứ nguyên) : 8000 lễ hội / năm.

BA TỈ TÁM là số vo tròn của lượng BIA các loại tính bằng lít hàng năm “cuồn cuộn” tuôn vào bụng người Việt nam sống trong nước, viết bằng số theo kiểu ngôn ngữ Toán : 3.800.000.000 l/năm.

THẬT LÀ ĐÁNG …?… !!!

Con số đầu tiên, TMCS xin   gửi tới UNESCO.
Con số thứ hai, TMCS xin gửi tới WHO và UB An toàn GThông.
 
(Có lẽ cũng nên gửi cả VTV , các  nhà đài, nhà báo chăm quảng cáo các loại bia và nghệ sĩ các cỡ hay đóng vai quảng cáo trong mục này…Luật không cấm q/c bia như cấm q/c thuốc lá, nhưng cũng nên suy nghĩ thêm chút…)
 
Cả hai CON SỐ  trên , TMCS cũng xin đồng gửi tới ban GUINESS quốc gia và quốc tế, kính xin các vị  chia cho dân số Việt nam hiện nay để có những con số tương ứng tính theo đầu người mà so sánh với thế giới xem VN đã phải là siêu cường về Lễ hội và Bia bọt  chưa ? 

Đó là những tổ chức quốc tế “siêu” nhất về Văn hoá, giáo dục và Y tế…họ sẽ đưa ra những ý kiến thẩm định quan trọng…( TMCS đang sưu tầm cả số lượng thuốc lá các loại được người Việt hút /năm – vì e chưa đầy đủ nên sẽ LAN MAN sau).

TÁM NGÀN LỄ HỘI / NĂM ! TỰ HÀO HAY LO LẮNG?

Nếu là Lễ Hội nghiêm chỉnh (đúng như định nghĩa trong Bách Khoa toàn thư mở bên dưới) thì cũng đáng suy nghĩ về khía cạnh tiết kiệm và lãng phí thời gian, tiền bạc, huống hồ lại pha tạp, biến tướng, méo mó đến kì dị, ngụỵ trang dưới chiêu bài Tâm linh, Tín ngưỡng,  Văn hoá dân gian, dân tộc…ngang nhiên phát triển hàng năm thì thật quá kinh khủng !!!

Nói có sách – 

Theo “BKTT mở WIKIPEDIA”, Lễ và Hội được định nghĩa như sau:

Lễ hội Việt Nam là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. “Lễ” là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.

Hình như rất nhiều  lễ hội nổi tiếng  đang diễn ra ở nước ta đang  “chống lại” định nghĩa trên  với các biến tướng cực kì đa dạng mang đặc trưng Thương mại hoá và Mê tín dị đoan với vô số hiện tượng tiêu cực  kể khôn xiết, viết khôn cùng !

Tổng quan:

Theo thống kê từ năm 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%).[1] Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà NộiBắc NinhHà NamHải Dươngvà Phú Thọ

Đấy là con số của năm 2009, bây giờ e đã trên 8000 là cái chắc !!! Chưa chừng ngót nghét một vạn rồi cũng nên !

Định nghĩa rõ ràng, số liệu đầy đủ. (Tám ngàn là vo tròn của số 7966 lễ hội các loại, cũng chỉ vênh 44 đơn vị- chấp nhận được !)

Đáng chú ý là trong ngót vạn lễ hội hàng năm chỉ 27 lễ hội có q/đ là Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia, có nghĩa là số còn lại là của các địa phương. Ấy là chưa kể gần đây có thêm  một số chưa chắc đã vào tư liệu thống kê : Festival Huế, Pháo hoa quốc tế Đà nẵng…cả Hội Thơ VN làm vào Rằm tháng giêng hàng năm…(Xưa kia chỉ có Đồ sơn có hội Chọi trâu, chưa biết đã dẹp  xong chưa thì bây giờ ở mấy tỉnh trung du  lại bùng phát chọi trâu. Hàng trăm, hàng ngàn người vô tư hò reo nhìn những Ông trâu  húc nhau như điên, cho đến kiệt quệ…Rồi mổ thit Ông trâu bán giá cao như bán phước lành, Không hiểu các quan chức địa phương và lãnh đạo chóp bu ngành văn hoá nghĩ gì ? hay không có thông tin nào đến tai các vị??? Cả bộ máy THANH TRA VĂN HOÁ cũng VUI CÙNG lễ hội chăng !…)

Đã nhiều năm nay, các phương tiện thông tin đai chúng đã cảnh báo nhiều về biến tướng thương mại hoá các lễ hội, hàng quán lu bù, chặt chém thoải mái, tranh cuớp lộc, mua thần bán thánh, dúi tiền vào tay  tượng thánh, tượng Phật , đốt vàng mã, dâng lễ vật linh tinh, khấn vái thuê, đội lễ vật mướn,vứt rác , cờ bạc bê tha, đủ các loại cò mồi tung hoành kiếm chác, ăn mặc phản cảm, đâm trâu, chọi trâu, chọi gà, chém lợn, công đức, cúng dường ngoài tầm kiểm soát, tiền thu về bao nhiêu, chi dùng thế nào có Giời biết !!! Cả bộ máy tài chính “tinh vi – vi tính” của các tập đoàn , các ngân hàng  còn thất thoát hàng chục, hàng trăm, ngàn tỉ đồng thì mấy thày chùa, thủ từ quản sao nổi số tiền công đức, cúng dường chẳng có cơ chế, bài bản nào quy định cách thức quản lí, sử dụng. Liệu có thất thoát đến mức kinh hoàng không?… ! Ban tổ chức, sư trụ trì, thủ từ, cơ quan văn hoá, chính quyền đoàn thể , Công an, Thanh tra đều vào cuộc…”đúng quy trình” cả, nhưng đâu vẫn hoàn đó một cách khó hiểu… Phần tinh hoa cốt lõi của cả lễ và hội đều biến tướng: thay vì từ bi, nhường nhịn thì TRANH CƯỚP nhau đến sứt đầu mẻ trán, thay vì tri ân công đức các anh hùng, thần thánh , Trời Phật thì chỉ lăm lăm cầu tài, cầu lọc, cầu duyên, cầu tự… hoàn toàn vị kỉ, cá nhân trên hết ! Nhà chùa cũng phát lộc  cho chúng sinh tranh nhau, đến nỗi nhà Sư bị kỉ luật  Quỳ hương (  nhẹ hơn lông hồng ! ). Các vị chủ trì, thủ từ đáng lẽ phải giải thích cho thiện nam tín nữ tránh thói mê tín dị đoan, lại buông xuôi, để mặc – coi như gián tiếp khuyến khích họ lạm dụng lễ vật, hối lộ cả đức Phật, thần thánh… Giáo lí nhà Chùa là Nhân quả sao còn nhận Dâng sao giải  hạn để tự vô hiệu hoá giáo lí của Phật, không thể “ ngôn hành bất nhất” như vậy là để chiêu mộ Phật tử…Như vậy làm sao dân chúng tin nghe các nội dung thuyết pháp  được !

Vấn đề công đức và cúng dường không minh bạch cũng a/h nhiều đến thanh danh của người tu hành. Các nhà sư hoàn toàn không cày cuốc , lao động mà chỉ sống bằng tiền cúng dường. công đức, lại còn mua sắm xe máy, ô tô là điều khó chấp nhận. Các sư ở nhiều nước đều tự sửa chữa chùa chiền, thiếu tiền thì xin nhà nước, kêu gọi phật tử  đến cùng lao đông sửa chữa  chùa chiền. Nguồn sống của sư sãi nhiều nước  chủ yếu là khất thực (xin đồ ăn) và tự trồng trọt ! Họ không bao giờ sở hữu xe đạp, xe máy, ô tô, nhà riêng – không có tài sản gì ngoài bộ cà sa !  So với ta , khác nhau một trời một vực !

Hôm trước, KIều Trinh ( một nhân vật tai tiếng một thời của VTV về tội cầm nhầm hàng siêu thi ở hai nước Âu châu, phải có sứ quán can thiệp mới thoát tội bị xử lí theo luật pháp sở tại…) lại “tái xuất màn hình” thông báo và phê phán dịp khởi đầu mùa lễ hội đầu xuân Đinh Dậu với các tệ nạn còn rầm rộ hơn năm trước !!! (Kể ra nên để một BTV  khác thì tiếng nói có “trọng lượng” hơn).

Tuy chưa nghĩ chín, nhưng TMCS xin đề đạt:

  • Quả là thực tế nhiều năm đã CMinh ta  không quản lí nổi cả lễ lẫn hội , vậy từ năm sau bắt buộc phải KHẨN TRƯƠNG :

Giảm bớt số lượng lễ hội. ( Trọng điểm là các lễ hội dân gian, nhất là những lễ hội tự phát lộn xộn, không mấy ý nghĩa văn hoá, lịch sử…, nặng vễ mê tín dị đoan, cầu xin, ban phát tài lộc, giải trí bạo lực, không lành mạnh….)

Cắt hẳn những lê hội lỗi thời : Chém lợn, Chọi trâu, mê tín thuần tuý, ko bày đặt thêm lễ hội mới…

Cho phép các lễ hôi ít phức tạp hơn dăm ba năm tổ chức luân phiên một lầnnơi này tổ chức thì nơi khác nghỉ, theo nội dung, quy  tắc đã xác định. Cần dành công sức, tiền bạc cho những nhu cầu thiết thực và có ý nghĩa hơn của xã hội và đất nước.

Chỉ một số  các lễ hội có ý nghĩa trọng đại và đặc biệt như giỗ đền Hùng, giỗ trận Đống Đa… được tổ chức hàng năm theo quy trình nội dung quy định được thanh tra giám sát chặt chẽ.

BỘ TRƯỞNG BỘ VĂN HOÁ PHẢI đích thân làm TƯ LỆNH chỉ huy chặt chẽ mọi việc liên quan đến lễ hội và vị này nên từ chức hoặc bị cách chức,  nếu không muốn hoặc không làm việc có k/q cụ thể về công tác chỉ đạo lễ hội, để xảy ra bê tha, nhếch nhác kéo dài như nhiều năm nay.

Thường xuyên có các đợt giáo dục về tâm thế người dự lễ hội, Các trụ trì, thủ từ các nơi đăng cai lễ hội phải được tập huấn về quy trình, nghiệp vụ tổ chức lễ hội. Các ban tổ chức, chính quyền , đoàn thể sở tại phải  cùng CA, lực lượng trật tự thanh tra…giám sát từ khâu chuẩn bị đến kết thúc , Đoàn Thanh tra phải  có quyền và trách nhiệm đình chỉ lễ hội bất kì lúc nào nêu vi phạm quy định.

Kiên quyết quét sạch khỏi lễ hội các hoạt động thương mại hoá, loại bỏ hoàn toàn các loại cò mồi, thanh lọc hoá thành phần ban tổ chức, trụ trì, ko còn tay trong, tay ngoài tiếp sức cho các phần tử ăn bám lễ hội, mua bán lễ vật, thủ tục đốt vàng mã, khấn thuê, vái mướn, ăn mặc nói năng thô tục, gây ô nhiẽm môi trường,hoạt động mê tín dị đoan, sô xát cướp lộc, phát ấn….

(Xin mở ngoặc: 

Rứt khoát phải bãi bỏ lệ phát ấn càng sớm càng tốt. Đó là một việc làm lỗi  thời ! Thời nay, việc cất nhắc, đề bạt cán bộ đã có tiêu chuẩn rõ ràng về các mặt để tuyển chọn, đâu có phải ăn may xin được cái ấn phát ở đền Trần ( hay chỗ nào khác) là được thăng quan tiến chức. Nếu tiếp tục tiến hành phát ấn chẳng khác nào phủ nhận vai trò công tác cán bộ, công tác đào tạo của tổ chức và việc học hành tu dưỡng của cán bộ ! Việc phát ấn cũng chẳng có ý nghĩa giáo dục lòng yêu nước, tôn vinh vị Vua đã có công lớn với dân với nước…Tiếp tục cho tồn tại “phát ấn”  trong thời đại công nghiệp hoá chẳng khác nào duy trì một hủ tục, khuyến khích tư tưởng chạy chọt địa vị, bổng lộc, ăn trên ngồi chốc vừa CỎ vừa HỦ !)

Toàn bộ các cơ quan thông tin đại chúng phải vào cuộc tuyên  truyền giáo dục cho quảng đại dân chúng về tâm thế đến các lễ hội cho đúng mức, tuyệt đối không đem văn hoá trần tục, nhơ bẩn XIN CHO  vào chốn thiêng liêng, thuần khiết.

Giáo hội Phật cần tăng cường giáo dục tăng ni Phật tử, chỉ đạo các nhà sư tru trì quan tâm đóng góp tốt vào lễ hội với tư cách của các vị CHÂN TU , không màng lợi ích vật chất thiển cận.

Tiền nong cúng dường, công đức phải được giám sát chặt chẽt, hạn chế việc sử dụng, chia chác, tư túi sai mục đich. Tài chính của các cơ sở chùa, đền  đài phải công khai minh bạch, các khoản thu chi lớn phải qua ngân hàng…

Trên đây chỉ là những nét lớn, Nhà nước cần giao bộ Văn hoá phối hợp với các ngành hữu quan nghiên cứu soạn thảo kỹ càng , tỉ mỉ Điều lệ tổ chức  các loai lễ hội để tinh giản số lượng, lấy lại tinh hoa truyền thống, loại bỏ thủ tục phản cảm, phi văn minh, văn hoá, tiết kiệm thời gian, tiền bạc để xây dựng và bảo vệ đất nước. Hãy nhớ lại  trong hai cuộc chiến tranh chúng ta có tổ chức lễ hội rầm rộ đâu mà mọi việc đâu vào đấy cả.

 Có thể sẽ có một vài luồng dư luận lên tiếng MẠNH MẼ đòi duy trì, thậm chí kích động dân chúng đòi  hỏi phát triển lễ hội với các lí do nguỵ trang về tự do tín ngưỡng, tâm linh. Chúng ta đã có bài học về cấm đốt pháo dịp tết, cưới xin, ma chay, đội mũ bảo hiểm xe máy.., vấn đề lễ hội xem ra nhức nhối bội phần, cũng đòi hỏi việc xử lí rất mạnh tay mới thành công. Ngoài động cơ chưa hiểu biết , có thể có bộ phận c/b và dân chúng xuất phát từ mục địch “lợi ích” cục bộ đòi hỏi duy trì kiểu lễ hội  tiêu cực hiện hành. Ta phải kiên quyết đấu tranh. Không thể xây dựng đất nước công nghiệp hoá với nếp sống “tháng giêng ăn chơi” – lại  xen kẽ nhiều yếu tố không lành mạnh, không văn minh và cực kì lãng phí…Chúng ta không thể “kích cầu” cả những nhu cầu cổ hủ, lỗi thời được.
Những cuộc chạy chọt mua thần bán thánh trong lễ hội , xét về đông cơ có khác gì những cuộc mua quan bán tước, mà cả để nhận Huân chương khen thưởng, loại bỏ người tài, cất nhắc  người thân và người đút lót…trong đời thường. Nếu những hiện tượng này ko bị chặn lại, không bị xoá bỏ sẽ dẫn đến nguy cơ biến bộ máy VÌ DÂN thành bộ máy “quan trường” tham nhũng, thối nát…

KL

Những nội dung TIÊU CỰC TRONG CÁC LỄ HỘI kéo dài hết năm này sang năm  khác nói trên thật sự đáng đau lòng, không thể nhận định theo kiểu đây chỉ là “v/đ nhất thời, ưu điểm , thành tích VẪN là CƠ BẢN, sai lầm thiêu sót CHỈ là THỨ YẾU”, quy chụp cho những ai nêu ra những cảnh tượng xấu xí, tiêu cực liên quan đến lễ hội là “nói xấu chế độ”, “tuyên truyền phản động”, “tiếp tay cho địch”…

PHẢI THẤY RÕ;  Chính những thế lực THÙ ĐỊCH mới mong chúng ta cứ u mê, say sưa với các lệ hội đã trở thành MÊ TÍN, THƯƠNG MẠI hoá tiếp diễn từ nhiều năm nay ! ĐẤU TRANH TINH GIẢN  và LÀM TRONG SẠCH lễ hội mới là BẢO VỆ ĐÁT NƯỚC , BẢO VỀ NHÂN DÂN VÀ CHẾ ĐỘ !

Đây còn là v/đ THỂ DIỆN QUỐC GIA và DANH DỰ DÂN TỘC trong con mắt người nước ngoài. Khách du lịch quốc tế coi các việc tranh cướp, xô đấy, đâm chém súc vật, chọi trâu… là MAN RỢ là TÀN DƯ của thời kì BỘ LẠC . Những thứ mê tín, dị đoan khác là MÔNG MUỘI của các dân tộc chưa văn minh…
LẼ NÀO ta làm ngơ hoặc “phản pháo” bằng cách bảo họ BỊA ĐẶT ! PHẢI NGHIÊM KHẮC TỰ SỬA MÌNH, TIÊN TRÁCH KỈ – ở đây không có chuyện HẬU TRÁCH NHÂN, ta sai chứ họ nhận xét đúng và khách quan … Trong đ/k bây giờ, không thể lấy lí do BÍ MẬT QUỐC GIA  không cho người nước ngoài và Việt kiều  đi thăm Lễ hội để CHE ĐẬY những mặt tiêu cực…

Bộ mặt của VN trong con mắt bè bạn và dư luận quốc tế là xấu, đẹp…thể hiện qua lễ hội rất đậm nét và rõ rệt…Không nên làm ngơ, mỗi mùa lễ hội vẫn cứ tổng kết “thành tích là cơ bản”…

TTTB@ là một TIẾNG NÓI về THƠ nên xin tỏ ý rất phiền lòng trước dư luận về HỌI THƠ NGUYÊN TIÊU 2017.  Cũng mong hội THƠ này được xem xét và giải quyết theo hướng kiến nghi tinh giản như trên. Vài năm làm một lần, đã làm là NGHIÊM TÚC, có CHÁT LƯỢNG chứ không bôi bác qua quýt…Bằng không thì KIÊN QUYẾT CẮT BỎ!
Mấy tiếng nói trên của TTTB@ chắc không khác gì tiếng ì ọp của một chú nhái bén già từ đáy giếng sâu tha thiết vọng lên, mong  có ai  trên bờ nghe thấy xin kính nhờ chuyển tới các vị CÓ QUYỀN HÀNH VÀ CÓ TRÁCH NHIỆM g/q…
Nếu có ai hỏi ý kiến, thì TMCS xin thẳng thắn mạnh dạn nói thêm:
Nếu Bộ trưởng Bộ Văn Hoá không làm nổi việc trên thì nên THAY THẾ KỊP THỜI . Bằng không thì một trong hàng tứ trụ là TBT, CT Nước, TT chính phủ hoặc CT QH cần có TIẾNG NÓI & HÀNH ĐỘNG Q/Đ và cử người đặc trách thay mặt mình đôn đốc, giám sát chặt chẽ. TMCS tin tưởng : được như vậy là phúc lớn cho nền VĂN HOÁ nước nhà ! MTTQ xưa nay vẫn hay đề cập chức năng GSát PHẢN BIỆN thiết tưởng cũng không nên ngoài cuộc trong v/đ lễ hội lình xình này !
Xin mời quý vị vào Google Vn, nháy chuột vào dòng sau sẽ được xem Video quay cảnh hỗn chiến dành lộc lễ hội chùa Hương ! 
Các nhà l/đ ngành Văn hoá và các vi L/đ ngôi cao khác nghĩ sao ? Những ý kiến trên của TMCS có khi còn là quá chậm và quá dè dặt ! Lịch sử và nhân dân sẽ phê phán nếu các vị buông xuôi không g/q chuyện nhức nhối này !

Hỗn loạn cảnh tranh lộc tại chùa Hương 2017 – YouTube

Feb 5, 2017 – Uploaded by Plus Video

Sau lễ khai hội chùa Hương (Hà Nội), một nhà sư đã phát lộc cho phật tử … Plus Video … lại đông nên đã xảy ra cảnh 

(Mời quý vị nháy chuột vào xem Video quang cảnh tranh cướp ở lễ hội- Nếu ko được thì vào Google Việt nam, gõ tên video này, rồi nháy chuột)
Ôi con người đất nước tôi! Nhân tính để đâu hết rồi? >.<
#trâu #giếttrâu #dãman #quayph im #chụphình
Cả thế giới hơn 6 tỉ người kinh hoàng với lễ hội VN ! Cả Ông trâu thắng và Ông trâu thua đều chết thảm, bị chặt từng chân, rẫy rụa… trong sự hò reo phấn khích của hàng ngàn người, họ chụp ảnh, quay video, tung lên mạng…lấy PHƯỚC ?!
TMCS không ân hận vì những lời kêu than, trách cứ tất cả những ai có trách nhiệm. Dù họ chỉ để một nơi nào.một vụ nào tương tự thì đã đáng CÁCH CHỨC, phạt TÙ CHUNG THÂN.  Vì danh dự DÂN TỘC , phải xử lí không có vùng cấm từ cấp thôn xã tới TW cao nhất !!!Thế giới dùng từ trible (bộ lạc) chứ ko gọi là DÂN TÔC VN  vì những hình ảnh này !
NHỤC NHÃ cho VĂN HOÁ Việt nam quá…Ôi , thế mà “họ” đã , đang  và sẽ tiếp tục các cương vị quan trọng của ngành Văn Hoá ! Cấp trên của họ đâu, làm sao chuyển tới  các vị lãnh đạo tối cao ở nhà các hình ảnh này !
TMCS, con NHÁI BÉN dưới ĐÁY GIẾNG, còn biết làm gì nữa đây !!!
Bao nhiêu công sức bé nhỏ của TTTB@ giới thiệu nét đẹp truyền thống VN qua thơ Việt bị tấm ảnh này hạ gục thê thảm quá ! SOS – SOS- and SOS !!!
 
(Có thể là kẻ tha hương, nên TMCS dễ chạnh lòng khi thấy hai tiếng VN thân yêu bị xúc phạm, nhưng rất mong ở nhà cần có ngay biện pháp rứt khoát và mạnh mẽ để giữ gìn DANH DỰ cho dân tộc mình…)
 
 
 
KẾT NGHĨA ÔNG ĐỒ – TÌNH TAY BA VŨ ĐÌNH LIÊN. TRẦN VĂN LƯU VÀ BÙI XUÂN PHÁI.

Ngày xưa bên Tàu có tích Đào viên kết nghĩa, Bá Nha Tử Kì… bên ta có Lưu Bình Dương Lễ, có bài thơ Khóc Dương Khuê ghi dấu mối tình bạn Nguyễn  Khuyến – Dương Khuê.
 
Đến thế kỉ 20, ở Hà nội có tích VĐL, TVL,BXP . Ba cụ này chẳng làm lễ kết nghĩa, kết ngãi gì cả, đúng là  không hẹn mà nên: tấm lòng nghệ sĩ với Ông đồ qua ba bộ môn nghệ thuật khác nhau : Thi ca, Nhiếp ảnh và Hội hoạ đã gắn họ thành ba người anh em còn thân thiết hơn cả ruột thịt, Họ không mưu bá đồ vương như Lưu, Quan, Trương mà chỉ gắn kết với nhau vì Nghệ thuật và Nhân văn !

Bài thơ, tấm ảnh, bức chân dung Ông đồ đã trở thành biểu tượng cao cả và sâu sắc của tình bạn này.

TMCS có quan hệ họ hàng dây mơ rễ má  với nhà nhiếp ảnh TVL nên hay có dịp đến căn nhà 11 phố hàng Bông, được ngắm cả tranh, ảnh và xem bút tích VĐL trong bài Ông đồ tặng TVL. Trong nhà TVL ngoài tấm ảnh chụp chung ba nghệ sĩ , còn la liệt ảnh chụp từng người…

Nhà nhiếp ảnh TVL đã chụp một bức ảnh về VĐL ngồi xem một ông đồ viết chữ Nho rồi tặng VĐL khi gặp nhau trên gác nhà TVL. VĐL hứng thơ nổi dậy lại viết mấy dòng đề ảnh và tặng lại BXP . BXP lại đọc  bài thơ ấy khoe TVL… Quý vị đọc những dòng này của TMCS chắc hẳn sẽ nhớ cái tích quả cam đi một vòng qua các thành viên trong cùng gia đình:

Một bà vợ đi chợ mua được trái cam ngon mang về đưa cho chồng   bảo : Anh làm lụng cả ngày ăn cam cho lại sức. Người chồng cầm quả   cam, nghĩ đến đứa con nhỏ liền để dành, đợi nó đi học về bảo: hồi này con bận nhiêu bài vở, ăn quả cam  này cho lại sức. Đứa con cầm quả cam lại nhớ đến người mẹ tần tảo sớm hôm, nó cầm quả cam bảo mẹ: Mẹ ơi mẹ ăn cam đi cho lại sức !  Người mẹ cầm quả cam từ tay mình chuyền tay mọi người một vòng  lại trở về tay mình, lòng rưng rưng sung sướng vì sự thương yêu hoà thuận trong gia đình…

Ảnh và thơ, thơ và tranh…cũng cứ quay vòng loanh quanh giữa ba nghệ sĩ VĐL, TVL, BXP như quả cam kia vậy !!! 

Dưới đây là bài thơ VĐL viết 5/1/1977 đề ảnh  TVL chụp mình đang ngồi xem Ông đồ viết chữ trên vỉa hè HN, đem tặng lại BXP :

Bức tranh ai vẽ, ông đồ nào?
Người khách ngồi nhìn, thích thú sao
Tưởng cả ngàn xuân hoa thắm đỏ
Nghe như muôn khúc nhạc xôn xao
Một câu đối nổ như tràng pháo
Mấy nét tranh tươi tựa khóm đào
Tình nghĩa muôn đời đè nặng bút
Mùa xuân bất diệt cánh bay cao

(Vũ Đình Liên – Gác nhà anh Trần Văn Lưu, ngày 5.1.1977).
 
Trong một bức thư viết gửi BXP, VĐL đã bày tỏ tâm sự :
 
Người bảo tranh anh vẫn sẵn buồn
Như thơ tôi vẫn cứ thương thương.
Anh, tôi đâu phải không vui lắm, 
Nhân thế vì rằng chửa sướng luôn. 
Có lẽ loại người da bọc thịt,
Há như giống sói mõm phanh sườn.
Thiêu thân nghệ thuật là duyên nghiệp,
Đốt trái tim trầm gửi gió hương .
 
TMCS càng thấm thía: Thì ra Bô-đờ-Liên không phải chỉ n/c triết lí Tây, ông thương cả Ông đồ với triết lí Nho học phương Đông lại phảng phất cả triết lí nhà Phật về Duyên và Nghiệp ! Câu kết đúng là Trầm Hương thanh tịnh của một trái tim, một tâm hồn cao thượng, lâng lâng toả ngát giữa cõi hồng trần mù mịt…Hèn chi cuối đời ông chuyển từ phố Bà Triệu về ở gần chùa Bộc, thân gửi chốn phồn hoa mà tinh thần đã hoà cùng triết lí nhân sinh từ bi nhân ái của Phật gia… TVL và BXP cũng thừa nhận từ giao du với VĐL họ cảm nhận được lẽ sống thanh cao, nhân ái của thi nhân họ Vũ…

Con trai danh hoa Bui Xuan Phai cong bo anh quy ve Vu Dinh Lien ben 'ong do gia' - Anh 1
Bức ảnh quý vềVũ Đình Liên
Một hôm VĐL đến nhà TVL thấy bức tranh Ông đồ của BXP  phỏng theo bức sơn dầu  đã vẽ, cắt giấy ghép thành, đã cao hứng xin phép TVL đề thơ vào dưới 

Tranh ngắm lòng càng rộn ý thơ,
Cả hồn quá khứ xót ông đồ.
Ba vần thơ đã khơi nguồn nhớ,
Mấy mảnh giấy còn chắp cánh mơ.
Thanh sắc chưa phai màu lệ cũ
Ảnh hình thẫm đượm mối thương xưa
Hồn người nghiên bút nghìn năm trước
Khối hận đến giờ đã nhẹ chưa …

(VĐL- Ngắm Tranh – 1974)
 
Ông Đồ - Tranh sơn dầu của Bùi Xuân Phái
Ông Đồ – Tranh sơn dầu của Bùi Xuân Phái
Đốt trái tim trầm gửi gió hương - ảnh 2
               Tranh Ông đồ cắt giấy của Bùi Xuân Phái 
 
Thực tế thì  trong bộ ba, VĐL là người khơi đầu chủ đề Ông đồ (1936). TVL và BXP mãi về sau mới đi vào đề tài này ( BXP vẽ  tranh Ông đồ vào  1957). Nhưng BXP lại khen tác phẩm của hai bạn mình xúc tích hơn. Ngược lại, VĐL  cho rằng Ông đồ trong Nhiếp ảnh và Hội hoạ sinh động hơn…
 
Lần nào đọc mấy  bài thơ trên của VĐL , TMCS cũng nhớ đến bài thơ VĐL đã tặng mình với hai câu động viên vô cùng thích thú:

“Mang mang châm vũ” lời thơ đẹp
“Khẩu dị tâm đòng” ý tứ sâu

và thầm nghĩ : Bô-đờ- Liên dịch thơ Beaudelaire  hay thế, làm mấy bài thơ Việt tuyệt vời , hoá ra cũng rât giỏi cả thơ luật Đường ! Theo tư liệu thì VĐL có rải rác tới 4000 (bốn ngàn) bài thơ chưa công bố …chắc hẳn những bài trong “bộ Tam” kết nghĩa ông đồ cũng nằm trong số bốn nghìn bài đó !

Như kì trước TMCS đã nói nhiều về tình nhân ái, tính nhân văn thương người của VĐL … qua bài thơ về Người đàn bà điên ga Lưu xá, sự quan tâm đến em bé bị đòn đau,  cụ già bị ngã trên đường phố… đồng thời được mục kích mối quan hệ gắn bó giữa bộ ba VĐL, TVL, BXP. quan sát cách ứng xử giữa họ với nhau và với mọi người khác , TMCS thấy họ là ba người cũng chung một nhân cách tốt đẹp ! Đúng như câu ngạn ngữ Pháp :

Dis-moi qui tu hantes, je te dirai qui tu es.

Đại ý là :

Ai người bạn hay la cà,
Bảo tôi, tôi bảo bạn là ai ngay !

Nhìn vào bất kì ai trong ba nghệ sĩ ấy , ta đều thấy nét đẹp của hai người kia ! Đấy là cách nhìn đơn giản và “chuẩn không cần chỉnh” của TMCS.

Năm 1991, VĐL được phong tặng danh hiệu nhà giáo nhân dân kèm theo sô tiền 10 triệu đồng (khá lớn khi đó).  VĐL đã đem dùng toàn bộ  số tiền ấy giúp đỡ trẻ em nghèo, không có đ/k sinh hoat, học hành đầy đủ… Nhưng ngay cả khi còn khó khăn ở thời bao cấp tem phiếu, VĐL vẫn nghĩ đến  những người cơ nhỡ khó khăn hơn mình ( người dàn bà điên ga LX là một minh chứng), điều đặc biệt là VĐL khí khái, ko cầu cạnh nhờ vả, xin xỏ, làm phiền bất kì ai có khả năng giúp đỡ mình…Hiển nhiên các bạn chí cốt TVL và BXP cũng vậy. TVL sống rất hào hoa, thanh đạm, khi có tiền thường chi tiêu hào phóng với bầu bạn, khi túng thiếu lẳng lặng chịu đựng không muồn phiền ai cả, kể cả họ hàng gần xa…
 
Có một chuyện, TMCS nghe TVL kể lại :
 
Hồi đó  bà Phùng thị Điềm mới ở Pháp về. nổi tiếng là một điêu khắc gia với nghệ thuật tạo hình từ các  mô-đuyn cố định ghép thành.  Bà Điềm có cơ ngơi ở Huế, trong một lần ra Hà nội, bà muốn gặp hai nghệ sĩ Bắc Hà mà bà ngưỡng mộ là Văn Cao và Bùi Xuân Phái. Hai vị này bàn nhau : gặp ở đâu ? Chả lẽ gặp ở nhà riêng “lúi xùi”  không có nổi một cái phòng khách ra hồn ! BXP bảo : nhà bừa bãi và bẩn toàn đồ vẽ và mùi sơn dầu… VC bảo : đến cái dàn Piano cũng cũ nát…Tiền đâu mà thuê phòng khách sạn với kinh phí tiếp tân vượt quá xa khả năng thanh toán của cả hai vị…Nhưng suy đi tính lại, hai vị  không muốn phiền lụy bè bạn, nên đành gặp G/s Đặng Thái Mai nhờ trung gian tháo gỡ cho sự rắc rối này, BXP  sau này nới với VĐL và TVL : sự thật là bọn mình muốn đẹp mặt chung thôi …

Lại có lần, BXP vào thăm Sài gòn, hoạ sĩ Lưu Công Nhân lúc đó làm ăn phát đạt nhờ bà vợ liên doanh với một hãng dược của Pháp nên có nhã ý mời BXP đến ăn cơm thân mật vào bữa trưa. BXP nhận lời, cơm nước xong, LCN bố trí phòng nghỉ trưa đầy đủ tiện nghi cho BXP, nhưng BXP kiếu có việc bận phải đi ngay…Ông chả có việc chi cả, nhưng ông ko muốn làm phiền người khác và gây ấn tượng mình lạm dụng sự kính trọng của LCN nên ông ra công viên Tao Đàn kiếm cái ghế ngả lưng, lấy cái mũ phớt che mặt đánh giấc ngủ trưa thanh thản, ngon lành như  ở nhà mình ! Khi về HN, trong một cuộc tụ tập tại nhà TVL, BXP kể lại chuyện này , cả VDL và TVL đều nhất trí cao , đồng thanh nói : Mình cũng làm như thế, nếu được mời …

Chuyện Tình và Nghĩa của ba người nghệ sĩ này khiến TMCS nghĩ đến những tên tuổi quen thuộc, họ hết lòng với nhau trong những lúc hoạn nạn khó khăn. Đó là những tấm gương có thực trong cuộc sống và sẽ đời đời ngời sáng…
 
Ai mà quên được Phùng Quán, cả vợ lẫn chồng đều được mọi người quý mến đùm bọc yêu thương khi bị chính ngay mấy người danh tiếng một thời “tố điêu” đánh dữ, để tâng công đến mức ông cậu ruột làm rất “to” cũng phải “ngơ đi”, sau này nói được một câu “ Cháu dại mà cậu cũng dại!”. Cả đến tổ bảo vệ cá Hồ Tây cũng che chở và lén cho PQ những con cá ngon…Phùng Quán ngay khi còn chưa hẳn tai qua nạn khỏi, đã đạp xe mang thuốc men quà cáp từ HN  đi TBình thăm NHĐang ! Văn Cao khi khổ sở vẫn không thiếu người cưu mang và VC cũng không ngừng giúp đỡ bạn bè khi lận đận. PDuy khi được phép ra thăm HN đã tìm đến VC và cả HCầm…Những người đó là những nghệ sĩ chân chính, họ sống có TÌNH và NGHĨA. Còn một vài SĨ khác thì chả đáng gọi là SĨ , họ sẵn sàng hi sinh bè bạn để leo cao, bia miệng để đời tuy chả báo chí nào vạch mặt chỉ tên nhưng ai ai cũng biết và không còn coi họ là gì…

Thôi chuyện về Bô-đờ- Liên còn dài, nhưng xin tạm dừng, khi có dịp TMCS sẽ tiếp tục kể hầu quý vị sau…

GIẢI ĐÁP VỀ NGUYỄN BÍNH

TTTB@ xin tiếp tục trả lời câu hỏi liên quan đến Nguyễn Bính:

HỎI

  • Xin cho biết thời gian NB hoạt động và lấy vợ ở Nam bộ, có tin đồn chính phủ bù nhìn theo Pháp chiêu hồi NB ?

-Đáp Xin trích đãn BKTT mở để đảm bảo câu giải đáp  được khách quan , vô tư:

 Trong thời gian đầu của cuộc KC, Nguyễn Văn Thinh (Thủ tướng chính phủ “Nam Kỳ tự trị“) có treo giải: Ai đưa được nhà thơ Nguyễn Bính “dinh tê” (vào thành) theo chính phủ (“Nam Kỳ tự trị”) sẽ được thưởng 1000 đồng Đông Dương! Nếu nhà thơ tự vào thành cũng được hưởng như thế (1000 đồng Đông Dương hồi đó là cả một cơ nghiệp). Nhiều thi sĩ là bạn Nguyễn Bính viết thư “thuyết khách” mời ông vào. Hồi đó ông đang lang thang ở Rạch Giá, ngày thì ăn ở nhờ một người bạn, đêm ra đình ngủ, ông chỉ có cái bao cói để chui vào cho khỏi muỗi, nên có nhiều người tưởng ông rồi sẽ vào thành với Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ. Ấy vậy mà trong một bài thơ của mình ông đã viết hai câu khẳng định:

… Mình không bỏ Sở sang Tề
Mình không là kẻ lỗi thề thì thôi.

Nhiều người ở Nam Bộ hồi đó biết chuyện gọi Nguyễn Bính là có chí khí của một sĩ phu yêu nước.

Năm 1947 Nguyễn Bính đi theo Việt Minh, việc này được Bảo Định Giang nhớ lại: Tôi không nhớ rõ cuối 1947 hay đầu năm 1948, khoảng 3 giờ chiều, em bé giúp việc cho tôi chạy vào nơi tôi làm việc bảo: “Có một người xưng là Nguyễn Bính đến đây muốn gặp chú”… Trên thực tế, Nguyễn Bính đã gia nhập đội ngũ Vệ quốc đoàn từ 3 giờ chiều hôm đó vì Bộ Tư lệnh là đồng chí Trần Văn Trà và đồng chí Nguyễn Văn Vịnh đã chấp nhận yêu cầu của tôi ngay ngày hôm sau. Chẳng những chấp nhận mà các đồng chí còn dặn tôi: “đối đãi đàng hoàng, chăm sóc chu đáo tác giả Lỡ bước sang ngang”
Nhưng theo lời giới thiệu của Đỗ Đình Thọ trong tập Thơ tình Nguyễn Bính, xuất bản năm 1991 thì Nguyễn Bính đã đến với cách mạng khá sớm – ngay từ 1945 trước ngày khởi nghĩa tháng tám.

… Nhờ sự mai mối của ông Lê Duẩn, Nguyễn Bính kết hôn với bà Nguyễn Hồng Châu (một cán bộ Việt Minh), ông sinh một con gái với bà này, đặt tên là Nguyễn Bính Hồng Cầu. Sau đó ông lại kết hôn với bà Mai Thị Mới, ở ấp Hương Mai, xã Khánh Lâm, huyện U Minh và lại sinh một con gái được đặt tên là Nguyễn Hương Mai. Trong thời gian này máy bay Pháp lượn vòng từ đập đá dài theo kênh Chắc Băng xuống Thới Bình, rải truyền đơn kêu gọi đích danh tác giả “Lỡ bước sang ngang” – Nguyễn Bính “quay về với chính nghĩa Quốc gia để được trọng đãi”.
Năm 1954 theo Hiệp định Genève, Nguyễn Bính cũng như bao cán bộ Việt Minh khác tập kết ra Bắc. Ông về công tác tại Nhà xuất bản Văn nghệ, sau đó ông làm chủ bút báo Trăm Hoa.

Như vậy, theo TMCS, NB đã tự nguyện theo KC và phục vụ CM rồi tập kết ra miền Bắc, không hề có chuyện ông bị “ép lấy  vợ” để chống “mỹ nhân kế” của địch. Như câu thơ NB viết : “Tôi không bỏ Sở sang Tề…” cũng không hề có chuyện ông bị quản thúc .Các ông Trần Văn Trà, Nguyễn Văn VỊnh sau này trở thành những tướng lĩnh nổi tiếng của QĐND đã chấp nhận để NB tham gia quân đội ta đánh Pháp. Đó là những bằng chứng hùng hồn đập tan luận điệu vu khống NB.


HỎI.

Xin cho biết : Vụ TRĂM HOA và vai trò của NB ?

Đáp.

Trăm hoa là tên tờ báo tư nhân, không hiểu vì sao lại có sự lầm lẫn cho rằng đó là một tờ báo phản động có mục đích tôn chỉ là chống phá đường lối của Đảng và Nhà nước. Dư luận một thời còn ngộ nhận tờ báo này là tay sai của Nhân Văn Giai phẩm. Đến nay nhiều năm đã trôi qua, nhiều nhân chứng thời đó , sau này đã đính chính và nêu đúng sự thực. Xin mời quý vị đọc trích đoạn sau cũng từ BKTT mở , có ý kiến của nhà văn Tô Hoài , một trong những người có trách nhiệm chính được tổ chức phân công g/q “vụ” Trăm hoa đã “minh oan” cho tờ báo và NB:

“ Lúc đầu Trăm hoa là một tờ báo do Nguyễn Mạnh Phác làm Chủ nhiệm, còn có phụ đề là “tuần báo tiểu thuyết”, toà soạn đặt tại 15 Hai Bà Trưng, Hà Nội, gọi là tuần báo nhưng khuôn khổ lại có vẻ “tạp chí” nhiều hơn. Số 1 ra ngày 2/9/1955. Tờ Trăm hoa loại cũ cỡ nhỏ này ra được cả thảy 31 số, tồn tại từ tháng 9/1955 đến giữa tháng 5/1956; mỗi số thường có 26 trang ruột và 4 trang bìa, khổ báo 18×26 cm; ban đầu trang bìa chỉ ghi chức danh Chủ nhiệm Nguyễn Mạnh Phác; từ số 11 (19/11/1955) trên tiêu đề mới xuất hiện thêm chức danh Chủ bút Nguyễn Bính.

Tuần báo Trăm hoa do Nguyễn Bính làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút là Trăm hoa loại mới, toà soạn đặt tại 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội; số một loại mới ra ngày thứ bảy 20/10/1956; sau số 11 (chủ nhật 6/1/1957) là hai số cuối cùng, đều không đánh số: Trăm hoa Xuân, và Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân, đều phát hành trước và sau Tết Ất tỵ. Trăm hoa số thường gồm 8 trang in typo 28x40cm giá bán 300 đ; hai số cuối là hai đặc san: Trăm hoa Xuân gồm 24 trang giá bán 1000 đ, phát hành từ 23 Tết; Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân gồm 16 trang giá bán 600 đ, phát hành đầu xuân Ất tỵ.
Gọi là ban biên tập tòa soạn nhưng thực tế chỉ có bốn người đó là: Nguyễn Bính; Nguyễn Thị Hạnh (con gái Nguyễn Mạnh Phác); Phạm Vân Thanh (vợ Nguyễn Bính); và một người được Nguyễn Bính tuyển từ Nam Định lên tên là Trần Đức Quyền, ông này lấy bút danh là Tùng Quân

Cả hai tờ Trăm hoa và Trăm hoa loại mới đều là báo tư nhân. Trăm hoa của Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường) bị “chết” vì lỗ vốn, thì ít lâu sau Nguyễn Bính tục bản thành Trăm hoa loại mới, và tờ này cũng lại “chết” vì lỗ vốn. 

Ở miền Bắc khi đó báo chí và xuất bản tư nhân còn được phép tồn tại, nhưng phải bán với giá cao vì phải mua giấy giá cao hơn so với giá cung cấp dành cho các báo nhà nước và đoàn thể; các cơ sở phát hành lớn của hệ thống “hiệu sách nhân dân” không nhận bán các báo tư nhân; ngoài ra còn một trở ngại đáng kể là cán bộ chính quyền và đoàn thể các địa phương thường gây trở ngại cho phóng viên và người phát hành các báo tư nhân.

Theo hồi ức của Tô Hoài: không biết ai đã giúp tiền cho Nguyễn Bính ra những số báo Trăm hoa đầu tiên, thế rồi “cấp trên” có sáng kiến lấy giấy và tiền nhà xuất bản Văn nghệ giúp Trăm hoa, và chính Tô Hoài được giao nhiệm vụ “thuyết phục một tờ báo tư nhân nhưng có tiếng nói chống những luận điệu ngang ngược của báo Nhân văn giai phẩm. Theo Tô Hoài, do sự can thiệp này, “tờ Trăm hoa rõ ra một vẻ khác. Không về bè với Nhân văn giai phẩm, nhưng chẳng đi với ai “. Cấp trên của Tô Hoài nhận xét từng số từng bài, “cho là chưa đủ hơi sức hỗ trợ cần thiết”. Tô Hoài đem nhận xét ấy bàn lại với Nguyễn Bính. Nguyễn Bính bảo Tô HoàiTrăm hoa phải thế mới là báo của Nguyễn Bính chứ. Nếu không thì mày làm quách cho xong !. Sáng kiến “đầu tư” cho Trăm hoa kết thúc ở đấy. Một buổi tối, Nguyễn Bính rủ Tô Hoài đến ăn ở nhà hàng Lục Quốc. Nguyễn Bính bảo: Hôm nay ăn cỗ đám ma Trăm hoa! “.

Như vậy theo hồi ức của Tô Hoài, một nhân chứng trung thực và mạnh dạn nhất, chính cấp trên của Tô Hoài, ngày nay ai cũng biết là cơ quan TƯ chỉ đạo toàn bộ hệ thống thông tin đại chúng và công tác giáo dục chính trị tư tưởng, khi đó đã chỉ đạo giúp Trăm hoa của NB sống thêm một thời gian trước khi đóng cửa vì hết tiền chứ không có chuyện Trăm hoa về hùa với Nhân văn Giai phẩm chống đối Đ và NN mà bị đình bản

Nhưng cũng như  lời Tô Hoài : NB chẳng theo bè cánh nào, chẳng đi với ai, có lẽ  vì vậy đã có ai đó xấu bụng vu oan Trăm Hoa với NVGP cùng một giuộc ! Thời gian cứ thế trôi đi… Mọi chuyện coi như chìm xuồng cả !!!

Riêng TMCS tin tưởng sắt đá: NB mãi mãi có chỗ đứng trong lòng người đọc Thơ VN xưa kia và mai sau. Câu nói của cô Thoa lái đò sông Châu : “Giá mà chết thay được bác ấy…!”còn lưu truyền mãi mãi với bài thơ Cô lái đò của NB ! Không có bảng vàng bia đá nào bằng !

Đã mấy ai làm thơ mà được người đọc yêu quý đến thế ! Dù có lúc nào đó, ở đâu đó…người ta cố tình lờ đi và thiên vị ai khác, nhưng NB của dân gian, của đại chúng vẫn ngời ngời trong lòng mỗi người yêu thơ VN. LỊCH SỬ vốn rất công bằng và công minh !

Với loạt bài dịch và giới thiệu của TTTB@, tuy còn hạn chế nhiều mặt, thơ NB vẫn tiếp tục ra khơi xa, đến với bạn đọc quốc tế và VN hải ngoại. Rất , rất nhiều phản hồi từ khắp nơi đã nói lên tình cảm mọi người dành cho NB và ngạc nhiên về sự “sao lãng” trong việc giới thiệu NB với thế giới…

                                                     X

TTTB@ No101 sẽ giới thiệu tiếp khổ 21 -22 và các bản dịch Anh, Hán , Nga , Pháp.
Các phần khác như thường lệ.

Kính thỉnh nhã giám.
         -TMCS-

 

HOA VỚI RƯỢU (Khổ 19-20)
Thơ Nguyễn Bính.

TMCS: dịch Anh, Hán.
Nguyễn Chân; dịch Pháp, Nga.
Trịnh Phúc Nguyên: dịch Pháp.
Phan Hoàng Mạnh: dịch Pháp.

Ngồi bên lò rượu đêm hôm đó,
Nhi rót đưa tôi nước rượu đầu .
Nhắc lại ngày xưa mà thẹn lại ,
Ngậm ngùi hai đứa uống chung nhau .

Tôi kể: “U tôi đã mất rồi,
Cửa nhà còn có một mình tôi …”
Nhi rằng: “Ngày trước u thường nói
Hai đứa mình trông đến đẹp đôi …”

Anh: TMCS

Sitting by the oven that night
Nhi pours for me the first cup of liquor.
Repeating the memory of the past, once again we both are shy
Being grieved, we drink this same cup together.

I tell her: “My Mom passed away.
At home I alone stay…”
Nhi says:” Mom said- in the past-
That we look like a good match…

Hán; TMCS phiên âm , dịch nghĩa.

Toạ tại tửu lô biên thử dạ Ngồi cạnh lò rượu đêm hôm đó
Thủ bôi vị ngã Nhi thân châm Nhi tự tay rót chén rượu đầu cho tôi
Vãng thời đề khởi đồng tu quý Nhắc đến ngày xưa cùng thẹn thùng
Cộng ẩm cha môn sầu mãn tâm. Hai đứa cùng uống lòng buồn rầu.

Ngã giảng : Mẫu thân dĩ quá thế Tôi kể: Mẹ đã mất rồi
Gia trung duy hữu ngã đơn thân. Nhf tôi chỉ còn mình tôi
Nhi đàm: vãng nhật mẫu thường viết Nhi bảo: Xưa mẹ hay nói
Cha lưỡng thành duyên vi tuyệt luân! Hai đứa nên đôi đẹp tuyệt trần

Chữ Hán : TMCS

坐在酒爐邉此夜
首杯為我兒親斟
往時提起同羞愧
共飲咱們愁滿心

我講母親已過世
家中惟有我單身
兒談往日母常曰
咱倆成緣為絕倫

Pháp: Nguyễn Chân

À côté de l’alambic à cette soirée
Nhi m’a versé de l’alcool fraichement distillé
Remémorons aux jours passés, nous sentant un peu honteux
Nous nous attendrissons et buvons ensemble

..Je lui raconte que ma mère a décédé
Moi. je reste à la maison solitairement
Nhi dit ”Auparavant Maman souvent se plaisantait
Nous nous formeront un couple bien assorti”

Nga: Nguyễn Chân

У перегонного аппарата в эту ночь
Она наливает мне первый дистиллат
Намоминаем л прошлом и смущимся
С душевной болей мы вместе выпьём

77.Я ей расдазал, что мать моя умерла
У нас отстался один только я
Она ответила : Раньше она часто говорила
“Оба мы составимся очень прекрасную пару”

Pháp: Trịnh Phúc Nguyên

Cette soirée,assis auprès de l’alambic,
Nhi me versa la première prise d’alcool,
Confus,nous nous rappelions les jours d’antan,
Nos coeurs attendris,nous en sirotions ensemble.

Je lui racontai:”Ma mère est décédée,
Je reste l’unique de toute ma famille…”
“Autrefois,dit Nhi,souvent,Maman répétait:
Vous deux,vous faites un couple bien assorti!”

Pháp: Phan Hoàng Mạnh

Assis ensemble à côté du fourneau d’alcool dans cette
nuit-là,
Nhi me verserait l’alcool de la première cru.
On se remémorerait le passé dans la confusion,
Et avec amertume, nous deux boirions ensemble
dans un même verre.

Je lui raconterais:” Ma mère est décédée.
De toute la famille, il ne reste plus que moi seul…”
Nhi remarquerait:”Ce temps-là, on parlait souvent
Que nous deux formerons un couple bien assorti…”

 

PHỤ TRƯƠNG TTTB @ No101

                     TMCS

TRUYỆN DÍ DỦM:  TMCS

THE CHILD AND HIS MOTHER

(Gleaned by TMCS)

A curious child asked his mother: “Mommy, why are some of your hairs turning grey?”

The mother tried to use this occasion to teach her child: “It is because of you, dear. Every bad action of yours will turn one of my hairs grey!”

The child replied innocently: “Now I know why grandmother has only grey hairs on her head.”

 

Source: Author Unknown

TMCS’s comment:

 

Think today , speak tomorrow.

(Người Anh dạy nhau :” Nghĩ từ hôm nay, mai hãy nói” )

ĐƯA BÉ  VÀ BÀ MẸ

(TMCS lượm lặt, dịch và kể)

Một đứa bé tò mò hỏi mẹ nó: “Mẹ ơi, tại sao mấy sợi tóc trên đầu mẹ lại bạc hở mẹ?”

Bà mẹ muốn tranh thủ cơ hội này giáo dục con mình, nên trả lời :” Con yêu quý, tại con đó. Mỗi khi con hư thì một sợi tóc của mẹ sẽ biến thành tóc bạc đấy !”

Đứa bé ngây thơ đáp lại :” A, bây giờ thì con mới biết tại sao trên đầu bà chỉ có toàn tóc bạc”.

                                                                 Nguồn : Khuyết danh.

TMCS bình rằng:

Nói không suy trước tinh sau

Đến khi đã thấy thấm đau, muộn rồi !

ĐỐ VUI (TMCS)

– Kì trước.

Quel est le plat préféré des pompiers ?

Rép.: Le pot au feu

– Kì này:

Pourquoi est-ce qu’en Angleterre les maisons ne sont pas solides ?

VÈ VÀ ẢNH  Quà quê:   TMCS bịa vè và nháy ảnh.

Quê  hương là núi là sông

À ơi nhịp võng, cánh đồng cò bay…

Xa xưa, quà mẹ trao tay

Vẫn cùng ta những tháng ngày xa quê !

 

 

 

 

img_0027

 

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

HOA VỚI RƯỢU

Bl(409)TTTB@ No100

PHỤ TRƯƠNG TTTB@ No 100
                           TMCS

THƯ GIÃN.
 
LAN MAN về “TÌNH ĐẸP _ THƠ HAY “.

Chúng ta mấy ai chẳng từng mê mệt, say sưa trước những áng văn thơ vào hàng tuỵệt tác với những đoạn, những câu tả tình, tả cảnh vô giá   mà bao thế hệ người Việt cảm phục, nâng niu gìn giữ như trong Kiều, Chinh Phụ ngâm, … và cả trong kho tàng ca dao quý báu của văn học dân gian nước nhà…Đến nửa đầu thế kỉ 20, ở VN bỗng xuất hiện một thi nhân  viết về một thôn xóm nhỏ,  bình dị như trăm ngàn thôn xóm  khác của vùng đồng bằng Bắc bộ , mà đẹp đến ngỡ ngàng bằng những câu lục bát thoạt tiên cứ  tưởng là đơn sơ, hoá ra đã trau chuốt đến độ cực kì tinh xảo, mới đọc thầm bằng mắt mà đã thấy lung linh, du dương như khi vừa thưởng thức một bức danh hoạ trăm hồng ngàn tía vừa chìm vào giai điệu trầm bổng với sáu thanh kì diệu trong tiếng Việt của một   khúc nhạc theo cung điệu sáu tám mê li tuyệt đỉnh: 
Thôn Vân có biếc, có hồng 
Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều. 
Đê cao có đất thả diều 
Trời cao lắm lắm có nhiều chim bay. 
Quả lành nặng trĩu từng cây 
Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen. 
Hiu hiu gió quạt, trăng đèn 
Với dăm trẻ nhỏ thả thuyền ta chơi. 
Ăn gỏi cá, đánh cờ người 
Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân
(Trích Anh về quê cũ của Nguyễn Bính)

Đấy quả là một bức tranh “sơn thuỷ hữu Tình” đẹp tuyệt vời được vẽ bằng hơn hai chục chữ cái a,b,c theo thể loại lục bát dân gian.  Đúng là một bức tranh vừa có  “Thần” vừa giàu “Tình”, rất xứng đáng được đánh giá là “Thần tình  Thi – Hoạ – Nhạc phẩm ” ba trong một, một gồm ba ! Chẳng cần có trình độ thẩm mỹ cao siêu, ai ai cũng cảm nhận rõ mồn một nét đẹp thuần Việt ở nơi được coi là cái nôi của nền văn minh sông Hồng, có nền văn hoá lúa nước rạng rỡ mấy ngàn năm lịch sử…
Giang sơn gấm vóc của nước Việt ta đâu chỉ nức danh thiên hạ nhờ những kì công của Tạo hoá như Vịnh Hạ long…mà còn nhờ vô số những xóm làng thân yêu như thôn Vân, mà bài thơ trên của NB là một bức chân dung chân thực vừa bình dị vừa thần kì, hoàn hảo !

TMCS thường tự hỏi: tại sao trước cùng một cảnh ngộ, một tình huống, một phong cảnh, một cảm xúc… lại có những nhà thơ  diễn đạt Tài và Tình vượt trội lên, hơn hẳn bao nhiêu người khác thế nhỉ ? Gọi là tuyệt kĩ , lời vàng ý ngọc… nhưng soi vào từng câu, từng chữ thì quá thân thuộc, toàn những từ ngữ đơn giản quá chừng mà sao họ sắp xếp thế nào mà rung động lòng người, xao động tâm hồn đến thế ! Câu thơ của họ viết chưa cần ngâm nga thành tiếng, cứ đảo mắt xem qua đã thấy ngọt lịm tựa như nhìn thấy quả mơ, quả mận lả ứa nước miếng, tuy đầu lưõi mình chưa hề tiếp xúc với trái cây hàm chứa vị chua còn ở đâu đó,  khá xa kia vậy !

Gặp những trường hợp quý hiếm này, ta hầu như cạn hết từ ngữ để ngợi khen mà chỉ còn biết bình rằng : Quả là vừa Tài vừa Tình, cũng là rất Thần, rất Tình…Cái Tình quá Đẹp làm cho Thơ cũng Đẹp như Tình vậy !

TMCS đã bao lần trăn trở, cuối cùng đành quay về luận cứ kinh điển : Văn thị nhân dã ( văn là người vậy !) – Thơ cũng tức là Người ! Những nhà thơ có tâm hồn Đẹp thì mới viết được những câu thơ Đẹp… Trong mấy câu trên ta thấy thôn Vân quá đẹp, ấy cũng chỉ vì cái Tình của tác giả với thôn Vân quá Đẹp !Muốn có được cái tình Đẹp đến như vậy , NB phải có một tâm hồn Đẹp tương xứng với mức Đẹp của Tình yêu thôn Vân … ! 

Và nhân đây , TMCS cũng xin mạnh dạn nêu một khía cạnh của cái Hay trong thơ :

Phải chăng một bài thơ được coi là Hay hoặc Không cũng còn tuỳ cảm nhận của người đọc. Chỉ những ai đồng cảm với tác giả mới thấy bài thơ HAY, những người cảm thụ theo hướng khác sẽ chẳng thấy chỗ HAY mà ngược lại còn cho là nhàm chán ! Thường thì những bài Thơ phù hợp với cảm nhận chung của công chúng thơ sẽ được CÔNG nhận là thơ Hay và được lưu truyền qua nhiều thế hệ…

Ở trình độ còn “lỗ mỗ”, chưa dám hạ một KL võ đoán, nhưng về cảm tính, TMCS  đã thấy: Thơ HAY chẳng những  phải có Lời thơ, Tứ thơ đẹp mà trước tiên phải có TÌNH ĐẸP, nhiều khi yếu tố  này q/đ tất cả.

Thí dụ: bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên, hình ảnh và con người Đẹp, câu kết cũng quá Đẹp – tạo ra Tình trong thơ rất ĐẸP, đã làm cho bài thơ trở nên Hay đến bất tử :

Những người muôn năm cũ 
Hồn ở đâu bây giờ !

Xin nêu một thí dụ cụ thể nữa – TMCS xin phép quý vị đánh bạo  võ đoán nhận định qua một thí dụ về một trường hợp rất, rất độc đáo- : có những bài trong đó lời thơ còn sơ sài, mộc mạc, vốn dĩ chỉ  là một bản sơ thảo, một bức “tốc” hoạ, thậm chí cá biệt có câu chữ còn chưa thực hoàn hảo, ấy thế mà nhờ Tình trong thơ Đẹp  khiến cho cả bài  vẫn đương nhiên lung linh Đẹp như một tuyệt tác đã hoàn chỉnh…Người đọc dễ dàng cho qua chỗ còn sơ xuất trong bài thơ để tiếp nhận cái ĐẸP bao trùm tất cả ! 
 
Có thể ai đó đọc đến đây sẽ tủm tỉm cười: – Ôi! TMCS, người lại muốn lập dị đưa ra ý kiến khác đời chăng? – Xin quý vị hãy bình tĩnh đọc tiếp đến cuối bài đặng thấy rõ tất cả…

 TMCS lại xin cố ý lạc đề lan man chút xíu trước khi đi vào trường hợp hi hữu đã dự kiến sẵn : 

Nhiều năm về trước, bước sang nửa sau của thế ki 20, một hôm TMCS ngắm bức ảnh chụp Ông đồ của Trần Văn Lưu, bức tranh vẽ Ông đồ của Bùi Xuân Phái  trong một số báo Xuân…rồi lẩm nhẩm ngâm bài : Mỗi năm hoa đào nở… (của VĐLiên ) chợt nảy hứng dịch bài này sang chữ Hán, lúc ấy thi hứng cuồn cuộn dâng lên, bèn lấy bút lông, mực Tàu chép ra giấy Xuyến chỉ ( còn gọi là  giấy Tuyên- loại giấy này quý lắm,  có lịch sử trên ngàn rưởi  năm) đem đến ông chú vốn là bạn học bảy năm Trường Bưởi với nhà thơ Vũ Đình Liên, để “vòi”  ông dẫn đến tư gia nhà thơ VĐL trao tận tay tác giả bài dịch chữ Hán . Hôm ấy, cụ Liên chỉ cho hai chú cháu xem bức ảnh lồng kính  cụ chụp chung với nhiếp ảnh gia Trần Văn Lưu, hoạ sĩ Bùi Xuân Phái – ba vị này đều chung một dòng cảm hứng về ÔNG ĐỒ: người thì chụp ảnh, người thì vẽ, người lại làm thơ cùng xoay quanh chủ đề Ông đồ  ! Cụ VĐL đọc xong bản dịch của TMCS, bảo thích những  câu dịch Lá vàng rơi trên giấy, Ngoài trời mưa bụi bay , và Bao nhiêu người thuê viết, Tấm tắc ngợi khen tài…Mấy hôm sau cụ nhờ ông chú chuyển cho TMCS bài thất ngôn bát cú để cám ơn trong đó có hai câu :

“Mang mang châm vũ” lời thơ đẹp
“Khẩu dị ngôn đồng” ý tứ sâu.

Ở cái tuổi “tam thập nhi lập” được cha chú, lại là một nhà thơ lớn cỡ VĐL khen thì còn gì sướng bằng. TMCS  vì hay có việc liên quan, nên được biết VĐL không chỉ nổi tiếng với người VN mà cả với các sứ quán  sử dụng tiếng Pháp nhờ bài Ông đồ được dịch sang thơ Pháp lưu truyền khá rộng rãi thời kì đó,  Mấy đời  ĐSứ và tuỳ viên sứ quán Pháp ở Vn đều biết đùa VĐ Liên là Bô-đờ- Liên* vì cánh cụ Tôn Thất Tùng , Nguyễn Tuân …trong các buổi SQ Pháp tiếp xúc riêng với trí thức , văn nghệ sĩ thời đó đã giới thiệu với đoàn  NGiao Pháp: VĐL là “Le fervent de Beaudelaire” gọi chệch là Bô-đờ-Liên ! TMCS chỉ nhờ “bẻm mép” văn nói  song ngữ nên kì nào cũng thường được “vời” đến làm tình nguyện viên tiếp tân trong các cuộc giao lưu văn hoá ( Thời đó tuyệt đối ko có thù lao “bồi dưỡng”, phong bì, phong bao  gì cả).

(*Charles Baudelaire (1821-1867) là nhà thơ lớn của văn học Pháp thế kỷ XIX thuộc trường phái tượng trưng chủ nghĩa. Ông sinh tại Paris, mồ côi cha lúc 6 tuổi, mẹ tái giá và đã gửi ông vào một ký túc xá. Ông theo gia đình sang Ấn Độ vào năm 1841, sau đó trở về Paris, sống cuộc đời kham khổ, thiếu thốn và bắt đầu sáng tác. Ông tham gia cuộc cách mạng tháng 2-1848 một thời gian ngắn. Thi sĩ đã gặp vài kiều nữ như Jeanne Duval, Marie Daubrun, Apollonie Sabatier, và chính những người phụ nữ đẹp này đã đem nhiều cảm xúc, cuồng nhiệt và thi hứng cho những dòng thơ chập chờn mộng ảo của ông. Năm 1867 ông bị bệnh ốm nặng, qua đời sau một thời gian bị bại liệt tàn phế. Thi phẩm Les fleurs du mal (Hoa khổ đau, 1857) là một thi phẩm nổi tiếng của ông).
 
Cả ba vị gồm nhiếp ảnh gia, hoạ sĩ và nhà thơ đều giống nhau ở tâm hồn rất Đẹp nên mới có được những tác phẩm Đẹp đến vậy !
Xin kính mời quý vị xem bức ảnh treo ở nhà cụ VĐL năm TMCS đến tặng cụ bản dịch chữ Hán bài thơ Ông Đồ  mà báo chí sau này đã giới thiệu bức ảnh đó do con trai cụ VĐL cung cấp:

 
 
 
Con trai danh hoa Bui Xuan Phai cong bo anh quy ve Vu Dinh Lien ben 'ong do gia' - Anh 3
Từ trái qua: Nhiếp ảnh gia Trần Văn Lưu – Vũ Đình Liên – Bùi Xuân Phái. Ảnh tư liệu gia đình họa sĩ Bùi Thanh Phương.
 
Bây giờ xin mời quý vị coi cái thí dụ mà TMCS muốn thuật hầu quý vị :
 
Tuần này, TMCS xin giới thiệu hầu quý vị một nét đẹp về thi nhân Vũ Đình Liên qua  bài thơ “Người đàn bà điên ở ga Lưu xá” để chứng minh rằng:
 
TÌNH ĐẸP trong Thơ mới là yếu tố hàng đầu khiến một bài thơ trở nên HAY , mặc dù lời thơ đơn sơ như lời kể chuyện, tứ thơ không có gì đặc sắc lắm. Thậm chí theo TMCS, cá biệt có câu chữ còn chưa “ổn” , thế mà toàn bài vẫn cứ Hay và có thể là Rât Hay !!!
 
… … Số là năm ấy cụ Liên đi du Xuân bằng tàu hoả lên Thái Nguyên, cụ mang theo bánh chưng và mứt tết. Trên tàu cụ thấy một bà điên dáng vẻ  xinh đẹp, ăn mặc rất tiều tuỵ, hôi hám- ai hình như cũng muốn tránh xa… Đến ga Lưu xá, cụ Liên lấy bánh chưng và mứt sen ra  làm quà Tết trao cho bà điên rồi tranh thủ hí hoáy  viết một bài thơ, sau đó cũng chẳng  mấy để ý sửa sang hoàn chỉnh. … Nhà thơ và bà điên chia tay nhau , không ai ngỏ một lời hẹn hò tái ngộ với ai…Khoảng mươi năm sau, VĐL gặp lại bà điên ấy vẫn ở ga Lưu xá, nhưng lần này bà ta đã đỡ tiều tuỵ, tỉnh táo  hơn và hình như đã lờ mờ nhớ ra chút gì đó và biết “ dăm câu ba điều” trước lúc chào từ biệt VĐL …
 
Khoảng mười lăm  năm sau tính từ cuộc gặp lần đầu, một hôm có một thiếu phụ xinh đẹp, ăn mặc lich sự gõ cửa tìm gặp VĐL tại nhà riêng ở HN , đó là bà điên năm nào ở ga Lưu Xá  nay đã hoàn toàn bình phục…
 
Người ngoài cuộc khó mà mường tượng được niềm vui tột độ của họ : Bà điên năm xưa mừng mừng tủi tủi gặp được người coi như ân nhân đã quan tâm đến thân phận rồ dại của mình. Cụ Liên  thì rào rạt niềm vui trong trái tim đầy lòng nhân ái trước  một phận hồng nhan đã thoát khỏi những năm tháng khốn khổ, tưởng chừng bênh tật đã huỷ hoại tan nát một ĐỜI HOA !
 
Vũ Đình Liên đã viết về người thiếu phụ trong cuộc tái ngộ đó:
 
      Thịt da trầm tỏa hương bay
 Như hồi đôi tám thơ ngây má hồng. 
 
Đọc được hai câu này, TMCS vô cùng cảm động mà rằng :
 
       Người điên trở lại Nàng Tiên,
TÌNH trang thơ Vũ Đình Liên sáng ngời !
       Xét cho cùng ở trên đời,
Có chi sánh kịp Tình Người nặng sâu.
       Muôn sau sông núi dài lâu
Vang lời thơ Đẹp, thắm câu Nghĩa Tình…
 
Cũng để bớt gánh nặng cho các cháu  sinh viên VN hải ngoại, tinh nguyện viên thân thiết của TTTB@, TMCS xin tạm dịch ra Ăng-lê luôn bài thơ dưới đây và có đôi lời giới thiệu tóm tắt về bánh chưng để bạn đọc nước ngoài chưa đến VN biết được sơ sơ thế nào là bánh chưng.
 
NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐIÊN GA LƯU XÁ 
 
 
Thơ Vũ Đình Liên
 
Người đàn bà điên ga Lưu Xá
 Ngồi ngay trước mặt dưới chân tôi
 Ai vẽ được thiên tài hội họa
 Chân dung kia kinh tởm tuyệt vời
 Công chúa điên rồ và rách rưới
 Hình ảnh lạ lùng chửa có hai
 Cả tưởng tượng Đông Tây cộng lại
 Khôn dựng nên dù một phần mười
Bao tải xơ ni lông nát vụn
 Sợi dây thừng buộc mũ rách bông
… Tôi ngồi ngắm mắt không hề mỏi
 Đống rác kia xưa đã là hoa…
 Ai run rủi và ai sắp đặt
Một nhà thơ với một người điên
 Tôi bắt gặp ba lần cặp mắt
 Nhẹ căm thù như muốn làm duyên
 
Nhà thơ Vũ Đình Liên kể tiếp chuyện gặp người đàn bà điên ở ga Lưu Xá cho mọi người nghe, ông viết : khi trong toa xe mọi người đã xuống hết, không còn ai nữa. Ông lấy trong túi xách ra một gói bánh chưng và mứt  sen,  hai tay nâng gói quà Tết trao cho người đàn bà điên:
 
Người nhận quà đưa tay đón tay
 Chẳng rằng chẳng nói mặt như ngây
 Chia tay không một lời hò hẹn
 Hai mặt ảnh hình bốn mắt ghi…
 Tôi đi tìm đến những người thân
 Bè bạn cháu con xa với gần
 Ngày Tết cổ truyền vui thiếu đủ
 Nhìn mặt người như ngắm hoa xuân
 Còn tôi biết cuộc đời đã trút
Lên hoa kia sương tuyết nặng dày
 Đời độc ác lòng người bội bạc
 Làm hoa kia thành đống rác này
 Đời sẽ đổi lòng người sẽ đổi
Sẽ trở về tình xót nghĩa thương
 Hãy trút hết áo quần hôi thối
 Cho thịt da lại toả hương thơm
 Người em Lưu Xá ở đâu đây
Có thấy ấm lòng xuân nắng hây
Một đóa hoa tàn nay nở lại
 Thắm hồng trong buổi mới xuân nay”.
 
THE MAD WOMAN AT LƯU XÁ RAILWAY STATION
(Poem by Vũ Đình Liên – Translation by TMCS)
 
At Lưu Xá railway station,
That mad woman is sitting 
In front of me, near my legs. 
Only a  genius painter coming here
Can make a terrible and. wonderful portrait
Of  that mad and ragged princess.
This weird image is incomparable,
Even with the combine
Of the Eastern and Western imagination,
They cannot portray 
Even  a very small  part of that piece of life!
She is in a big ragged plastic bag
And an old cotton hat roped on her head. 
I untiringly contemplate her
That heap of garbage in the past was a flower !
By someone’s preparation or by the arrangement of fate,
So that  a mad woman can meet with a poet.
More than once, I see in these two eyes
The hatefulness is already lessening
And the discreet charms are revealing.
 
 
…. At Lưu Xá railway station, after  all passengers get off from the coach, Vũ Đình Liên  takes from his  bag  “bánh chưng”* and “mứt sen” (sugar preserved lotus seeds)  in a very friendly manner  gives it to   this mad lady as his gift of Lunar New Year day : 
 
The receiver extends her hands to the donor’s hands.
She doesn’t speak any  word,
The stupidity seems to appear on her face at the moment.
At their separation, not any appointment is given.
In the eyes of each of them is the figure of the other.
On the Lunar New Year Day,
When I visit my relatives  and my friends,
All of them are as brilliant as the spring flowers,
Despite being rich or poor men.
I know well that this woman
Was also like a flower
But upon which heavy mist and snow 
From this world fell down  !
This cruel world and people with unfaithful hearts
Have transformed this flower into a heap of garbage. 
This world and people must be changed
The pity will return to them in the end.
All fetid clothes of hers will be rejected one day
So that from her  the fragrance  will spread away.
Oh! dear Lady of Lưu Xá station
Do you feel the sunny spring in your mind?
A withered flower blooms again, It’s so nice,
And so pink in this dawn of spring and of life!
 
Note:
* Bánh chưng is a traditional Vietnamese rice cake which is made from glutinous rice, green bean, pork and other ingredients. Its origin is told by the legend of Lang Liêu, a prince of the  king of the Sixth Hùng Dynasty, who became the successor thanks to his creation of bánh chưng and bánh dầy, which symbolised, respectively, the Earth and the Sky. Considered an essential element of the family altar on the occasion of tết, the making and eating of bánh chưng during this time is a well-preserved tradition of Vietnamese people.
 
Bài thơ này rất ít người biết. TMCS đã đọc được ở nhà ông chú mình và ghi lại, còn tình tiết lai lịch bài thơ thì đã lãng đãng nhớ nhớ quên quên…,nay chủ yếu xin giới thiệu hầu  quý vị  nội dung bài thơ để thấy rằng tuy lời lẽ chưa kịp trau chuốt kĩ càng, câu ba về cấu trúc còn tối nghĩa (tuy rằng đọc lên ai cũng nhận ra tác giả nói gì) và mấy câu tiếp sau thậm chí còn hơi “ thô, vụng” nhưng tâm hồn Đẹp của nhà thơ tác giả Ông đồ vẫn làm cho bài   “Người đàn bà điên ở ga Lưu xá”  trở thành một tuyệt tác hiếm hoi, lấp lánh sáng đẹp  tựa như một viên ngọc quý chưa hề tốn nhiều công sức mài giũa ! Đó là một vẻ Đẹp tự nhiên, rất tinh khiết, gặp người đọc đa cảm và đồng cảm sẽ có khi sức lôi cuốn, cảm thụ vượt xa những bài dày công tỉa tót, trau chuốt mượt mà quá mức, nhiều khi gây cảm giác gượng gạo, có chút gì đó gọi “nôm na” là phóng đại, tô màu… bởi lẽ khi mài giũa quá tay, tác giả  đã vô tình “gọt” đi mất một phần tính chân thực để đổi lấy vẻ  ‘bóng lộn” cho bài thơ khi mới hình thành…
 
Rất có thể, trong số quý vị – ấy là TMCS đoán già đoán non  – đọc xong phần thơ trên sẽ tặc lưỡi : Chưa đến nỗi dở thôi, có gì “lấp lánh” như TMCS nhận xét đâu  ! Cho dẫu sự thể có như vậy, TMCS cũng chẳng thấy bất ngờ ! Sở dĩ vị nào có lỡ nhận xét như vậy, cũng là điều dễ hiểu : Quý vị chưa có dịp tiếp xúc trực tiếp với “Bô-đờ- Liên”. Chỉ qua việc chút ưu ái cho một người điên trên tàu đã là nét đẹp nhân văn đáng làm gương tốt vè tính nhân văn nhân ái rồi. Còn nếu ta biết được hàng ngày, những sự việc lặt vặt như “ bà con lối xóm” người nọ kể cho người kia, còn truyền khẩu mãi… thì càng dễ cảm nhận chất thơ VĐL.
 
Có hôm cụ Liên đi đâu về gần đến nhà , thấy một người đàn ông đang thượng cẳng tay, hạ  cẳng chân đánh đập túi bụi một cháu bé, cụ đã động lòng thương trẻ, dừng bước năn nỉ, can ngăn bằng được người cha đang cơn nóng giận…Tối đến, vào giờ cơm nước xong, người đàn ông nọ đã mang gói trà Ba đình sang tạ ơn cụ Liên và hứa từ nay sẽ không nóng nảy như vậy. Họ uống trà với nhau tối hôm đó và sau này trở thành thân thiết như chỗ a/e họ mạc, sớm lửa tối đèn có nhau… Còn cháu bé vì trốn học đi chơi bị trận đòn mê tơi kia lần nào gặp cụ Liên cũng khoanh tay “Chào ông ạ”! 
 
Lại có lần, trời vừa mưa xong đường còn lầy lội, cụ Liên gặp một  ông cụ đi qua gần nhà  chẳng may trượt chân ngã, lấm be bét cả. Cụ Liên chẳng những dừng lại đỡ cụ già dậy, mà còn dìu ra vòi nước máy công cộng, mở vòi nước  giúp  ông cụ rửa những chỗ lấm láp. Thấy  ông cụ  rét run  lấy bẩy, cụ Liên tặng luôn ông cụ  chiếc mũ be-rê đang đội trên đầu…
 
Những chuyện tưởng chừng “nhỏ như con thỏ” ( Ngôn ngữ đường phố trong cuốn sách của NXB Nhã Nam “Sát thủ đầu nung mủ” từng bị ăn đòn, ném đá tơi bời) thường xuyên xảy ra một cách tự nhiên đối với một cử nhân luật trước 1945, dạy Pháp văn ở hai trường ĐH ở thủ đô HN, từng kinh qua Trưởng khoa Pháp, hơn nữa lại là một thi nhân Tiền chiến  từng lọt vào “mắt xanh” của hai nhà bình Thơ nổi tiếng HT và HC, có hai bài bất hủ “ông Đồ” và “Lòng ta là những hàng thành quách cũ” được giới thiệu trong Thi nhân VN ngay sau Tản Đà và Thế Lữ, với  4000 bài nữa chưa công bố rộng rãi (TMCS xin viết bằng chữ, quý vị chớ giật mình : BÓN NGÀN BÀI THƠ  !)- tất cả hội thành MỘT NHÂN CÁCH LỚN, MỘT TÌNH CẢM ĐẸP  phản ánh vào từng lời thơ của VĐL…
 
 Ông chú TMCS có kể lại : Cụ Bô- đờ Liên đã gửi một bức thư cho  HT & HC  đại ý viết rằng tôi sẽ chỉ công bố những bài nào có đủ chất THƠ ! Một con người rất khiêm tốn, rất nhân văn.  Tâm hồn của Bô- đờ- Liên nhân hậu và ĐẸP như thế, hèn nào thơ NHÁP về bà điên trên tàu hoả cũng lấp lánh toả sáng ! Dễ dàng gì khi chỉ đọc thiên kinh vạn quyển mà  thấy được cái ĐẸP trong THƠ VĐL nếu không biết gì về tâm hồn và nhân cách VĐL trong cuộc sống đời thường!
 
TMCS chợt nhớ đến một nhà “TÁN” thơ nổi tiếng, nguyên cũng là một nhà thơ Tình lừng lấy một thời, có chân trong TLVĐ. Sau này khi sức viết đã giảm sút thì thường  chuyên đi các nơi làm cái việc  “bán cháo phổi” : “Tán” thơ ! bốc thơm  chú bé  “thần đồng TĐK” lên chín, mười tầng mây và tự coi đó như một “phát minh “ và hết lời CA NGỢI một vài nhà thơ đang ở  thế “Thượng phong”, đồng thời kết hợp  “tự đánh bóng mạ kền” bản thân…… ! Nhà “tán Thơ”  này chót lỡ mồm lỡ miệng từng phát ngôn : VĐL là nhà thơ thuộc loại “khó đẻ”, suốt đời chi  được một “ông đồ” là đáng ghi nhận, rồi xịt ngòi…Ôi , sai lầm và chủ quan,  ngạo mạn quá chừng !
 
TMCS tuy ngoại đạo, lại trình độ chỉ mãi mãi lè tè, là là ngọn cỏ, cũng xin hẹn quý vị có dịp sẽ quay lại giới thiệu đôi nét và một hai thi phẩm nữa của VĐL,  hi vọng sẽ được hân hạnh đem lại hầu quý vị chút thi vị thắm thiết tình Đời và tình Người của chất thơ VĐL…chứ không phải như nhận định của nhà Tán thơ “tào lao” kia đâu …
 
Mấy câu cuối của bài Người đàn bà điên ở ga Lưu Xá:
 
 Người em Lưu Xá ở đâu đây
Có thấy ấm lòng xuân nắng hây
Một đóa hoa tàn nay nở lại
 Thắm hồng trong buổi mới xuân nay”.
 
sao mà nhân ái, phúc hậu vậy, lời mong ước của thi nhân sau nhiều năm đã thành hiện thực ! cuộc tái ngộ giữa thi nhân và bà điên ấy đã làm cho ai biết chuyện càng cảm nhận thêm tác phẩm thơ tuyệt diệu của VĐL đã gắn liền với Tình Người và với đạo đức nhân văn sáng ngời của một nhà Thơ , một nhà Giáo…
 
Để kiểm chứng  nhận xét còn chông chênh của mình, sau khi đọc cho hai bạn Tây nghe qua phone, TMCS đã cất công lần lượt đem bản dịch bài thơ Người đàn bà điên ở ga Lưu Xá đến từng nhà hai bạn Tây để thận trọng lắng nghe ý kiến họ với giả thiết rằng dù mình đã gắng sức dịch tốt mấy thì cũng chả bằng cụ VĐL viết “nháp” tiếng mẹ đẻ. Tuy  hai bạn Tây ở hai nơi cách nhau ngót giờ  đồng hồ trên đường cao tốc ( tính ra khoảng bảy, tám chục Km), hai bạn ấy  ( đều không biết tiếng Việt) đã bất ngờ có nhận xét độc lập mà chồng khít nhau( như định nghĩa hai tam giác bằng nhau ): “Thật tuyệt vời ! Tôi chẳng biết cái bánh chưng và mứt sen quý giá thế nào trong ngày Tết âm lịch ở VN, nhưng TÌNH NGƯỜI thật là tuyệt vời ! Thơ thế mới là Thơ !!! Hình như xưa nay trong thi ca chưa xuất hiện tinh cảm của một nhà thơ với một  thiếu phụ điên như nội dung bài thơ này…” 
 
Đến đây, TMCS đã phải mau miệng ngắt lời  bạn Tây mà rằng : “ Đây mới chỉ bản dịch lỗ mỗ của một người dịch nghiệp dư tàng tàng, chắc có phần đã rơi vãi, mất mát…Nếu sau này tìm đâu được bản dịch tốt hơn…
 
Ấy là chưa nói đến đoạn tiếp theo- ngoài phạm vj nội dung bài thơ, khi TMCS kể rằng nhiều năm sau, thiếu phụ kìa khỏi bệnh điên, đến tạ ơn nhà thơ và dấy lên niềm vui của cả hai người…thì các bạn Tây đã vô cùng cảm động. Cũng vẫn là không hẹn mà nên, ở hai địa điểm khác nhau, hai bạn Tây đã gợi ý giống hệt nhau : TMCS nên viết thành Truyện ngắn bài thơ này, gửi đăng trên tạp chí Văn học tiểu bang và liên bang, cứ dùng thứ tiếng Anh đã dịch thơ mà viết truyện ngắn thì chắc chắn sẽ đủ để thành công …TMCS chưa dám nhận lời động viên này vì ý thức rõ ràng rằng “khua môi múa mép” rồi “lời nói gió bay” thì  còn có cơ “ăn may” được, vì tuy “nói” Ăng-lê  khó mấy  vẫn dễ hơn gõ thành văn tự, để lại bút tích lâu dài…Thậm chí ai đó bảo TMCS viết thành truyện ngắn tiếng Việt có nội dung đơn giản nhất thì cũng đành xin kiếu : Em chưa dám ! Ai dại chi mà đi thi thố cái sở đoản của bản thân ! 
 
Với mức độ cảm nhận và hiểu biết của mình, TMCS nhận thấy rõ rệt qua thơ VĐL, cái Tâm và cái Tài của thi sĩ này hoà quyện gắn bó với nhau khăng khít, hầu như chỉ còn là một. AI đó bảo rằng thơ VĐL HAY vì chan chứa Tình người và tính Nhân văn  cũng đúng, mà ai đó đảo ngược lại, Thơ VĐL chan chứa Tình người và tính Nhân văn nên rất Hay, cũng càng đúng. Với TMCS, đây chính là một Reciprocal theorem (Định lí đảo – Định lí thuận nghịch) !
 
Tiếp bài Ông Đồ đã trau chuốt, thành công rực rỡ trên thi đàn VN , bài thơ còn mộc mạc như một phác thảo “Người đàn bà điên ở ga Lưu xá” càng chứng minh rõ nét nhận định chủ quan nói trên của TMCSphần nào CÓ LÝ.
  
TMCS xin tạm khái quát cảm nhận về Thơ VĐL như sau:
 
                                Trăm năm trong cõi người ta
                           Chữ Tâm vốn dĩ bằng ba chữ Tài,
                                Thơ Người vừa đọc mấy bài
                        Hậu sinh thấm thía Tâm Tài hoà nhau.
                              Từng bài ,từng khổ, từng câu,
                        Từng lời, từng chữ – thấm sâu Tình Người ! 
                                                        
                                                         X 
 
KẾT LUẬN NGẮN GỌN CỦA TMCS CHO MỤC THƯ GIÃN:
 
Thơ HAY chủ yếu ở cái TÌNH ĐẸP trong thơ, dù gặp phải trường hợp hi  hữu, chưa kịp trau chuốt, chỉnh sửa, câu chữ cá biệt chưa ổn lắm… như bài Người đàn bà điên ở ga Lưu Xá của VĐL. ( Tất nhiên khi có điều kiện trau chuốt như bài về Thôn Vân bởi một thi tài như NB thì khỏi phải luận bàn ).
 
                                                       X
 
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI VỀ NB:
 
 
Có một số phản hồi của bạn đọc trùng hợp nhau về nội dung muốn tìm hiểu thêm về NB, TMCS xin tham khảo tư liệu chính thức trong BKTT trả lời chung như sau:
 
– HỎI :
Gia cảnh thế nào mà NB đến nỗi không có đ/k theo học ở nhà trường?
 
ĐÁP:
Nguyễn Bính sinh ngày 13-2-1918, tức mồng ba Tết năm Mậu Ngọ với tên thật là Nguyễn Trọng Bính tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Cha Nguyễn Bính tên là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, còn mẹ ông là bà Bùi Thị Miện, con gái một gia đình khá giả. Ông bà sinh được ba người con trai là Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường), Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Bính.
Bà Miện bị rắn độc cắn rồi mất năm 1918, lúc đó bà mới 24 tuổi. Để lại cho ông Bình ba đứa con thơ, khi đó Nguyễn Mạnh Phác mới sáu tuổi, Nguyễn Ngọc Thụ ba tuổi và Nguyễn Bính mới sinh được ba tháng. Đúng như câu thơ ông viết:
 
Còn tôi sống sót là may
Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ
 
Mấy năm sau ông Bình cưới bà Phạm Thị Duyên làm vợ kế (bà sinh được bốn người con, hai trai hai gái).
 
Bà cả Giần là chị ruột của mẹ Nguyễn Bính, nhà bà lại giàu có, nên bà cùng ông Bùi Trình Khiêm là cậu ruột của Nguyễn Bính và là cha của nhà văn Bùi Hạnh Cẩn, đón ba anh em Nguyễn Bính về nuôi cho ăn học. Nguyễn Bính làm thơ từ thuở bé, được cậu Khiêm khen hay nên được cưng.
Trúc Đường thi đỗ thành chung  vào loại giỏi ở Hà Nội, rồi dạy học trong một trường tư thục ở Hà Đông, Trúc Đường bắt đầu viết văn và làm thơ. Ông đón Nguyễn Bính lên và truyền dạy cho Nguyễn Bính văn học Pháp. Cuộc đời của Nguyễn Bính gắn bó Với Trúc Đường cả về văn chương và đời sống.
 
– HỎI:
Nghe nói NB là thi sĩ giang hồ, yêu nhiều lần, vậy về đường vợ  và con cái thế nào ?
 
ĐÁP:
NB có bốn vợ và ông có với mỗi bà vợ một người con.
 
Vợ
Vợ đầu: Nguyễn Lục Hà (Tức Nguyễn Hồng Châu – cán bộ Việt Minh)-Nhờ sự mai mối của ông Lê Duẩn, NB kết hôn với bà Nguyễn Hồng Châu (một cán bộ Việt Minh hoạt động ở Nam bộ), ông sinh một con gái với bà này, đặt tên là Nguyễn Bính Hồng Cầu cũng là một nhà thơ nữ khá nổi tiếng ở miền Nam VN. TMCS  sẽ có dịp giới thiệu và dịch thơ của nữ sĩ này trên TTTB@. 
Vợ hai: Mai Thị Mới
Vợ ba: Phạm Vân Thanh (không chính thức)
Vợ tư: Trần Thị Lai
 
Con
Nguyễn Bính Hồng Cầu – Con bà Hồng Châu (vợ đầu)
Nguyễn Hương Mai – con bà Mai Thị Mới
Nguyễn Hiền (mất tích khi còn nhỏ) – con bà Phạm Vân Thanh (vợ không chính thức)
Nguyễn Mạnh Hùng (hiện đang sinh sống ở Nga) – con bà Trần Thị Lai
 
Còn một số câu hỏi khác liên quan đến Báo Trăm Hoa,  Thơ NB có được phổ nhạc  không , những bài nào …v.v… TMCS sẽ thu xếp trả lời trong các kì tới.
 
                                                   X
 
TTTB@ No100 xin giới thiệu tiếp Hoa với rượu khổ 19-20 cùng các bản dịch Anh, Pháp, Nga, Hán.
Các phần khác như thường lệ
 
Kính thỉnh nhã giám.
   TTTB@-TMCS
HOA VỚI RƯỢU (Khổ 19-20)
Thơ Nguyễn Bính.
TMCS: dịch Anh, Hán.
Nguyễn Chân; dịch Pháp, Nga.
Trịnh Phúc Nguyên: dịch Pháp.
Phan Hoàng Mạnh: dịch Pháp.
Ngồi bên lò rượu đêm hôm đó,
Nhi rót đưa tôi nước rượu đầu .
Nhắc lại ngày xưa mà thẹn lại ,
Ngậm ngùi hai đứa uống chung nhau .
 
Tôi kể: “U tôi đã mất rồi,
Cửa nhà còn có một mình tôi …”
Nhi rằng: “Ngày trước u thường nói
Hai đứa mình trông đến đẹp đôi …”
 
Anh: TMCS
 
Sitting by the oven that night
Nhi pours for me the first cup of liquor.
Repeating the memory of the past, once again we both are shy
Being grieved, we drink this same cup together.
 
I tell her: “My Mom passed away.
At home I alone stay…”
Nhi says:” Mom said- in the past-
That we look like a good match…
 
Hán; TMCS phiên âm , dịch nghĩa.
 
Toạ tại tửu lô biên thử dạ       Ngồi cạnh lò rượu đêm hôm đó                  
Thủ bôi vị ngã Nhi thân châm  Nhi tự tay rót chén rượu đầu cho tôi
Vãng thời đề khởi đồng tu quý Nhắc đến ngày xưa cùng thẹn thùng
Cộng ẩm cha môn sầu mãn tâm.  Hai đứa cùng uống lòng buồn rầu.
 
Ngã giảng : Mẫu thân dĩ quá thế         Tôi kể: Mẹ đã mất rồi
Gia trung duy hữu ngã đơn thân.     Nhf tôi chỉ còn mình tôi
Nhi đàm: vãng nhật mẫu thường viết  Nhi bảo: Xưa mẹ hay nói
Cha lưỡng thành duyên vi tuyệt luân!   Hai đứa nên đôi đẹp tuyệt trần
 
Chữ Hán : TMCS
 
坐在酒爐邉此夜
首杯為我兒親斟
往時提起同羞愧
共飲咱們愁滿心
 
我講母親已過世
家中惟有我單身
兒談往日母常曰
咱倆成緣為絕倫 
Pháp: Nguyễn Chân
 
À côté de l’alambic à cette soirée
Nhi m’a versé de l’alcool fraichement distillé
Remémorons aux jours passés,  nous sentant un peu honteux
Nous nous attendrissons et buvons ensemble
 
..Je lui raconte que ma mère a décédé
Moi. je reste à la maison solitairement
Nhi dit ”Auparavant Maman souvent se plaisantait
Nous nous formeront un couple bien assorti”
 
Nga: Nguyễn Chân
 
У перегонного аппарата в эту ночь
Она  наливает мне первый дистиллат
Намоминаем л прошлом и смущимся
С душевной болей мы вместе выпьём
 
77.Я ей расдазал, что мать моя умерла
У нас отстался один только я
Она ответила : Раньше она часто говорила
“Оба мы составимся очень прекрасную пару”
 
Pháp: Trịnh Phúc Nguyên
 
Cette soirée,assis auprès de l’alambic,
Nhi me versa la première prise d’alcool,
Confus,nous nous rappelions les jours d’antan,
Nos coeurs attendris,nous en sirotions ensemble.
 
Je lui racontai:”Ma mère est décédée,
Je reste l’unique de toute ma famille…”
“Autrefois,dit Nhi,souvent,Maman répétait:
Vous deux,vous faites un couple bien assorti!”
 
Pháp: Phan Hoàng Mạnh
 
Assis ensemble à côté du fourneau d’alcool dans cette
                                                                         nuit-là,
Nhi me verserait l’alcool de la première cru.
On se remémorerait le passé dans la confusion, 
Et avec amertume, nous deux boirions ensemble 
                                                    dans un même verre.
 
Je lui raconterais:” Ma mère est décédée.
De toute la famille, il ne reste plus que moi seul…”
Nhi remarquerait:”Ce temps-là, on parlait souvent
Que nous deux formerons un couple bien assorti…”
PHỤ TRƯƠNG TTTB@ No100
                  TMCS


TRUYỆN DÍ DỎM

BOROWING MONEY


“Glad to see you, old man. Can you lend me five dollars ?”

“Sorry, but I haven’t a cent with me today”

“And at home ?”

“They’re all very well, thank you, very well”.


– TMCS’s comment:

 To evade answering an embarrassing question by changing topics is the best way for everybody.



 VAY TIỀN


–  Này ông anh, rất vui mừng gặp nhau,. Cho mình vay năm đô được không?

 – Rất tiếc là hôm nay mình chẳng có một xu nào trong người.
– Còn ở nhà?
– Ở nhà ai cũng khoẻ cả, cám ơn cậu, khỏe lắm.


TMCS bình:

Một hồi trống lảng tài tình,
Giúp ai thoát chuyện bực mình như chơi!


CÂU ĐỐ

Kì trước:

On m’entend mais on ne me voit pas. Qui suis je?

Rép.  : La voix.


Kì này:

Quel est le plat préféré des pompiers ?


VÈ BÁNH ĐA VÀ ẢNH ; TMCS sáng tác vè và chụp ảnh.
 
                  VÈ BÁNH ĐA

        Quà quê có món bánh đa
Ngon từ tấm bé đến già vẫn ngon.
     Bánh đa giờ nướng nhanh hơn,
  Bỏ lò vi sóng đã giòn lại thơm.
    Bảy chục giây, chẳng cần hơn
Có kê mà chén , càng ngon càng giòn.
          Còn giời, còn nước , còn non,
Còn bánh đa nướng để…còn nhớ QUÊ !

                                                             TMCS

Hiến kế:

Bánh đa chưa nướng mua về, thời @ quý vị không cần quạt lò than mà chỉ cần cho vào lò vi sóng (micro wave ) tuy kích cỡ và độ dày của cái bánh đa, quý vị chỉ cần bật lò ví sóng khoảng 70-75 sec là có một cái bánh đa rất giòn và ngon ! (có thể điều chỉnh chút ít tuỳ tính năng lò vi sóng và kích cỡ bánh đa).
 Xin cam đoan đây là diệu kế !
 
(Chú ý: quả chuối ở xứ Chuột túi to gần gấp rưỡi quả chuối ở nhà đấy. Nếu 70-75 sec bánh đa chưa giòn, quý vị lại cho vào lò vi sóng để thêm mươi sec, nếu hơi quá nóng (sém), lần sau quý vị bớt đi dăm mười sec … Hình ảnh chụp với quả chuối để quý vị tham khảo, có khái niệm tương đối về kích cỡ – TMCS cũng mò dần thôi !)
                                                                                         TMCS
 
Inline image

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

HOA VỚI RƯỢU

Bl(408) TTTB@ No99

DẠO ĐẦU TTTB@ No99
            TMCS

                VÈ KHAI XUÂN ĐINH DẬU


               Những bài thơ dịch, từng lời
      Kết bày chim khắp phương trời tung bay,
               Tìm từng bạn đọc trao tay:
         Đây hồn thơ Việt, tràn đầy Ý Xuân ! 
                                            TMCS
THƯ GIÃN

THANG NHÀ –  THANG ĐỜI.

Mấy năm về trước , khi chưa vướng vào TTTB@, TMCS thường có những chuyến đi vẽ “dã ngoại” với các bạn hoạ sĩ “tứ chiếng” ở đây. Vui vẻ , ba cùng với các bạn Tây Tàu bản địa và tứ xứ, nhằm tích luỹ thêm kiến thức, kinh nghiệm hội hoạ và cải thiện vốn liếng giao tiếp bằng Ăng-lê là chính…Các giải A,B, C…là phụ . Đợt nào được thì cũng thích thú, ngất ngây sung sướng như Giời cho trẻ lại dăm ba tuổi, đợt nào trắng tay thì cũng chẳng sao…coi như cuộc đời đã đến bước chỉ có THẮNG với HOÀ, chứ không còn THUA keo nào nữa! Chả biết những đợt đi ấy, thu hoạch được bao nhiêu, nhưng học được cái thú vẽ vời, vui vẻ với phong cách ngất ngưởng, ngó nghiêng- ngây người, ngắm nghía- nghiền ngẫm, ngâm nga…chán chê mê mỏi, hết tỏi lại hành… rồi mới nghí ngoáy cầm bút bôi bác ra “tác phẩm” để gói ghém, gửi gắm tí triết lý nhân sinh, tí tâm tư  tài tử, tí tình tam tình tứ… của mình. Kiểu vẽ này là mình vẽ cho mình là chính, theo cái “tiêu ngữ” cổ lỗ sĩ của chính Tương Mai cư sĩ tự  đề ra từ khoảng ba chục năm trước để nghêu ngao mỗi khi tức cảnh sinh tình, cầm cọ hoạ nên tranh, lấy bút bịa ra vè :
 
             Non non, nước nước, tình tình,
      Tranh mình mình ngắm, Thơ mình mình ngâm…
                                                                         TMCS
(Bè bạn muôn phương của TMCS đã thông báo : Cái tiêu ngữ trên vô tinh đã trở thành một thương hiệu quốc tế, đúng hơn là một Password “mật ngữ” – dù bạn ở bất kì chân trời góc biển nào, cứ vào Google Vietnam rồi gõ cái tiêu ngữ này -cùng lắm  thêm Tuong mai cu si – là chả khác gì  gọi “Vừng ơi mở cửa” vào ngay được TTTB@ dễ như trở bàn tay ! Nhờ vậy mà vô số bạn đọc ở tận các chân trời Á, Âu ,Phi, Mĩ… đã đọc được cả trăm số TTTB@ cùng 400 số lẻ Blog của TMCS… )
 
Âu đây cũng là một cách TMCS tự khoác cho mình cái dáng  “tiên phong đạo cốt”, đặng ngao du trong cái “biển Dốt mênh mông”, bụi hồng  mù mịt…muốn ngộ ra tất tần tật từ lâu mà vẫn đành ôm hận mít tìn tịt đến tận nay mà chẳng hay còn đến tận thuở nào !
 
Cứ mỗi lần nhìn vào tranh mình vẽ lại đọc được những xúc cảm sâu lắng của hồn mình, ngày một tinh vi hơn, khi thì dàn trải man mác, bàng bạc trên toàn bộ bức tranh, lúc  chỉ  tụ lại ở một góc nào đó, lất phất, thấp thoáng hiện ra trong đôi nét chấm phá…Có những bức tranh, hàng năm sau khi vẽ, bẵng đi  trong một góc phòng, chợt lúc nào đó mình vô tình để mắt chạm vào tranh, tay khoanh trước ngực , đứng lặng trầm ngâm hồi lâu rồi bâng khuâng gật gật, gù gù tự nhủ rằng : ” Tranh mình vẽ chứ chả nhẽ tranh ải, tranh ai ?”.  Đó cũng là trường hợp bức tranh Góc cầu thang vẽ từ ngót chục năm trước.
Từ cái cầu thang xinh xinh, uốn éo vòng vèo, lượn tròn lượn khéo  trong một góc nhà, TMCS  lại nghĩ đến câu :

Cái cầu danh lợi cong cong,
Kẻ mong thoát khỏi , người hòng bước lên…  

Từ ngày về hưu, như một hiệp khách  đã từ lâu rũ bụi phong trần, “rửa tay, gác kiếm”, thoát phận giang hồ, TMCS luôn luôn thấy mình nhẹ nhàng thanh thản lên xuống cầu thang nơi ẩn cư,  lúc ngâm Kiều, khi huýt sáo… tếu táo nhởn nhơ, vô tư vô lự… Thế rồi, một hôm cao hứng, TMCS ngứa tay vung bút hí hoáy ghi lại cái dáng uốn lượn của chiếc cầu thang được chị Đầm kiến trúc sư lãng mạn tạo dáng khá đẹp: mềm mại. uyển chuyển, duyên dáng nép mình, ẩn nơi góc nhà …TMCS vừa ngắm nghía vừa nảy ra tứ thơ, bịa thành mấy câu vè sau…Vì sợ quên mất thì phí của Giời cho, nên gã cư sĩ già kiêm hoạ sĩ “dỏm” đã ghi lại bài vè này vào mặt sau bức tranh và đặt tên là Vè cầu thang. Cả bài như sau :

                         VÈ CẦU THANG   
                          (TMCS – 2009)

         Thang nhà xinh đẹp lượn cong
Để mình lên xuống thong dong tháng ngày.
         Thang đời khúc khuỷu đoạ đày
    Bẫy bao nhiêu kẻ sa lầy lợi danh.
         Thang nhà lên xuống nhẹ tênh
Ngâm thơ, huýt sáo…mông mênh tình người.
         Thang đời danh vọng nhử mồi
   Leo bao nhiêu bậc hại người bấy nhiêu…
         Thang nhà mình thật đáng yêu !
Nhẹ nhàng, lên xuống, sớm chiều thảnh thơi. 

TMCS ngẫm mãi về cụm từ Thi hoạ đồng nguyên, với TMCS thì phải đổi là “Tranh Vè chung nguồn” mới đúng ! Cứ lên xuống cầu thang là nghĩ đến mấy câu  vè, từ đó lại nhớ đến bức tranh…Cũng đôi khi chợt nhìn thấy bức tranh lại nhớ đến mấy câu vè…
Kính mời quý vị vừa ngắm tranh vừa thưởng thức vè của TMCS cho đỡ mệt, trước khi “sa lầy” vào những dòng lan man vô định bên dưới… như có bạn đọc đã phản hồi : đây là phong bánh  lương khô vô thưởng phạt dùng cả tuần không hết… 
          
 
Inline image

     BÀI TOÁN HÀN TÍN ĐIỂM BINH

Kì trước, nhân nói về “Nhớ và Quên”, lan man đến câu “Thi ân bất cầu báo- Thọ ân mạc khả vong”, rồi TMCS sa đà vào tích “bát cơm Phiếu mẫu trả ơn nghìn vàng”… liên quan đến Hàn Tín khiến một số bạn tò mò muốn biết thêm về tài năng của Hàn Tín ngoài việc dụng binh thao lược…TMCS xin được hân hạnh  hầu chuyện quý bạn đọc về thiên tài Số học của Hàn Tín, mà đến thế kỉ XX, ở ta giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dùng Đại sô chứng minh được bài toán điểm binh của Hàn Tín. Tiếp đó là  tiến sĩ Trần đình Viện và một số nhà “yêu” toán học khác cũng đề xuất vài cách cm bài toán này..
 Mời quý vị tham khảo bản giới thiệu thuật điểm binh của Hàn Tín, TMCS tham khảo từ tư liệu của G/s HXH :  

Hoàng Xuân Hãn giới thiệu nội dung bài toán bằng chữ quốc ngữ như sau.

Tam (3) nhân đồng hành, thất thập (70) hi
Ngũ (5) thụ mai hoa , chấp nhất (21) chi
Thất (7) tử đoàn viên chính bán nguyệt (15)
Trừ bách linh ngũ (105) tiện đắc tri (Dị bản  Trừ bách linh ngũ định vi kỳ)

Dựa vào bản chữ quốc ngữ của HXH, TMCS xin  ghi  ra chữ Hán để quý vị thạo chữ Hán tiện tham chiếu:

韓信點兵

三人同行七十稀
五樹梅花卄一枝
七子團圓正半月
除百零五便得知  
 

( Theo TMCS mấy câu trên mà HXH giới thiệu chẳng qua chỉ là ‘khẩu quyết” do Hàn Tín đặt ra cho thuộc hạ dễ nhớ để tiện dụng. Xin quý vị xem phần lí giải và thí dụ trình bày bên dưới)

TMCS xin dịch nghĩa: 

Trong 3 người cùng đi, hiếm có người 70 tuổi. 
5 cây hoa mai có 21 cành.
7 đứa con sum họp vào đúng ngày rằm (15). 
Trừ đi 105 thì biết con số.

Bản dịch của Hoàng Xuân Hãn:

 Ba người cùng đi hiếm bẩy mươi
 Năm cây hoa mai hăm mốt cành
 Bẩy trẻ xum vầy đúng nửa tháng.
Trừ trăm linh năm biết số thành

 TMCS xin diễn giải theo cách nói thời nay:

Ý nghĩa của công thức Hàn Tín là: 
“ Có một sô X. Lấy a ( là số dư khi X chia cho 3) nhân với 70, cộng với b ( là số dư khi chia X cho 5) nhân với 21, cộng với c ( là số dư khi chia X cho 7 nhân với 15), đem trừ đi một bội số của 105 (sao các cho điều kiện ước chừng về  số X được thỏa mãn)”.

TMCS xin viết dưới dạng  công thức như sau :
                              
                      X = 70a + 21b + 15c – k 105,

trong đó k là số nguyên âm, dương chọn để đáp số thỏa mãn điều kiện (1) hoặc (2) A < X , X <B, gộp lại là A < X < B.  A và B là hai số ước chừng.

Xét một thí dụ cụ thể:

Một đơn vị bộ binh ước chừng 100 – 200 (A=100, B=200) quân đi chiến đấu về, muốn điểm danh xem còn bao nhiêu binh sĩ trở lại sau trận đánh, ta làm như sau : Giả thiết số quân còn lại  thực tế  là X= 124 ( ta chưa biết cụ thể nên đã ước chừng  trong khoảng từ 100 – 200), vậy thì khi cho xếp hàng 3 (chia cho 3) còn dư a = 1, xếp hàng 5 (chia cho 5) còn dư b = 4, xếp hàng 7 (chia cho 7) còn dư c = 5. Áp dụng công thức Hàn Tin:
      X = (1 x 70) + (4 x 21) + (5 x15) – k 105 = 229 + k 105.
ta phải tìm X sao cho 100 < X < 200
Nếu chọn k là số nguyên âm hoặc bằng 0 thì giá trị của X vượt quá 200: Không đúng với con số ước chừng, loại bỏ trường hợp này.
Chọn k = 1 thì X = 229 – 105 = 124, thỏa mãn điều kiện: 100 <X <  200
Nếu chọn k là số nguyên lớn hơn 1 thì giá trị của X bé hơn 100 : loại bỏ(Không đúng với số ước chừng)

Vậy đáp số đúng duy nhất chính là  X = 124.

(Mời quý vị  tự chọn tùy ý vài con số để thử lại tính đúng đắn của công thức này)
                 
                  Qui tắc Hàn Tín rất chính xác và sử dụng khá đơn giản, nhưng cũng như nhiều thành quả toán học cổ đại được lưu lại, cáctác giả chỉ nêu lên kết quả mà không để lại cách chứng minh!

Ở TQ và VN , người ta quen gọi đây là bài toán Hàn Tín điểm binh, ở các nước Âu Mỹ, người ta gọi là bài toán số dư Trung quốc.
Thực chất đây là v/đ tìm nghiệm của hệ phương trình đồng dư bậc nhất.
 Quý vị có thể truy cập tài liệu CMinh của Gs HXH, T/s Trần Đình VIện và một sô nhà toán học sau này.

Đối với TMCS, việc sau nhiều thế kỉ, các nhà Toán học CM được rõ ràng định lí số dư thì không phải là điều đáng ngạc nhiên lắm so với hiện tượng: Bằng cách tư duy nào Hàn Tín từ nhiều thế kỉ trước lại phát minh ra thuật toán số dư này để ứng dụng rất thiết thực vào hiệu quả kiểm điểm quân số qua ba lần đổi cách xếp hàng (3,5, và7), rồi dùng các số dư đó nhân với 70, 21, 15 để đi đến Định lí khái quát 

X= 3×70 + 5x 21 + 7x 15 – k.105.

Điều li kì thú vị là việc tìm ra quan hệ trong phương trình trên giữa các số 3,5,7,21,70,15 và 105 để tìm ra X !

TMCS chỉ có thể giải thích đó là do thiên tài của Hàn Tín !Nếu nói tổng quát thì chỉ có tài năng siêu việt từ cỡ Hàn tín trở lên mới làm được việc này, hoặc nếu không phải là HT thì cũng phải là một nhân vật X nào đó cùng tầm cỡ mới làm nổi !

Người “làng nhàng” bậc trung lớp dưới xấp xuống, cỡ k/s quèn ngành “civil engineer” (K/s công trình),  lại rửa tay gác bút từ lâu, như TMCS thì đem hết sức bình sinh cũng chỉ đọc hiểu bài toán HTín, nắm được nội dung, tự bịa ra được thí dụ để kiểm toán chơi chơi, rồi hiểu cách quy nạp về hệ PT đồng dư bậc nhất và các kiểu CM tương tự của HXH, Trần đình Viện… là “hết hơi” rồi ! 
Phát minh ra bài toán này quả là một kì công của Hàn Tín !

Thôi, TMCS xin dừng bước tại đây vì TTTB@ đâu có đi sâu vào nội dung Toán, một lãnh vực mà có thời TMCS cũng rất đam mê. 
Mời quý vị  chuyển hướng :  TÌNH NGUYỄN BÍNH .

TÌNH NGUYỄN BÍNH …

Trong thư phản hồi, có bạn đặt vấn đề: Tình Nguyễn Bính mêng mông và triền miên thế, liệu có v/đ chung thuỷ / phản bội không?

Câu hỏi này khá tế nhị và muốn giải trình rành mạch , ta cần phải lui về ít nhất từ thời đầu thế ki XX trở về trước. Đó là thời mà ta dễ thấy các nhà thơ được coi là tiêu biểu nhất trong giới nghệ sĩ về mặt đa sầu, đa cảm và…đa tình ! Những nghệ sĩ ở các bộ môn khác như sân khấu, ca nhạc, hội hoạ, điêu khắc…cũng có chung các đặc điểm đó, nhưng ở các mức độ “nhẹ đồng cân”hơn ! Kim cổ , đông tây cũng chỉ khác nhau ở biểu hiện lộ liễu hay kín đáo, công khai hay thầm vụng hơn…chứ bản chất thì vẫn không đổi !

TMCS không muốn làm trạng sư, thày cãi…. để bảo vệ cho một lối sống, một phong cách nghệ sĩ nào cả mà chỉ muốn cùng trao đổi sơ bộ với quý vị để có cái nhìn khái quát, hợp lí và thoáng đãng hơn về v/đ này. Cũng như trong nhiều nhận định về từng nhà thơ, từng bài thơ, bao giờ TMCS cũng cố đưa ra các nhận định của bản thân, cố gắng không trùng lặp với những gì trước đó đã quá phổ biến, mọi người đã “nhất trí cao” cả rồi…Bởi vậy, tính chất sai, đúng trong một số ý kiến của TMCS có khi còn bấp bênh, thậm chí có cơ nguy lệch lạc, phiến diện nhưng có “mạnh dạn một chút”  mới tránh được sự nhàm chán…Mong quý bạn đọc vui lòng tham chiếu và chỉ bảo…

Ta hãy cùng điểm  qua vài thí dụ ở VN.

Đầu sổ – ấy là Nguyễn Công Trứ (1778-1858). NCT là một nhân vật đa tài về nhiều mặt quân sự, kinh tế, văn thơ…đặc biệt rất sành sỏi về nghệ thuật ca trù. Chính NCT đã có công lấn biển, lập ấp tạo ra cả vùng Kim Sơn, Tiền Hải. Người năng động và phóng túng đến vậy, nên chuyện “lên voi xuống chó” trong quan trường không làm nhụt được cái ý :

 Đã mang tiếng đứng trong trời đất
 Phải có danh gì với núi sông

Khi vấp ngã , NCT chẳng bi quan, than vãn mà cứ như đùa bỡn với cuộc đời, coi  cái chuyện lên xuống trong chốn quan trường chả là “cái đinh” gì cả, khi “thua cuộc” bị đo ván “ nốc -ao — knock out” rành rành, NCT vẫn thách thức đời :

Nào nào! Thằng nào sợ thằng nào
Đã sa xuống thấp lại lên cao.

Người bản lĩnh cao cường như thế mà không vướng chuyện “tình cảm” từ tuổi thiếu niên mới lạ. Mười mấy tuổi đầu. còn phải làm hầu đàn, mang vác đồ nghề cho nhóm ca trù, NCT đã nghĩ ra mẹo tháo dây đàn để lại nhà, đợi lúc trên đường đi đến đám thuê hát lúc qua quãng đồng không mông quạnh mới giả vở sực nhớ  và buộc anh kép phải chạy về nhà tìm dây đàn.  Trời tối, đồng vắng NCT thoải mái vui vẻ với cô đào hát…Sự tích này đã để lại trong câu hát sau đây của cô đào khi được mời đến hát trong dịp đăng khoa của NCT :

Giang sơn một gánh giữa đồng, 
Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng…

Khi đã trưởng thành và thành đạt, chẳng ai nhớ được NCT đã có bao nhiêu “phi vụ” yêu đương, mỗi vụ là thêm một người yêu, từ cổ gọi là nhân tình. Đây là mấy câu của NCT về cô nhân tình thứ  “n” : 

BỠN NHÂN TÌNH:

Tau ở nhà tau, tau nhớ mi
Nhớ mi nên phải bước chân đi
Không đi mi nói: răng không đến?
Đến thì mi nói: đến mần chi !

NCT đa tình suốt đời và “yêu” cả đến khi đã vượt quá ngưỡng cổ lai hi. Chắc chẳng mấy ai không biết hai câu chữ Hán :

Tân nhân dục vấn lang niên kỉ
Ngũ thập niên tiền nhị thập tam

nói về cái sự tích đêm cô dâu hỏi chú rể NCT bao nhiểu tuổi, chàng đã trả lời : Năm mươi năm trước ta hai mươi ba ! như vậy là NCT không những đa tình mà còn kiêm cả đa thê ở độ tuổi  73, ai mà ép duyên nổi ông cụ 73 tuổi cưới thêm bà thiếp nữa, nếu không phải chính NCT là  bậc “đệ nhất đa tình ” !

Còn nhiều tích hay nữa về NCT, nhưng thôi, nếu đối chiếu mối tình đầu của Nguyễn Bính năm mười bốn tuổi và Ngọc Lan thì ta thấy ở xuất phát điểm này, NB đã thua NCT về mưu mẹo “láu cá”… còn sau đó là thua dài, nhất là về khoản đa thê ở tuổi 73 !  Nói là THUA, chính là ta đã công nhận NB đã tiếp bước ĐA TÌNH của NCT, với phong cách của thời đại NB, khi đã xuất hiện trào lưu lãng mạn tiểu tư sản gắn liền phong trào Thơ mới.

TMCS nhớ lại những loại chuyện này lơ mơ cảm thấy sau chữ “đa” ẩn chứa lắm thứ kì diệu:

Đa tài hay đi với đa sầu, đa cảm , đa đoan, đa năng, đa tình…ngày xưa cả… đa thê nữa !  Nguyễn Bính cũng nhiều vợ nhưng không phải là đa thê vì  không phải tại cùng một lúc, cùng một nơi có nhiều bà !
 
Cần hiểu chữ TÀI là tài năng chứ  là đa TÀI – là tiền tài,  tài sản- thì vô tích sự, chưa thấy ai đa tài sản để lại sự nghiệp gì, cùng lắm là ĐA TẬT: rượu chè cờ bạc, trác táng  dẫn đến  đa  dâm là cùng !

Một vài nhân vật Đa Tài  kiêm Đa Tình nữa là Nguyễn Khuyến, Tú Xương…Có lẽ vì TÀI hay đi với TÌNH như một cặp song sinh nên trong ngôn ngữ Việt mới có từ TÀI TÌNH.

( Nguyễn Du:

Nghĩ đời mà ngán cho đời, 
Tài tình chi lắm, cho trời đất ghen!  
 
TMCS đã lẩn mẩn đọc mấy bản dịch Kiều ra Anh, Pháp và Nga, hình như các dịch giả  người Việt hẳn hoi cũng  chưa ai dịch hết cái hàm ý “tài tình” , tuy về chữ thì nội dung chính vẫn là Tài, những về nghĩa thì cứ là người Việt 100% thì ai cũng cảm nhận thấp thoáng cái “Tình” nấp sau cái “Tài”. Đây không phải là sự “bất Tài , vô Tình” của các dịch giả lừng danh mà nguyên nhân sâu xa là TIẾNG VIỆT CỦA TA THÂM THUÝ, THẦN THÁNH quá, các ngôn khác khác tuyệt vời đến mấy cũng không sánh kịp về mặt này, nên quả thật đây là một trong những trường hợp mà TMCS từng đặt tên là MIỄN DỊCH ( với ý là bất khả dịch ). 

Trường hợp này tương tự như:

Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non.
 
Có mà tài Thánh cũng không dịch nổi ! )

Nguyễn Khuyến cũng để lại khá nhiều câu thơ nói lên tính đa tình của mình : 

Gặp Cô Đầu Cũ
Tác giả: Dương Khuê
(1839-1902) 

Hồng, Hồng, Tuyết, Tuyết
Mới ngày nào còn chửa biết chi chi
Mười lăm năm thấm thoát có xa gì !
Chợt ngoảnh lại, đã đến kỳ tơ liễụ

Ngã lãng du thời khanh thượng thiếu;
Khanh kim hứa giá, ngã thành ông 

Cười cười nói nói thẹn thùng,
Mà bạch phát  với hồng nhan chừng ái ngại
Riêng một thú Thanh Sơn  đi lại,
Khéo ngây ngây dại dại với tình,
Đàn ai một khúc dương tranh ?

Cả bài nói lên NK phong lưu , đa tình hết mức, nhất là hai câu chữ Hán chứng tỏ ông cụ này đến già vẫn lẳng lơ, thơ mộng !

 và ngay cả  trong Khóc Dương Khuê, NK cũng kể lể về thú ăn chơi (Có khi tầng gác cheo leo, Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang).

Chẳng biết có phải cùng họ Nguyễn, cùng đất Nam Định hay không mà Trong thơ tình của NB thấp thoáng cái dáng ĐA TÌNH của Nguyễn Khuyến ! Sự nối mạch này e chẳng phải ngẫu nhiên, chỉ có biểu hiện bề ngoài trong các hoàn cảnh xã hội khác nhau nên có phần vênh nhau chút ít…

Còn Tú Xương, lại một nhà thơ Nam định, xin đừng tưởng với mấy câu thơ :

Một tuồng rách rưới con như bố
Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng

là cuộc sống nhà thơ này eo óc nheo nhóc, lủng củng lỉnh kỉnh thật đâu! đây chỉ là  lời thơ trào phúng thôi…Tú Xương cũng là tay ăn chơi sành sỏi có tiếng – “Lạc nhạn , xuyên tâm đủ ngón chầu” cơ mờ ! Hồi còn ngấp nghé tuổi  nhi đồng TMCS thường được các chú, các bác cho bám theo để làm bình phong che mắt các bà bác , bà thím đi đến các xóm cô đầu ở Khâm thiên Hà nội, Đầu cầu sông Thương (Bắc Giang), rồi Đồng mỗ ( Thái nguyên ) , rồi Hải dương, Phú thọ…TMCS đã nghe   đào gõ phách, kép gảy đờn, quan viên quất roi chầu tom tom, chát  chát…và chú nhóc con đã hỏi vặn hỏi vẹo mãi nhưng vì bé quá, nghe người lớn nói với nhau vô số lần vẫn chả   biết thế nào là Lạc nhạn, Xuyên tâm, Thùy châu, Thượng mã, Sơ cổ, Thôi cổ…nghe hoài vẫn cứ lộn xộn khổ trống này với khổ trống kia…Còn nhớ khi nói cái “ dùi trống” thì bị cô đào rượu (thời nay gọi là “tiếp viên”- chỉ làm lễ tân chứ không biết hát) chỉnh cho phải gọi là cái  “roi chầu”! Khi đã đến tuổi bắt đầu đi học, TMCS còn ăn vạ bắt cô đào rượu cõng đi mua kẹo nếu không thì phá đám đòi về khiến chầu hát “đầu kì lương” của ông bác với mấy ông Tham, ông Phán, ông Đốc…tỉnh lẻ đứng trước nguy cơ tan cuộc giữa chừng, lúc nhỏ hơn thì TMCS thường  thu lu trong lòng cô đầu rượu mà nghe phách, trống, đàn và giọng hát của đào nương, lại luôn mồm vòi vĩnh kẹo lạc, kẹo vừng, kẹo bi…cả quạt mát phì phạch, xoa lưng cho “rôm” khỏi “cắn”  nữa… !…Hồi ấy các cụ đánh trống chầu là phải giỏi cả về thẩm âm (giọng hát, phách của đào nương) và đàn của kép – đồng thời nhiều cụ tài ba cả về thơ phú, ngoài các bài có sẵn , nhiều khi hứng các cụ còn sáng tác bài mới đưa cô đầu hát tác phẩm của mình…Bởi vậy, TMCS quá phục Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà…Mấy cụ hơn hẳn mấy ông chef d’orchestre chỉ huy dàn giao hưởng, mấy ông này chỉ cầm đũa chỉ huy mà không chơi nhạc cụ nào như nhạc công, còn các cụ vừa cầm “roi chầu” chỉ huy, vừa tham gia điểm trống coi như cũng tham gia hoà tấu với phách và đàn, đệm cho lời  hát giọng ca, lại thưởng phạt luôn qua tiếng trống cho phách, cho đàn, cho giọng ca lúc thì rành rọt từng thứ, lúc thì gộp chung cả ba thứ, khiến người trong, ngoài cuộc đều tâm phục khẩu phục…Ấy là chưa kể không ít cụ còn sáng tác ca từ cho đào nương hát… Tuyệt vời lắm thay ! TMCS từng tự coi đây là một diễm PHÚC của đời mình, mà ông Giời đã ban cho từ hồi còn ở độ tuổi sún răng ! (Có dịp TMCS sẽ hầu chuyện quý vị tỉ mỉ hơn, đang hứng nhưng sợ lạc đề… TMCS còn đủ tỉnh táo để nhớ rằng có thể có vị không hào hứng mấy với những mẩu hoài niệm linh tinh của TMCS- đại loại như chuyện CA TRÙ khá lạ lẫm  này- , nhưng thú thực hay lắm đấy, bây giờ chả mấy ai còn biết mà nỉ non với nhau, đôi khi TMCS trực tiếp xem biểu diễn hoặc qua TV còn phát hiện ra lỗi của quan viên (người cầm roi chầu), có khi cả lỗi ở đào  hoặc kép…TMCS có lúc bật cười vì quan viên tân thời chỉ hoá trang khăn xếp áo dài mà trong đầu rỗng tuếch rỗng toác chả có chữ Hán nào, nên khi đào hát sai ca từ, kép cứ nhắm mắt đàn cốt cho khớp phách mà quan viên coi như “điếc đặc” vẫn điểm trống… KHEN rối rít tít   ! còn TV thì cứ “vô tư hồn nhiên” đưa lên chả ai kiểm tra sai đúng, đúng sai…Hình như đây chỉ là việc làm chiếu lệ, đáng cười ra nước mắt như trước cảnh có mấy ông đồ “dỏm” cho chữ “bất thành tự “ để kiếm chác ở phố Ông Đồ mỗi độ Tết đến Xuân về ngay giữa thanh thiên bạch nhật trên đất Thăng Long ngàn năm văn vật! )
 
Có chuyện kể rằng một bạn chơi của TX đi hát mất ô đã nhờ TX  làm bài thơ nổi tiếng Đi hát mất ô mà  ai cũng biết,.  Tác giả Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân khuất núi đã lâu mà TMCS còn nhớ đã có lần được nghe cụ bình về bài ấy như thế này :
…Bài Đi hát mất ô thoạt đầu đọc lên cứ như xem báo Đông Pháp đăng tin kẻ cắp móc “bóp-tờ-phơi” (portefeuille : ví tiền)
ở  chợ Đồng xuân , nhưng đến hai câu cuối thì mới thấy thi nhân ĐA TÌNH đã dùng câu cuối nâng cấp một bài vè thời sự tin vặt thành một áng Thơ lưu truyền vạn đại :

Đi hát mất ô

Tác giả: Trần Tế Xương

Đêm qua anh đến chơi đây
Giày chân anh dận, ô tay anh cầm.
Rạng ngày sang trống canh năm
Anh dậy, em hãy còn nằm trơ trơ.
Hỏi ô, ô mất bao giờ,
Hỏi em, em cứ ỡm ờ không thưa.
Chỉ e rày nắng mai mưa
Lấy gì đi sớm về trưa với tình?

Cử toạ chưa hết khoái, thì có một cụ khác – bạn văn trạc tuổi NTuân đọc bài đối đáp lại của bà chủ nhà cô đầu thuê người viết hộ,  cũng có câu kết bất hủ, rất thần và rất tình :
 
Chẳng qua muôn sự tại trời 
Thôi thôi xin chớ dài lời làm chi! 
Nắng thì nắng cũng có khi 
Mưa thì mưa cũng có kỳ mà thôi 
Thật lòng anh có thương tôi 
Thì anh cứ việc đội trời mà lên! 
Nhược bằng anh cứ bắt đền 
Thì tôi có cái đắt tiền bằng ba


Tuy những bài thơ này thời xưa chả mấy ai ko biết, nhưng nghe cụ Tuân bình thì ai cũng thấy  thích thú. TMCS nhớ mãi…và ngày càng thấm thía về từ “TÀI TÌNH” của tiếng Việt ! 

Ở phương Tây cùng có vô số các giai thoại  về các nhà thơ với các bóng hồng trong thơ của họ, kể ra cũng rất “mề lí – mê li” nhưng thôi , e lan man dài quá rồi, TMCS xin khất đến dịp khác sẽ kể hầu quý vị…

Xin quay lại chuyện NB mà kết rằng : 

Đa tình như NB hình như là một đăc điểm chung của nhiều thi sĩ đông tây kim cổ, và đây chính là động lực sáng tác của nhà thơ. NB yêu nhiều , yêu rất sâu nặng nhưng chỉ nghe nói  đến chuyện yêu đơn phương hoặc tình yêu đơn phương của NB với người mà nhà thơ đắm đuối, không hề có chuyện ông bắt cá nhiều tay cũng một lúc, phản bội trong tình yêu. Ông cũng giống như các bậc tiền bối đa tình xưa kia, yêu nhưng không phản bội bao giờ…Tản Đà thất tình , buồn như vẫn yêu và nhớ…đến hết đời trọn kiếp !

Vả chăng, chúng ta đang sống trong một thời đại khác với xa xưa rất nhiều, nên với phong cách sống từ thời  các  bâc tiền bối đến thời NB chúng ta cần có cái nhìn trên quan điểm xã hội  học và lịch sử, không thể lấy các quy ước hiện hành để nhân xét người ngày xưa được. Chính các tác phẩm thi ca của các cụ mới là tài sản tinh thần vô giá để lại cho hậu thế, trong đó đề tài TÌNH YÊU là một nhân tố rất quan trọng không thể phủ nhận được. Quá khe khắt về mặt này nhiều khi giống như chúng ta tự nhắm mắt bịt tai lại, ta sẽ đọc mà chả hiểu gì hết.

Cho nên, theo TMCS, cứ phải  “ôn cố tri tân”, phải biết chí ít là đôi nét như đã điểm bên trên về NCT, NK, TX rồi Tản Đà…thì ta mới hiểu tính ĐA TÌNH của thi nhân các thời đại là như một dòng chảy liên tục, không khi nào đứt quãng, nhưng có mang dấu ấn cung cách đa tình của mỗi thời đại, không thế thì đào đâu ra  Thơ Tình, và phần còn lại của Thơ chắc cũng nghèo nàn, khô khốc !

Đã có lúc TMCS thoáng nghĩ, chưa dám KL, nhưng xin mạnh dạn nêu ra để quý vị cho lời bình :

Nếu loại bỏ chuyện yêu đương ra khỏi Thi ca thì sẽ không có thơ Tình , và nếu có chuyện Tần Thuỷ Hoàng  TÁI SANH đốt được hết thơ tình đi thì có lẽ chẳng những nhiều nhà Thơ lớn nhỏ trắng tay mà di sản văn học về THƠ của nhân loại chỉ còn gần như CON SỐ KHÔNG !

 Vấn đề là chúng ta đọc Thơ tình nói chung và Thơ tình NB nói riêng cần có cách nhìn đúng mực về Thơ tình  của NB và bản thân NB trong tình yêu. Một dẫn chứng rất rõ ràng là bài Lỡ bước sang ngang  của NB ra đời trong hoàn cảnh xã hội còn nhiều chuyện gả bán cưới xin theo kiểu ép duyên nên mới có tiếng vang lớn, còn truyền tụng mãi mãi, chứ nếu  trong hoàn cảnh xã hội đã có luật Hôn nhân và gia đình như hiện nay thì chắc sẽ không  có đất cho những bài thơ thuộc chủ đề này nảy sinh và lan truyền… Cho nên cần hiểu là Tình trong thơ nhiều khi cũng là tình chung  trong thiên hạ, chứ đâu chỉ là TÌNH RIÊNG của thi nhân !

NB là một nhà thơ có công lớn nhất trong việc phát huy Thơ Tình truyền thống của VN vừa hoà nhập với thời đại Thơ mới VN ra đời  vừa giữ được phong cách dân dã, chân quê gần gũi với đời sống tinh thần của đông đảo  người Việt, Dường như về khía cạnh sau thì ông là Nhà thơ xuất chúng vượt xa các nhà thơ thông thái, có bằng cấp cao, ít nhiều mang màu sắc hiện đại hoá theo thơ Tây.

 Xét cho cùng, NB là một nhà thơ yêu nước, không chỉ vì ông đã tham gia KC Nam bộ, mà chủ yếu ở chỗ ông yêu thiên nhiên, làng quê thôn xóm VN, yêu cô lái đò, cô hái mơ, cô nhân tình bé nhỏ, cô trinh nữ yểu mệnh, cô hàng xóm duyên dáng, cô Lan, cô Oanh, cô Uyên. cô Diệm (tức Nhi trong Hoa với rượu), … tức là ông đã yêu tất cả đất nước và dân tộc này , RIÊNG CHUNG trong Thơ  và Đời Ông hoà quyện THÀNH MỘT TÌNH YÊU LỚN sâu sắc và chung thuỷ, trọn vẹn cho đến phút chót của cuộc đời .

Xin tóm tắt  TRẢ LỜI của TMCS về phản hồi của bạn đọc : 

TMCS  nghĩ rất thực tế : Không yêu quê hương và nhân dân nước mình thì ai đi đánh giặc làm gì ! Bởi vậy, NB chiến sĩ và NB đa tình chỉ là MỘT , vừa trung  thành với đất nước , vừa chung thuỷ với tình yêu!Hiển nhiên, điều này rõ ràng như hai lần năm là mười !

Tất nhiên NB xứng đáng với tình yêu của tất cả những người VN nhiều thế hệ dành cho Ông !

TMCS rất yêu mến và kính trọng Ông – một tài thơ lỗi lạc của dân tộc VN !

                                                     X

 TTTB@ No99 giới thiệu  Hoa với rượu khổ 17-18 với các 
bản dịch Anh, Hán, Pháp và Nga.
Các phần khác như thường lệ.

Kính thỉnh nhã giám.
        – TMCS –   
 
VT-
 
Quý vị vừa qua một cái Tết ngon lành, ra giêng gặp món “Dạo đầu” lê thê này chắc ớn lắm. Ấy cũng chỉ vì TMCS cao hứng quá nhiệt tình muốn trình bày rôm rả, và cung cấp chút gia vị làm “tư liệu” tham khảo hơi quá “dose”. Xin lượng thứ. 
 
Các cháu s/v tình nguyện : Xin cám ơn các cháu sẽ phải đón nhận một bài dịch “có gai”- Có v/đ nan giải xin kịp thời gửi về TMCS.       
                  
HOA VỚI RƯỢU  khổ 17-18
Thơ : Nguyễn Bính
TMCS dịch Anh, Hán
Nguyễn Chân dịch Pháp, Nga
Trịnh Phúc Nguyên dịch Pháp
Phan Hoàng Manh dịch Pháp
HOA VỚI RƯỢU  khổ 17-18
Thơ Nguyễn Bính.
Mơ tưởng vu vơ lòng dối lòng,
Thực ra có phải thế này không .
Chị Nhi đã lấy chồng năm trước,
Nhi đến năm sau lại lấy chồng ?

Ước gì trên bước đường lưu lạc,
Một buổi chiều nào lộng gió mưa,
Gõ cửa nhà ai xin ngủ trọ ,
Giật mình tôi thấy tiếng Nhi thưa .
 
Anh: TMCS
 
I have a fantastic dream to cheat myself
Is it true that Nhi’s sister  has got married ?
Then one year later,  was it Nhi’s marriage…?

In my adventure, I long for seeing Nhi…
One evening, when it’s windy and rainy 
I knock the door of someone’s house
To ask for spending a night
Nhi answering voice surprise me…
 
Hán – Phiên âm và dịch nghĩa: TMCS.
 
Huyền ảo mộng trung, tự huyễn hoặc.   Trong mơ ảo, ta tự dối mình.
Thực trung thị phủ tự kim vi   Trong thực tế có phải như đang là:
Tiền niên Nhi tỉ hoàn hôn sự    Năm trước chị Nhi xong việc cưới
Nhiên hậu thị Nhi xuất giá thì   Sau đó là năm Nhi đi lấy chồng.

Hi vọng tại phiêu lưu lộ thương        Mong ước trên đường phiêu lưu  
Phong xuy vũ giáng nhất hoàng hôn Một chiều gió thổi mưa rơi
Xao môn tá túc ư cầu khẩn                 Gõ cửa xin ngủ nhờ
Hách liễu ngã văn Nhi đáp ngôn      Tôi giật mình nghe lời Nhi đáp.
 
Chữ Hán: TMCS
 
玄幻夢中自
實中是否似今為  
前年兒姊完婚事
然後是兒出嫁時
 
希望在漂流路上
風吹雨降一黃昏
敲門借宿於求懇
嚇了我聞兒答言
Pháp: Nguyễn Chân
 
Un rêve frivole! Je pactise moi même
Est c’est vraiment çà? Est c’est que je me trompe?
Ta sœur s’est-elle mariée l’anné passée
Et l’année suivante, ce serait ta fois?
 
Je supposerais que sur le chemin d’aventure
Dans une soirée pleine d’intempéries
Je frapperais à une porte pour passer la nuit
Et sursauterais en entendant la voix de Nhi
 
Nga: Nguyễn Chân
 
Предуюсь пустым мечтам, лгу сам себя
На самом деле, если это правильно ли, что
Твоя cecтра вышла за муж в прошлом году
На следующий год настал твой очеред?
 
.Предпологаясь на скитающом пути
В коем-то вечере полной непогодой
Постучав в дверь кого-то чтоб ночевать
Вздрогнул услышав голос оивета от Ньи
 
Pháp: Trịnh Phúc Nguyên
 
Mélancoliquement,je rêve dans mon coeur.
En réalité,serait-ce t’il comme ainsi,
La soeur de Nhi s’est mariée l’an précédent
Et Nhi,à son  tour,s’est mariée l’an suivant?

Je rêve qu’au cours de ma vie d’aventure,
Un certain soir de vent et de pluie abondante,
Je frappe à  la porte,priant de m’héberger,
Je sursaute en entendant la voix de Nhi!
           
Pháp: Phan Hoàng Mạnh
 
C’éait un rêve vraiment en l’air où l’on se mentait à 
                                                                    soi-même.
En réalité, se serait-ce produit comme ceci?:
La soeur de Nhi s’était mariée l’an passé,
Et l’année d’après, ce serait le tour de Nhi de partir en
                                                                 mariage.

J’espèrerais qu’un certain jour, sur mes trajets 
                                                                   d’aventure,
Dans un certain soir plein de vent et de pluie,
Je frapperais à une porte pour demander logis
Et sursauterais quand j’entendrais la voix de Nhi.
 

 

PHỤ TRƯƠNG TTTB@ No99
                 TMCS

TRUYỆN DÍ DỎM

THE CONTAINER AND THE CONTENT
(Gleaned and narrated by TMCS)

One day, a journalist asked Sir Ajahn Brahm – a very famous eminent bonze being the Abbot of Bodhinyana in Western Australia- : 
“What would you do, if some one took a Buddhist Holy book and flushed it down your toilet ?”
Without hesitation, Sir Ajahn Brahm answered:
“Sir, if some one did so, the first thing I would do is to call a plumber”.
When the journalist finished laughing, Sir Ajahn Brahm  explained that someone may blow up many statues of the Buddha, burn down Buddhist temples or kill Buddhist monks and nuns, but I ‘ll never allow them to destroy Buddhism
We can print more books, build more temples an statues, and even train more monks and nuns, but when we loss our love and respect for others and ourselves and replace it with violence, then the whole religion has gone down toilet.

This is the difference between the container and the contents, then we ‘ll preserve the contents  even when the container is being destroyed. 

TMCS’s comment:

Everywhere in the world,
This true believer’s few words
Dispel all mists of ignorance. 

VỎ CHỨA VÀ NỘI DUNG
(TMCS lượm lặt và kể lại)

Một hôm, một phóng viên hỏi Ngài Ajahn Brahm- một vị cao tăng rất nổi tiếng, Viện trưởng Tu Viện Phật giáo Bodhinyana ở miền Tây Australia:
“Thưa Ngài, nếu ai đó cầm một cuốn kinh Phật liệng nó vào bồn cầu thì liệu Ngài sẽ làm gì?”.
Không chút do dự, Ngài Ajahn Brahm trả lời:
“Thưa Ngài, nếu có ai làm vậy thì việc đầu tiên tôi làm là gọi thợ đường ống bồn cầu”.
Khi người phóng viên cười xong, Ngài Ajahn Brahn giải thích rằng có thể có ai đó  đập phá các pho tượng Phật, thiêu cháy các chùa chiền, hoặc tàn sát các tăng  ni, nhưng tôi sẽ không bao giờ để cho họ huỷ diệt đạo Phật.
Chúng ta có thể in thêm nhiều kinh , xây thêm nhiều chùa, tạc thêm nhiều tượng, đào tạo thêm nhiều tăng ni, nhưng một khi chúng ta để mất tình yêu, sự kính trọng người khác và lòng tự trọng mình thì bản thân toàn bộ tôn giáo của chúng ta sẽ tự đi xuống bồn cầu.

Đó là điều khác biệt giữa vỏ chứa và nội dung, chúng ta phải giữ lấy nội dung ngay cả trong khi vỏ chứa đang bị huỷ hoại.

TMCS bình:

Mấy lời của vị chân tu
Đã xua tan hết mây mù nhân gian.


ĐỐ VUI (TMCS)

Kì trước:

Qu’elle est le fruit préféré des militaires?

Rép.:  La grenade

Kì này:

On m’entend mais on ne me voit pas.



ẢNH  VÀ VÈ HOA SEN:  (TMCS)

VÈ HOA SEN (Lảy ca dao)

Trong bồn gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Sen ơi! sen đẹp ngỡ ngàng,                           
Sen yêu đời lắm , đời càng yêu sen!
                                                    TMCS

ẢNH HOA SEN TRONG BỒN: TMCS chụp.
 
                                                  Inline image
Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

DẠO ĐẦU TTTB@ no98 (407)

Bl(407) Hoa với rượu 

DẠO ĐÀU TTTB@ No98

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

DẠO ĐẦU TTTB@ No97

Bl(4o6)TTTB@No97

DẠO ĐẦU TTTB@ No97

TMCS

THƯ GIÃN
                                               Inline image
QUÊ HƯƠNG là chùm khế ngọt…(thơ Đỗ Trung Quân).

                                                     X

…Trong hoàn cảnh TMCS đang sống ở nơi xa xôi, QUÊ HƯƠNG là tất cả những gì gợi lên hình ảnh và hương vị VN : khóm tre bụi chuối đầu nhà- bồn sen cây mận góc vườn- cây đại nhành hồng, hiên trước – rặng  lê, giò lan. mái sau- chậu quỳnh, cụm ớt- gần cổng… từ lá cây ngọn cỏ cho đến  hòn sỏi viên cuội… rải rác trên đường đi lối lại quanh vườn… dù dưới trăng đêm dịu dàng hay trong nắng chiều gay gắt,  tất thảy đều là QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM YÊU DẤU cả….

…Với TMCS, QUÊ HƯƠNG đặc biệt gắn với BỮA TỐI của  gia đình vì cả ngày con cháu bận đi làm, đi học . Tất cả mọi thành viên gia đình, vào ban ngày đều phải “ăn và nói”, “ứng và xử” theo cung cách nước ngoài để “hội nhập” và “tồn tại” được ở đất nước xứ xở tổ chức theo kiểu Hợp chúng quốc đa sắc tộc, đa văn hoá này, chỉ có buổi tối quây quần quanh bữa cơm  có món ăn VN và nghe – nói tiếng mẹ đẻ với nhau, lúc đó từng thành viên  mới ý thức rõ rệt mình đang “về” với quê hương, đất Mẹ …

Nói tóm lại ở đây, lái xe hoặc bước chân ra khỏi cổng – coi như “xuất ngoại”, lái xe hoặc bước chân vào qua cổng  – coi như về NƯỚC  – chứ không chỉ là về NHÀ !

 Bởi vậy, bữa ăn tối và các món ăn gia đình  có ý nghĩa rất đặc biệt:
 
Đĩa rau muống xào độn thịt bò với tỏi,ớt , vắt thêm tí chanh (độn thịt bò để tiết kiệm vì tiền rau đắt  hơn tiền thịt, thêm tỏi và ớt, chanh cho đủ vị quê nhà). Cá kho giềng đến mềm cả xương, đậu phụ rán rắc tí  hành mỡ thơm lừng, muối vừng-lạc rang đậm và bùi, cà pháo muối ròn và ngon, canh rau đay mướp ngọt và mát, nước mắm xì dầu, quả bầu, quả bí    v.v… không thể thiếu trong menu các bữa  tối của gia đình TMCS, dù chúng rất đắt so với các thực phẩm sở tại.. Tất nhiên vì thế ở bên này, TMCS phải kết hợp thêm cả bơ, sữa, bánh mì, thịt, cá, pa-tê, xúc-xích…thực phẩm địa phương cho hợp với khả năng kinh tế gia đình…nhưng vẫn không quên kì cạch làm món bún riêu, bún chả, bún thang, bún mọc, đi chợ mua xương, bánh phở để hì hục làm phở bò, phở gà…cho con cháu hàng tuần  được …về QUÊ HƯƠNG bản quán ! Cách thức chế biến…TMCS cứ bác Gu Vn (Google) mà hỏi. Đặc biệt về nước phở, bác ấy hướng dẫn rất chu đáp, vả chăng xương bên này họ lọc dối, quanh khúc xương có đến >50 % trọng lượng là thịt. Thời tiết ở đây lạnh, mỡ đóng váng hớt đi hết, nước phở trong và ngọt cực kì, chả cần mì chính, gia vị gì gì hết( củ  hành tây nướng thơm, tí quế hương ,chút thảo quả v.v…cho thêm vào chẳng qua để nồi nước dùng đượm thêm vị phở mà thôi)…TMCS lại “thân chinh” chuẩn bị từ lâu lọ ớt chỉ thiên nhà trồng ngâm với măng tươi trong lọ dấm,  măng cay như ớt tươi, trời se lạnh, xuỵt xoạt  bát phở THA HƯƠNG nóng với chút măng ớt, ngon ơi là ngon, vừa ấm người, vừa ấm lòng… “Măm” vào khoẻ người, tràn trề sinh lực, tha hồ dịch thơ, làm vườn không thấy mệt… mà không lo “tăng trọng” ngoài ý muốn, vẫn “bảo tồn” được mấy cái múi cơ bụng, không uổng công phu tập tành, làm lụng chân tay… liên tục từ hồi còn rất trẻ…
 
Lại bỗng dưng, chợt nhớ đến có lần TMCS hỏi bác Nguyễn Tuân: bác viết về Phở, về Rau muống  hay thế, được ‘thượng cấp” của bác “savonner” (Xát xá phòng: “cạo”,  mắng mỏ…)  mấy trận, thế bác có biết chế biến nấu nướng không? Bác ấy cười khà khà: Tớ chỉ biết tán ” thôi”, vì tớ quan niệm đấy cũng  chính là Văn hoá dân tộc … Ôi! bác không còn đến ngày nay để TMCS hầu bác tất cả các thứ Phở gà, bò, tái , chín, nạm, xào tim gan..cùng các thứ rau muống xào, luộc, nấu canh, chẻ ăn sống…chỉ cần bác dạy cho cách viết được lấy một phần ti tỉ cái vốn của bác…Tiếc rằng thời gian không trôi ngược được… TMCS đã ngộ ra : Văn thơ – bao gồm Thơ dịch- và ẩm thực đều là văn hoá, văn minh cả, phải cố học để vừa biết viết  lách vừa biết đứng bếp mới gọi là SONG TOÀN ! Việc khó, cố mà làm thôi…

Có ông bạn hàng xóm nặng 95 kí-lô tình cờ sang chơi hỏi: TMCS luyện đôi chân đi bộ đều đặn như lính tráng  tập hành quân, lại tập quyền, côn, kiếm, thường xuyên ăn uống tốn kém nhưng đạm bạc vậy liệu có đảm bảo dinh dưỡng không? Xin thưa: TMCS có tham vấn b/s dinh dưỡng và tra mạng in-tờ-nét để đảm  bào đủ số ca-lo-ri cho khối lượng vận động hàng ngày và tránh thừa cân, đề phòng hiện tượng “tiêu” mà không ”hoá” hết đường, mỡ sinh ra đường huyết, mỡ máu v.v…dẫn  đến nguy cơ mắc nhiều thứ bệnh…như quý vị nặng cả trăm kí-lô!
Nói chung bữa ăn của TMCS thiên về thanh đạm và vừa đủ về lượng và chất.
( Xin lạc đề cung cấp quý vị chút thông tin về hiểm hoạ của v/đ thừa trọng lượng cơ thể:
Điển hình là  trường hợp các võ sĩ Sumo Nhật bản : Họ có vị trí cao trong xã hội, được coi như đệ tử của thần linh, bao nhiêu người đẹp, người mẫu, diễn viên, ca sĩ… mơ ước có chồng là  võ sĩ Sumo. Nhưng than ôi ! Nghề nghiệp và danh tiếng đòi hỏi họ phải ăn uống rất kinh khủng, nạp trên 5000 ca-lo-ri/ngày, cân nặng 150 kg, mọi cử động của cơ thể đều rất khó khăn… và bi đát nhất: bốn căn bệnh gồm huyết áp cao, tiểu đường, nhồi máu cơ tim, vỡ mạch máu não đã giết chết họ ở độ tuổi 50 !  trong khi người Nhật đa số đều thọ trên 80 tuổi và nước Nhật có nhiều người trên trăm tuổi nhất thế giới !
 
Câu “Hoạ tòng khẩu xuất” : nhắc ta phải nói năng cẩn thận dể tránh tai hoạ vạ miệng,  bây giờ TMCS thấy cần thêm câu : Hoạ tòng khẩu nhập: răn mình ăn uống thận trọng để tránh bênh tật nhập vào qua khâu ẩm thực...)

Khoái khẩu nhất vẫn là các món dân tộc tự  TMCS “ra tay”  : khoai lang luộc chín, gạn khô nước, để lửa lom dom ít phút, rồi tắt bếp để nguội tanh, om trong nồi cho khoai ứa mật ra. Cũng có khi bỏ khoai vào lò quay thịt để khoảng 200o, thời gian tuỳ kích thước củ khoai…khi chín lấy ra “măm” rất thơm . Tuyệt chiêu là món bánh đa nướng 70 sec trong lò vi sóng. Bánh đa mua về, ở ta thường hay phì phạch quạt lò than rồi nướng. Bên này TMCS “đại lãn” mua bánh đa tráng nước dừa, có rắc vừng… bỏ lò vi sóng (micro-wave) 70-72 sec, nếu chạy xe nhà ra  Little Saigon mua kê về nữa thì chả khác gì ngồi ở quê nhà thưởng thức món quà quê: bánh đa kê rất ròn, ngọt và thơm ! Cũng có nhiều hôm, TMCS “diễn” bài ngô luộc / ngô nướng / ngô rang bơ “nở tung nở toé”, chỉ nhìn đã hấp dẫn cực kì…

Lại còn trà Thái- không phải Thái  lan- mà là trà Tân cương – Thái nguyên ( nổi tiếng trong thành ngữ : chè Thái, gái Tuyên –>Tuyên Quang), cà phê chồn, cà phê Gờ bảy – G7, cà phê Ban- mê… vừa nhâm nhi vừa cảm thấy  chất QUÊ  như đang ngấm vào từng tế bào của cơ thể khiến gân cốt vững vàng, đầu óc minh mẫn  bội phần…

 Đấy, QUÊ HƯƠNG đối với kẻ tha hương đơn giản  là như vậy, mà phong phú cũng là như vậy  ! Đắt  tiền hơn ăn thực phẩm địa phương  của ông tây bà đầm, nhưng rẻ hơn mua vé máy bay khứ hồi về VN…

Thương thay thi sĩ Tàu nức tiếng – Lí Bạch , chỉ biết: Gục (cúi) đầu nhớ quê cũ như trong bài Tĩnh dạ tứ:

Tĩnh dạ tứ

Nguyên tác: Lý Bạch
 
 
Tranh: LB  với Trăng.(Cử đầu vọng minh nguỵệt…)

 

 



静夜思 

李白 

床前明月光,疑是地上霜。 
举头望明月,低头思故乡。 

Tĩnh dạ tứ 

Sàng tiền minh nguyệt quang, 
Nghi thị địa thượng sương. 
Cử đầu vọng minh nguyệt, 
Đê đầu tư cố hương. 

–Dịch Nghĩa– 

Đầu giường*, ánh trăng rọi sáng, 
Tưởng là sương trên mặt đất 
Ngẩng đầu ngắm trăng sáng 
Cúi đầu nhớ quê cũ 

*Theo  Lương Bạch Tuyền giám đốc  Bảo tàng N bên Tàu thì chữ Sàng là  vật che miệng giếng, chứ không phải là giường. Chuyện này có lẽ chỉ nên nhường người Tàu tranh cãi với nhau, TMCS xin miễn bàn.

TMCS đã vè hoá, rút gọn tứ thơ Lí Bạch như sau:

Trăng soi vằng vặc trước giường
Gục đầu tưởng nhớ quê hương xa vời!
                                                            TMCS

mà không biết “về quê” như cách TMCS ! Ông ấy buồn nhớ cố hương chỉ biết “nhậu” và “làm thơ”, còn TMCS thì “ra vườn” lao động và “vào bếp” nấu nướng để tìm hình bóng và hương vị quê hương ! Còn chút tàn lực nào thì dốc cả vào việc dịch thơ của các danh nhân Việt tung lên mạng mà khoe với năm châu bốn biển…cho thoả chí “tang bồng hồ thỉ nam nhi trái”. Già không có điều kiện “tang bồng” nữa thì nhờ câu thơ dịch “tang bồng” hộ ! ( Cũng có ý kiến: đúng ra phải nói là Tang hồ bồng thỉ mới đúng, xin để có dịp khác sẽ quay lại cụm từ này!)

Tư duy và cảm xúc đời Đường và thời “a còng” @ rõ là khác nhau một Giời một Vực !!!
 
Điều thú vị với tuổi U90 là tự mình làm lấy mà thưởng thức, vừa chiêu đãi vừa truyền dạy cho con cháu. Nhiều cụ ngại, thường dựa vào cụ bà hoặc con cháu hoặc Ô-xin,( Ô-xin ở đây : 15 – 20$ / giờ ! bằng một lần cắt tóc nam, không cạo mặt, cạo râu, gội đầu ), nhưng TMCS lại rất thích chơi “sang” (chịu tốn kém và mất thời giờ hơn sài bơ sữa…kiểu tây) được kì cạch rang vừng, rang lạc, rồi ngồi cầm chày giã thình thịch trên cối đá, để nguội cho vào lọ ăn dần, hoặc đem đi picnic. Cơm gạo dẻo thơm, nấu vừa phải không khô, không nhão quá, lấy khăn ươn ướt, tự tay nắm thật nhuyễn, thật mịn đến mức không nhìn thấy rõ những hạt cơm…đem theo làm món ăn trưa chấm vừng lạc ở ven rừng, bên suối hoặc trên sườn núi  cao khi cắm lều dựng trại, rồi chọn cảnh bày giá vẽ vời… thì còn gì thú vị, sảng khoái hơn! Ít nhất, trong những giờ phút đó, cũng lâng lâng thấy mình hao hao vẻ “tiên phong, đạo cốt” pha chút nghệ sĩ “tòng tọc” trong nhà của bà xã và các con các cháu…

Ngoài ra muối cà, muối dưa, muối kiệu, muối trứng, gói bánh chưng Tết…. cũng đã là những hoạt động xa quê không thể thiếu trong gia đình TMCS

Xin mời quý vị thưởng thức ảnh “Đôi củ khoai lang” do chính tay TMCS đi chợ, luộc, om , bày lên đĩa  và…chụp ảnh ! Mật nó ứa ra bóng nhẫy, ôi… mề lí… mê li… như hồi trực tiếp nghe ca sĩ Ánh Tuyết hát Thiên Thai của Văn Cao !!!
( TMCS chả được học bài chụp ảnh nào, cứ “chớp” như cung cách của một hoạ “sãi’ nghiệp dư tay chiêu thôi, quý vị cố châm chước, hạ cố mà xem- 
Cái ảnh minh hoạ bài thơ Lí Bạch với Trăng cũng “tái” xử lí cọc cạch một giuộc kiểu “hoạ sãi” tay chiêu đấy !

Toà báo “độc đinh” không có nhân viên chuyên trách tranh ảnh thì TMCS kiêm “tạm” lâu dài vậy- còn hơn từ đầu đến cuối  bài viết chỉ chi chít toàn chữ là chữ làm nhức mắt độc giả, ảnh “ xí một tí” còn hơn không !).

Ngoài món ảnh “ba bị”, còn món vè “chín quai”, quý vị chịu khó đọc thư giãn xen kẽ vào chuỗi văn xuôi “dây cả dây muống” lê thê tưởng chừng không bao giờ rứt của TMCS  cho đỡ ngán ngẩm và mệt mỏi !

                   Tuổi già còn thú gì hơn
         Tự tay chuẩn bị món ngon cho mình.
               Non non, nước nước, tình tình
      Thanh nhàn, mạnh khoẻ nên mình vui tươi.
               Chắc xưa mình ở trên Giời,
        Giáng trần sống kiếp nửa Người nửa Tiên.
               Nên chi thân phận dân đen,
       Mà bao Vua Chúa phát ghen với mình !
                               
                                                                  TMCS


TRỞ LẠI TÌNH NGUYỄN BÍNH – TÚ UYÊN.

Kì trước TMCS đã nhắc nhiều đến tiếng rền rĩ khóc phấn than son của NB, và hôm nay chợt liên tưởng đến mấy câu thơ sau trong Bài ca  xuân 61 của bác Lành (T. H) :

Trải qua một cuộc bể dâu 
Câu thơ còn đọng nỗi đau chân tình 
Nổi chìm kiếp sống lênh đênh 
Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều. 
                                                        T.H

TMCS đã lảy thành:

Trải qua một cuộc bể dâu
Câu thơ Nguyễn Bính, nỗi đau tận cùng,
Trang thơ suối lệ tuôn ròng
Tố Uyên, Nàng  đẫm ướt dòng lệ ai !
                                                     TMCS

NB có nhiều mối tình buồn , nhưng so với những cuộc yêu đơn phương thì tình với Tú Uyên là tình đẫm nước mắt nhất. Vì sao ư ?

Đơn giản là NB đã được đền đáp từ Nàng Tú  Uyên một tình yêu nồng thắm đến tận cùng, xin hãy đọc trong Nguyện cầu của NB :

Hắn đã yêu con đến tận cùng
Thế mà tròn thủy chẳng tròn chung
Hôm qua hắn bước lên xe cưới
Khóc lả người đi Chúa biết không ?
                        (Nguyện Cầu)     NB
 
Trong cuộc sống hôn nhân, cứ theo như Nguyễn Bính, Tú Uyên khổ lắm vì suốt sẽ đời phải chung sống với người mà nàng chẳng yêu thương! Và Nguyễn Bính cũng thương cho số phận hẩm hiu, chua xót của người mình yêu:
 
Hai đứa hai nơi khóc một giờ
Bên chồng mà hắn vẫn bơ vơ
Chúa ơi ! Cứu rỗi linh hồn hắn!
Nước mắt con nhòa hết tập thơ!
                        (Nguyện Cầu)   NB

Trong mối tình với Ngọc Lan lúc 14 tuổi, NB chỉ chao đảo, hẫng hụt vì khi đó nhận thức, cảm thụ về tình yêu của NB vẫn còn quá non nớt…chẳng khác chi thoáng gặp một cơn mưa bóng mây lướt qua tuổi niên thiếu bồng bột, hồn nhiên. Khi yêu Oanh, thì tình  đơn phương của NB cũng chỉ đem lại nỗi buồn thoang thoảng, chưa đến mức xé ruột xé gan…

Cả NB và Tú Uyên đều không phải con chiên của Chúa, tín ngưỡng chung của họ chỉ là YÊU, TÌNH YÊU lứa đôi là  kinh  nhật tụng của họ:

Lạy Chúa con xin Chúa thế thôi
Một giờ yêu quý nhất trên đời
Chúng con ngoại đạo tuy ngoại đạo
Cũng lạy mà tin có Chúa Trời !
                        (Nguyện Cầu)   NB

Tội nghiệp thay đôi trẻ, họ rơi vào nỗi đau cùng cực, họ xin Chúa điều gi? – Bên nhau, ôi, đau đớn thay ! Chẳng phải một đời mà chỉ dám xin Chúa “Một giờ yêu quý nhất trên đời” ! người ngoại cuộc chỉ có quả tim hoá đá mới không cảm thấy bùi ngùi chua xót !
 
Lại một lần nữa, Nguyễn Bính cố quên đi mối tình tuyệt vọng nhưng mà làm sao quên được :
 
Đêm nay ngồi khóc trong trăng lạnh
Trăng đắm chìm đi, gió thở dài
Tôi nhớ đến người – ôi diệu vợi
Ở lầu hoa ấy trong rừng mai
.   .   .   .   .   .
 
Tôi tưởng rồi tôi quên được người
Nhưng mà nản lắm, Tú Uyên ơi !
Tôi vào sâu quá và xa quá,
Đường lụt sương mờ lụt lá rơi . . .
                        (Diệu Vợi)  NB

…Nếu TMCS tiếp tục dẫn quý vị theo rõi  cuộc tình NB-Tú Uyên đến cùng, e  vẫn chỉ thấy nước mắt lã chã của thi nhân đa tình, thêm phần  “bi lụỵ”, dù là tác giả rất thực tâm chứ không hề gượng gạo……Theo TMCS mọi chuyện đều nên có điểm dừng…Cũng giống như hầu chuyện quý vị về tình Ngọc Lan, tình nàng Oanh của NB – cuộc tình NB-TU cũng vậy, tiếp tục mãi một điệu monotone e sẽ nhạt phèo khiến quý vị buồn ngủ, không đọc tiếp nổi. TMCS xin ngừng “dăm câu ba điều” về cuộc tình này để “bốn câu ba vần” mà “tứ tuyệt” rằng :

Mọi chuỵện đều nên có điểm rơi,
Cuộc tình Uyên-Bính đến đây thôi.
Sau này, còn kể chi chi nữa…
Xin hẹn cùng nhau đến hạ hồi…
                                                   TMCS

                                                           X

Có một vài bạn đọc phản hồi nhận định rằng : NB chỉ “hay” về chuỵện tình riêng tư, nhất là chuyện thất tình lại thường của chính mình..

Vâng, TMCS cũng thấy:
 
Rằng hay thì thật là hay
Xem xong ngậm đắng nuốt cay cho người
 
Nhưng không hẳn là NB  CHỈ hay về thơ TÌNH BUỒN. Khách quan mà nói: Thơ Tình buồn của NB không phải bài nào cũng hay. mà là nhiều bài hay. Nhìn rộng thêm thi thơ NB “phi tình buồn” có nhiều bài hay hơn cả thơ TÌNH BUỒN…Đơn cử một đoạn trong bài Anh về thôn cũ:
… …
Thôn Vân có biếc có hồng
Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều
Ðê cao có đất thả diều
Trời cao lắm lắm có nhiều chim bay
Quả lành nặng trĩu từng cây
Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen
Hiu hiu gió quạt trăng đèn
Với dăm trẻ nhỏ thả thuyền ta chơi
Ăn gỏi cá, đánh cờ người
Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân

…. …
Và xin thưa tiếp, nói chung trong nhiều bộ môn nghệ thuật, tình yêu nam nữ chiếm một tỷ lệ khá lớn, trong đó mảng chuyện thất tình thường hấp dẫn hơn cả. Trong thơ ca, văn xuôi, truyện ngắn, truyện dài, kịch nói, tuồng chèo, phim xi-nê …đều vậy.
 
NB viết nhiều chủ đề, chủ đề nào cũng hay: về quê hương có bài mô tả thôn Vân, về làng quê, về sinh hoạt nông thôn, về những con người nông dân bình dị đều có những bài tiêu biểu…tất cả đều thể hiện bằng giọng điệu và cốt cách NB rất độc đáo. Kể cả những bài chung chung như Ghen, Cô hái mơ, Hai lòng, Mùa Xuân xanh…vẫn sáng ngời tình yêu con Người và đất nước VN của NB. 

Cuối 1945, khi kháng chiến Nam bộ bùng phát, hưởng ứng lời kêu gọi chống thực dân Pháp nấp sau quân Anh nhân danh đống minh vào tước khí giới phát xít Nhật bại trận trong Thế chiến II, âm mưu cướp nước ta lần nữa, NB đã có mặt Nam tiến. Rất nhiều lần, kẻ địch kêu gọi đích danh tác giả Lỡ bước sang Ngang,  Người con gái ở lầu hoa… về hợp tác với bọn phản dân, bán nước, NB vẫn một lòng  theo đuổi sự nghiệp KC cứu nước. 
Bài  Tiểu đoàn ba lẻ bảy, bản hùng thi của Nguyễn Bính được nhạc sĩ Nguyễn Hữu trí phổ nhạc đã vang dội khắp Nam bộ, rồi  lan  ra cả  nước thành một  khúc tráng ca của dân tộc VN, là một biểu hiện sinh động của tình yêu tổ quốc của nhà Thơ, đúng là như trong lời thơ Nhật kí trong tù : Nhà Thơ cũng phải biết xung phong ! NB đã xung phong đúng lúc…
  
Xin nêu vài dẫn chứng điển hình về tính đa dạng và mũi nhọn nổi bật của một vài vài cây bút lừng lẫy của nhân loại :

William Shakespeare vĩ đại đã viết 40 vở kịch, 154 bản sonnet, trong kho tàng tác phẩm đồ sộ ấy cả kịch và thơ của W.S bao gồm nhiều đề tài : lịch sử, tình yêu, tâm lí, xã hội( King Lear, Macbeth, Hamlet…) nhưng nổi bật và hấp dẫn nhất vẫn là mảng bi kịch yêu đương ! (Ô-te-lô ( Othello), Rô-mê-o và Giu-li-et ( Romeo and Juliet), …

Александр Сергеевич Пушкин nổi tiếng cả về thơ và truyện ngắn.
Về thơ thì ai cũng biết, Pushkin  được mệnh danh là Mặt trời thi ca của nước Nga , thơ tình của Pushkin từ khi ra mắt đã chinh phục người đọc cả thế giới bao thế kỉ nay, cũng nhờ những bài thơ chìm đắm trong các đêm dài tương tư và những éo le, đau khổ, thơ mộng, si cuồng… liên miên trong chốn tình trường… 
Các truyện ngắn của Pushkin được dịch ra nhiều ngôn ngữ nước ngoài rất đặc sắc như Cô tiểu thư nông dân ( Барышня-крестьянка), Bão tuyết ( Метель), Con đầm pích ( Пиковая дама), Phát súng (Выстрел)…hỏi mấy chuyện không liên quan đến quan hệ yêu đương nam nữ…dù li kì, éo le hay “có hậu” cũng cứ phải dính dáng đến chuyện lứa đôi thì mới hấp dẫn độc giả…

Bởi vậy, với cách nhìn riêng của TMCS, mảng thơ tình và thất tình trong thơ NB trở nên hấp dẫn nhất cũng không có chi đáng lạ lẫm cả. Ta không nên vì thế mà phủ nhận giá trị nghệ thuật thơ NB ở các mảng khác và những đóng góp đầy ắp sáng tạo quan trọng của ông cho nghệ thuật Thi ca VN đặc biệt ở mảng phong cách dân gian, chân quê , theo giọng điệu hình tượng ngàn đời vạn kiếp của đồng áng, làng quê, thôn xóm thuần tuý VN…Đó là những thoi vàng ròng cực kì tinh khiết trong thơ Việt thế kỉ XX…

Còn chuyện đưa vào chương trình giảng dạy Văn học VN ở các lớp học, các chương trình phổ thông và ĐH từng phải né tránh trong thời chiến mảng thơ  tình NB cũng như các tác phẩm CPN và Cung oán ngâm khúc chỉ lựa vài trích đoạn thích hợp… cũng là điều dễ hiểu. Đến nay hoàn cảnh đã thay đổi, chúng ta nên có sự điều chỉnh hợp lí cũng là việc cần làm.

Có một số ý kiến phê phán  NB: trong khi  nước ta còn là thuộc địa của Pháp, dân tộc ta đang lầm than nô lệ, nhà thơ không thúc dục nhân dân vùng lên giành lại độc lập , tự do… mà lại than khóc trong tình yêu nam nữ… là đắc tội với non sông v.v…Lời phê phán nghiêm khắc này tuy  đúng và có lý, nhưng tình yêu vẫn là chuyện muôn thuở ! Ta cần có độ lượng và liều lượng trong khi lên án nhà thơ và tác phẩm…

Hãy nhin vào lịch sử nhân loại, đã bao nhiêu cuộc binh đao khói lửa, con người không những phải đấu tranh ác liệt với thiên nhiên, dã thú mà chính ngay với đồng loại…nhiều chiến binh đã anh dũng ngã xuống trong các cuộc đấu tranh , nhưng tình yêu thì vẫn muôn đời tiếp diễn, vô số chiến binh đã ngã xuống như những người anh hùng trong khúc hát chiến đấu xen kẽ những bản tình ca… 
Với Nguyễn Bính , chúng ta cũng nên có cái nhìn thông thoáng hơn. Ông là một trong những nhà thơ xuất sắc của VN trong thế kỉ 20 với những bài thơ tình vào loại hay nhất thế kỉ của thi đàn VN ! không một cá nhân hay tổ chức quyền lực nào phủ nhận điều này được !!!

Dân tộc ta đã có cả ngàn năm Bắc thuộc, trăm năm Pháp thuộc, Chiến ca và Tình ca luôn luôn tồn tại song song…Nếu không có tình yêu lứa đôi có nghĩa là chúng ta đã tự huỷ diệt mình…trước khi bị kẻ chiếm đóng  “diệt chủng”, mà tình yêu lứa đôi thì không bao giờ tách khỏi Thơ tình và Tình ca. Bởi vậy, chớ có quá nặng lời, độc đoán phê phán thơ Tình nói chung và Thơ tình NB nói riêng…

Từng sống nhiều năm tháng như một kiếp “mọt sách”, quá tin tưởng vào nhiều “nhà” lừng lẫy tiếng tăm đưa ra những ý kiến như đuốc soi đường cho nhận định của bàn dân thiên hạ về văn chương, thơ phú, nhưng dần dần qua trải nghiệm thực tiến, TMCS nhận ra rằng trong nhiều “nhà” đó cũng có không ít người trong phút giây “bồng bột” đã sai lệch và thiếu trung thực với một số trường hợp- trong đó có ít nhiều liên quan đến NB.

TMCS đã đọc khá nhiều  những dòng không hay ho gì của những “nhà” có tên tuổi viết về NB. Chỉ xin nêu hai điển hình:

Nữ “sĩ” A.T-  (chả biết riêng về đoạn này có nên dùng từ ‘SĨ’ với ý nghĩa đẹp đẽ dành cho một người được gọi là nhà Thơ )- trong  “Viết từ sông Thương” đã bôi bác hình ảnh NB trái ngược hoàn toàn với những gì mà nhiều nhân chứng thời đại từng biết đến. Bà nữ “sĩ”  kể lại cuộc trốn nhà đi gặp NB ở bờ sông Thương (Bắc giang) nguyên văn như sau:
 
“Tôi nhớ lại cảnh Kim Trọng “lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng” gặp Thúy Kiều… Chàng là một thi sĩ thủ đô, hẳn là hết sức trang nhã, biết mọi kiểu cách lịch sự để quý yêu tôi… Bỗng từ quán nước đầu cầu sông Thương, một anh chàng thân hình lùn ngắn, cái đầu hơi to, sù lên những tóc, tay vất vội chiếc điếu cày đang hút dở, xông lại trước mắt tôi, nhe hai hàm răng đen cáu nhựa thuốc, cười sát mặt tôi…”

Trong cuốn hồi kí đó, bà “sĩ” này cố tình bày tỏ sự” ghê tởm” hình ảnh “cố nhân” và quên đi nụ hôn bà đã trao và để lại dấu vết cả tuần lễ trên má chàng thi sĩ NB đa tình…Toàn một giọng văn miệt thị  coi thường dành cho chính người trong mơ một thuở của bà !
 
Xưa bác Lành viết:
 
Tình ôi gian dối là tình,
Thuyền em rách nát, có lành được không?
                                                                 T.H
 
Nay, TMCS xin phép bác lảy rằng:
 
Tình ơi, gian dối là tình,
Vàng son một thuở sao đành bôi đen !
                                                             TMCS

Nhân vật điển hình thứ hai còn có phần “hiểm” hơn  : Đó là “đại” thi “sĩ” 😄 . Trong cao trào đấu tranh với  nhóm NVGP, 😄  đã có những lời lẽ phê phán nặng nề ” quá liều” về quan điểm, lập trường của một số Văn nghệ sĩ , trong đó có NB , Văn Cao…Sau này , trong Cát bụi  chân ai và Chiều chiều, chính Tô Hoài- người đã được phân công một số việc liên quan đến vụ Trăm hoa đã viết: Trăm hoa chả có v/đ lớn lao đến vậy…

Thú thực sau khi đọc những “thông tin” trên, TMCS cũng bất ngờ và dường như mối thiện cảm với hai nhà “sĩ” kia đã phôi pha khá nhiều…Từ đó, TMCS có sự thông cảm nhất định với những “nạn nhân” kiểu NBính, VCao, PQuán, LĐạt…

Song lịch sử mới thực sự là vị Chánh án tối cao, một vài luận điệu xuyên tạc  đã bị coi tương tự như những lời “tố điêu”, ” có ít xít ra nhiều” trong CCRĐ và bị rơi vào quên lãng. Năm 2000, NB được GT HCM văn học nghệ thuật.

Nguyễn Bính sau “sự cố” đó trở thành nhân vật được dân chúng càng hết mực yêu thương quý trọng. TMCS xin nhắc lại chỉ bằng một chuyện có thật 100% và có cả ảnh chụp nhân vật là đủ minh chứng rõ ràng NHÂN TÂM hướng về đâu. Mời chư độc giả cùng xem xét , thẩm định:

“Cuối năm, nhằm ngày tận cùng của tháng áp tết, Nguyễn Bính mất đột ngột. Vì điều kiện chiến tranh, phương tiện thông tin còn sơ sài, không phải ai quen biết Nguyễn Bính cũng biết ngay chuyện buồn này. Khoảng hai tháng sau, nhà văn Chu Văn đi đò qua sông Châu. Cô Thoa – Trần thị Thoa- vẫn gò lưng mải miết chèo đò đưa khách qua sông. Bến đò Châu này nguyên là bến ở Đức Bản nội, thuộc xã Nhân nghĩa , huỵện Lí Nhân, tỉnh Hà nam., xưa gọi là bến Ông Ố, người lập ra bến đò, đóng  thuyền gỗ chở khách qua sông. Trần thị Thoa là cháu nội cụ Ố.
 
Nhà văn Chu Văn hỏi  cô Thoa:

– Cháu biết tin gì về bác Nguyễn Bính chưa?

Thoa tròn mắt có vẻ ngỡ ngàng, hỏi lại:

– Bác ấy làm sao, hay là bác ấy bị ốm?

– Không, bác ấy ra đi đột ngột vào tối ba mươi tết vừa rồi, cháu ạ – Chu Văn nói.

Thoa buông mái chèo. Tay chân rụng rời. Con đò xoay ngang. Một tiếng nấc nghẹn. Lát sau Thoa mới tỉnh táo trở lại cầm chèo. Cô nói, giọng khàn đặc, như uống phải nước mắt:

  • Giá chết thay được thì cháu xin chết thay để bác ấy được sống… còn làm thơ…”

 Sau khi đọc đoạn viết trên, TMCS đã ngửa mặt lên trời, vỗ trán mà rằng :

“ ÔI ! Ông Giời có mắt, và người Dân thường cũng có  mắt…”
 
Với kiến thức nông cạn, nghèo nàn của mìnhquả thật từ thời NB, TMCS hiếm thấy có nhà thơ nào ở VN trước sau mãi mãi được tầng lớp thường dân một lòng một dạ yêu mến, quý trọng đến nhường ấy,có phần sâu nặng không kém ruột thịt ! 
TMCS bỗng nhớ đến cái tích một người “nghiện” thơ Tản Đà khi nghe đồn thất thiệt về việc ra đi của TĐ, đã làm thơ khóc ông. Tẩn Đà đọc được đã vui vẻ, trìu mến đáp lại :
 
Nực cười cho bác Mai Lâm
Thương nhau chi lắm mà  lầm khóc nhau…
 
Còn NB  qua đời thì có sự tích còn lưu truyền đến nay về cô lái đò Trần thị Thoa thương tiếc Nguyễn Bính với câu nói “Giá mà chết thay được….”.  Cái tích này, so với các điển cố  bên Tàu, theo TMCS đáng đưa hơn nhiều vào giáo trình môn Văn ngay từ bậc phổ thông khi giảng cho các em học sinh về thơ Nguyễn Bính và NB trong lòng người đọc… để khích lệ lòng tự hào, tự tôn dân tộc về bước phát triển của Văn Thơ Việt.  Cứ IM THIN THÍT NHƯ THỊT NẤU ĐÔNG (chả biết là VÔ TÌNH  hay HỮU Ý) để cái tích này  chìm nghỉm vào lãng quên, ta mất đi một bài HỌC HAY VỀ TÌNH NGƯỜI – TÌNH THƠ trong nền văn học Việt. TMCS đồ chừng có thể “họ” sợ làm thế thì a/h và lấn át cái “oai tín” cá biệt của “thần tượng” nào đó trên Thi đàn VN chăng? Theo rõi thời cuộc chỉ thấy các ” nhà” GD toàn bàn chuyện Trời , chuyện Biển về cải cách GD với kinh phí hàng chục nghìn tỉ đồng cho SGK, mà môn Văn thì chả bao giờ đả động đến những sự tích CAO ĐẸP như cô Thoa- NB !  Đáng BUỒN và đáng LO thay ! 
 
 NB từng viết:
 
Con ơi đừng lấy chồng thi sĩ,
Nghèo lắm con ơi, bạc lắm con !
                                              NB.
 
Cả dân tộc Việt cùng nhân dân thế giới yêu mến VN và thơ Việt, vẫn yêu quý NB mãi mãi, chấp làm gì dúm người “bạc” với ông, đã có luật “nhân  quả” và “toà án Lương tâm ” xử lí chuyện này ! 
 
(Chỉ với mấy trang TTTB@ “tép riu” này, trong thời gian hết sức ngắn ngủi, TMCS đã nhận hàng trăm phản hồi từ khắp nơi trong ngoài nước – nhất là các bạn đọc nước ngoài  và VN hải ngoại, bày tỏ TÌNH CẢM HẾT SƯC NỒNG NHIỆT với NB, và TMCS rất cảm kích, thấy mình  lâng lâng như được thơm lây cái DANH THƠM BÌNH DỊ của NB ! chỉ hận mình viết còn kém cỏi chưa nêu  hết được nhiều điều ấp ủ trong lòng...)

Mẩu chuyện về  cô lái đò Trần thị Thoa trên sông Châu là ngẫu nhiên chăng?

Chắc chắn là không! Có lí và có TÌNH, có TÌNH và có Lí cả đấy !!!

Đâu chỉ có cô Thoa, còn bác thợ cạo tên Bình, còn nhà n/c Trần Lê văn, còn cả người lặn lội xin một chữ kí của tác giả NB  được cả bài thơ “Vũng nước” mà TMCS đã kể hầu quý vị…Còn nhiều lắm lắm…

NB đâu chỉ yêu say đắm người yêu của riêng mình, ông yêu tất cả mọi người, và ông đã nhận lại tình yêu sâu nặng của tất cả…Có thể chưa có tượng đài, đường phố … mang tên NB (hoặc có “chiếu lệ” ở nơi heo hút nào đó ít ai biết), nhưng trong lòng quảng đại dân chúng đã có hình tượng ông! Nhiều người sẽ nhớ mãi ông từ thế hệ nay sang thế hệ khác, có một ngày bến đò sông Châu sẽ mặc nhiên mang tên bến đò Nguyễn Bính mà chả cần cấp nào phê duyệt !!! nếu nó được thay bằng một cây cầu, thì cháu chắt , chút chít của cô Thoa ngày nào có thể sẽ gọi nó là cầu Nguyễn Bính.
 
Lịch sừ vốn công bằng và khách quan, V/đ chỉ là thời gian !!! 

Các  NHÀ phê bình văn học, thi ca thừa năng lực viết thiên kinh vạn quyển, các tổ chức quyền cao chức trọng dư uy tín ban phát vô số giải thưởng, huân – huy chương cao quý,… tất cả những điều họ nói, việc họ làm cộng lại e chưa khái quát và chính xác bằng câu nói từ đáy lòng của những người như cô THOA – cô lái đò trên sông Châu.”
 

Mời quý vị xem ảnh Trần thị Thoa, cô lái đò nhiều lần đưa NB qua sông- người đã nói với nhà văn Chu Văn :” Giá mà chết thay được…” 

Bà Trần Thị Thoa,  – “cô lái đò sông Châu” năm 1965 – 1966.
TMCS được biết, cô Thoa đã nhiều lần chở đò “miễn phí” đưa NB qua khúc sông này và đã từng tâm sự với NB : Cháu có người yêu đi chiến trường đã 5 năm nay, chả có tin tức về, nhưng cháu vẫn chờ…chứ  không “bỏ thuyền bỏ lái bỏ dòng sông” như Có lái đò trong thơ bác . Rồi cô đọc làu làu bài Cô lái đò của NB. NB lắng nghe cô Thoa đọc thơ mình, lòng  rưng rưng cảm động, và hôm ấy ông đã sáng tác   bài “ Cô lái đò thời nay”, tiếc rằng khi ấy người ta thành kiến và “có lẽ sợ sệt” vu vơ , chả báo nào đăng thơ ông, nên bài thơ đó bị thất truyền.

Với TMCS , Cô lái đò sông Châu là một trong những NHÀ THẨM ĐỊNH GIÁ TRỊ THƠ ĐICH THỰC NHẤT, ĐÁNG TIN CẬY NHẤT. Nền Văn học, thi ca nước nhà trước hết cần những NHÀ có Tâm  như vậy  trước khi nói đến cái tầm lí thuyết phê bình của họ !


TMCS xin khép lại Dạo đầu kì này ở đây. 
Hẹn kí  tới tái ngộ…
                                                            X

TTTB@ No97 sẽ giới thiệu tiếp Hoa với rượu  khổ 13-14 cùng các bản dich Anh, Pháp, Hoa, Nga.
Các phần khác như thường lệ.

Kính thỉnh nhã giám.
            TMCS

 

HOA VỚI RƯỢU  (khổ 13-14)
Thơ Nguyễn Bính
Dịch:
TMCS: Anh, Hán
Nguyễn Chân: Pháp, Nga
Trịnh Phúc Nguyên: Pháp
Phan Hoàng Mạnh: Pháp
Xa lắm rồi Nhi! Muộn lắm rồi,
Bẽ bàng lắm lắm nữa Nhi ơi!
Từ ngày Nhi bỏ nơi làng cũ,
Mộng ngát duyên lành cũng bỏ tôi .

Chắc ở nơi nào dưới mái tranh,
Chị em Nhi vẫn sống yên lành .
Chị Nhi cất rượu cho Nhi bán,
Hồn vẫn trong và mộng vẫn trinh .
 
Anh: TMCS
 
It’s too far and too late, dear Nhi !
Oh, my dear ! How it awkward is for me !
Since Nhi has left our village
Sweet dream and wonderful love also  left me like Nhi.

Somewhere in a cottage, maybe Nhi and her sister
Are leading a peaceful life like in the past.
Nhi sells the liquor distilled by her sister.
Her soul is still pure and her dream is always chaste.
 
Hán- Phiên âm HV , dịch nghĩa: TMCS
 
Thái viễn liễu, Nhi, thái vãn liễu. Xa quá rồi, nhi, xa quá rồi
Hại tu ngã cảm  bội phần tu       Tôi thấy bẽ bàng và,  hổ thẹn thêm nhiều
Tự tùng Nhi biệt cố hương nhật  Từ ngày Nhi từ biệt làng cũ
Biệt ngã lương duyên, kiều mộng từ. Duyên lành, mộng đẹp bỏ tôi đi…

Tại mỗ  nhất phương, ư thảo ốc  Ở một nơi nào đó, trong nhà tranh,
Thiên thiên tỉ muội bình an cư     Ngày ngày chị em sống bình yên
Nhi thư nhưỡng tửu vị Nhi mại  Chị ủ rượu cho Nhi bán
Trinh mộng khiết hồn muội dữ thư Em và chị mộng trinh hồn thuần khiết
 
Chữ Hán: TMCS
 
太遠了兒太晚了
害羞我感倍分羞 
自從兒別故鄉日
別我良緣嬌夢辭
 
在某一方於草屋 
天天姊妹平安居 
兒姐釀酒為兒賣
貞夢潔魂妹與姐
 
Pháp: Nguyễn Chân.
 
C’est déjà trop loin et trop tard, mon aimée Nhi
Et encore très, très honteux. Oh, ma chérie
Depuis que tu quitta notre village
Me délaissent aussi mon agréable rêve er ma chance
 
53.Peut être à un endroit quelconque, sous la paillote
Ta sœur et toi mènent une vie paisible
Ta sœur distille de l’alcool pour tu le vends
Ton âme reste pure et ton  rêve-vierge
 
Nga: Nguyễn Chân
 
Слишком далёко, слишкком поздно уже, Ньи
Очень смущаюсь, aх моя закадычная!
С тех пор, когда ты покинула нашу деревню
Добрая мечта счастливое обаяние
меня бросили также                      
 
53.Может быть, где-нибудь с простой хижиной
Живёте благоприятно ты с сестрой
 Сестра перегоняет водку и ты её продаёшь
Душа твоя отстаётся доброй и мечта-девственной
 
Pháp: Trịnh Phúc Nguyên
 
Ô Nhi!C’est déjà très loin et déjà trop tard,
Ô honte!Je me suis tellement tourmenté!
Depuis que tu as quitté ton ancien village,
Beaux rêves et heureux destin m’ont aussi quitté.

Certes,dans quelqu’endroit,sous un toit de chaume,
Ta soeur et toi vivez encore toujours en paix,
Ta soeur distille de l’alcool que tu vas vendre,
Ton âme est si pure et tes rêves si beaux!
 
 Pháp: Phan Hoàng Mạnh
 
O chère Nhi, c’était déjà bien lointain et aussi bien 
                                                                           tardif,
Avec combien de confusion, ô ma mie!
Depuis que tu avais quitté l’ancien village,
Le rêve d’un bel amour m’avait aussi abandonné.

Peut-être, quelque part sous une certaine chaumière,
Les deux soeurs continuaient à vivre paisiblement.
La soeur préparait de l’alcool que Nhi allait vendre au 
                                                                        marché,
L’âme restait bien limpide et le rêve bien immaculé.
 
 

 
 
 
Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Hoa với rượu (405)

Bl(405) TTTB@ No 96

 

HOA VỚI RƯỢU (khổ 11-12(
Thơ Nguyễn Bính

Dịch:
TMCS : Anh , Hán.
Nguyễn Chân: Pháp Nga
Trịnh Phúc Nguyên: Pháp
Phan Hoàng Mạnh: Pháp

Rượu ái tình kia thành thuốc độc,
Vườn trần theo bướm phấn hương bay .
Đời tôi sa mạc, ôi sa mạc,
Hoa hết thơm rồi rượu hết say .

Trăm sầu nghìn tủi mình tôi chịu,
Ba bốn năm rồi năm sáu năm .
Khóc vụng mỗi lần tôi nhớ lại,
Men nồng gạo nếp nước hoa cam

Anh: TMCS

That liquor of love becomes toxicant
From the garden of this world , that flower fragrance
With the butterflies flies away together.
I seem to be in a desert – a terrible deserted land.
Liquor isn’t fermented and flowers aren’t fragrant !

Only me, I’ve suffered every sorrow and self-pity.
For three and four years, then five and six years.
I’ve cried my heart out when I’ve remembered
The strong fermentation of glutinous rice
And the fragrance of orange flowers.

Hán- Dịch nghĩa, phiên âm HV: TMCS

Luyến ái tửu tình thành độc dược Rượu ái tình thảnh thuốc độc
Trần viên hồ điệp phấn hương phi Hương phấn của bướm vườn trần bay đi
Ngã như hoang mạc, tự hoang mạc Tôi như hoang mạc, tựa hoang mạc
Hoa dĩ tận hương tửu bất mê Hoa hết thơm , rượu chảng mê say…

Bách sầu thiên đỗi tự thân thụ Trăm sầu ngàn tủi tự mình chịu
Tam tứ niên hựu ngũ lục niên Ba bốn năm rồi năm sáu năm
Thâu khấp mỗi kì ngã tưởng niệm Khóc vụng mỗi khi tôi tưởng niệm
Cam hương, nhu mễ diếu hà biên? Hương nước cam, men nếp nay đâu rồi?

Chữ Hán: TMCS

戀愛酒情成毒藥
塵園蝴蝶粉香飛
我如荒漠似荒漠
花已盡香酒不迷

百愁千懟自身受
三四年又五六年
偷泣每期我想念
柑香糯米酵何邊

Pháp : Nguyễn Chân

Mais cet alcool d’amour ait devnu toxique
Le jardin du bas monde suit les papillons, pollen et senteur s’évaporent
Ma vie devienne désert, vrai désert
Les fleurs perdent leur fragrance, les papillons
Cessent de voltiger et l’alcool ne m’enivre plus!

45.Tristesse et humiliation je souffre moi même
Trois, quatre, puis cinq, six ans s’écoulaient
Je pleure en cachette chaque fois que je me remémore
À l’alcool ardent, au riz gluant et à l’eau de la fleur d’orange

Nga: Nguyễn Chân

Эта водка стала уже отравой
Земный сад следил за улетыми бабочкими с пыьцой
Моя жизнь стала пустиной, истинной пустиной
Цветы прекратили пахуть, а водка не пьянит

Печаль и несчастье переношу самому
Два, три года, затем пять, шесть лет протекли
Плачу тайно когда воспоминаю об всём
Крепком ферменте, клейком рисе, воде флёроранжа

Pháp: Trịnh Phúc Nguyên

Cet amour est devenu un poison,
Au jardin terrestre,je poursuis les papillons parfumes,
Ma vie ,hélas,est devenue un vrai desert,
Fleurs non plus parfumées,alcool non plus enivrant!

J’endosse tout seul tant de chagrins et de peines,
Quelques années passées,encore plusieurs passées,
Des fois, pleurant en mon coeur, je me souviens
De l’alcool extrait du riz gluant fermenté,
Et du parfum distillé des fleurs d’oranger.

Pháp: Phan Hoàng Mạnh

Cet alcool de l’amour devenait du poison,
Dans le jardin terrestre, on poursuivait les papillons
avec des senteurs éparpillées.
Ma vie devenait désert, hélas! un vrai désert!
Les fleurs avaient perdu leur arôme et l’alcool – sa
saveur enivrante.

Tout seul, j’avais supporté mille chagrins et confusions.
Avaient passé quelques années et puis d’autres années.
Et discrètement je pleurais chaque fois que je me souvienne
Du ferment capiteux du riz gluant et de l’eau
parfumée des fleurs d’oranger.